PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
• Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển nông thôn là lĩnh vực quan trọng và cấp thiết trong chiến lược phát
triển kinh tế, xã hội và hiện đại hóa đất nước. Trong những năm gần đây cùng với sự
phát triển chung của đất nước, nông thôn đã có sự đổi mới và phát triển đáng kể. Đây
là vấn đề đang được Đảng và Nhà nước rất quan tâm cả về tổng kết lý luận và thực
tiễn. Để phát triển nông thôn đúng hướng, có cơ sở khoa học, hợp logic và đảm bảo
phát triển bền vững thì phải tiến hành quy hoạch phát triển nông thôn, đây là công việc
hết sức quan trọng.
Xây dựng nông thôn mới là một chủ trương lớn của Đảng được đề ra trong
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
triển khai các Nghị quyết của Đảng và Quyết định của Chính phủ, đến nay, sau hơn 3
năm thực hiện chương trình thí điểm xây dựng nông thôn mới, kết quả đạt được ở mỗi
xã khác nhau nhưng đã hình thành mô hình nông thôn mới với sức sản xuất phát triển,
hình thành được các vùng sản xuất hàng hóa, thu nhập của người dân các xã thí điểm
tăng hơn 62%, cơ sở hạ tầng các xã được cải tạo, nâng cấp khá đồng bộ đã làm thay
đổi rõ nét diện mạo nông thôn, tác động trực tiếp đến việc cải thiện chất lượng cuộc
sống của người dân, thúc đẩy hoạt động văn hóa và phát triển kinh tế-xã hội từng bước
được cải thiện; bản sắc văn hóa được gìn giữ, trình độ dân trí và chất lượng hệ thống
cơ sở được nâng cao.
Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn tồn tại một số hạn chế trong việc triển
khai, đó là mô hình nông thôn mới tuy đã hình thành nhưng một số nội dung còn chưa
hoàn chỉnh, chưa bền vững; một số nội dung trong chương trình triển khai còn chậm,
việc phát huy dân chủ của nhân dân địa phương tham gia chưa cụ thể hóa; đặc biệt còn
cứng nhắc, gặp khó khăn vướng mắc trong việc thực hiện một số tiêu chí. Bởi đối với
từng tiêu chí, mỗi địa phương cần có cách thực hiện phù hợp tùy theo điều kiện, khả
năng của mình.
Chúng ta đang đi từng bước để biến chủ trương thành hiện thực. Rõ ràng, ai
cũng nhận thấy đó là công việc không phải của ngày một, ngày hai. Vậy bước đi như
1
2
Xuất phát từ vai trò quan trọng của hạ tầng KT-XH trong phát triển NTM cùng
với những thực trạng trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tình hình thực hiên quy
hoạch, xây dựng NTM về phát triển hạ tầng KT-XH của xã Điện Quang, huyện
Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam đến năm 2012” để làm khóa luận tốt nghiệp của mình.
• Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng NTM về phát triển hạ tầng
KT-XH.
- Đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch xây dựng Nông thôn mới về phát
triển hạ tầng kinh tế- xã hội của xã Điện Quang, những thuận lợi và khó khăn ảnh
hưởng tới tiến trình phát triển cơ sở hạ tầng KT-XH của địa phương.
- Từ đó đề xuất những giải pháp phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa
phương để nhằm đẩy mạnh tiến trình thực hiện quy hoạch hạ tầng KT-XH của xã
trong thời gian tới.
• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung đánh giá tình hình thực hiện quy
hoạch và nội dung phát triển hạ tầng KT-XH của xã Điện Quang đến năm 2012, đó là
các nội dung thuộc tiêu chí phát triển NTM: Giao thông, thủy lơi, điện, trường học, cơ
sở vật chất văn hóa, chợ nông thôn, bưu điện và tình hình phát triển nhà ở của dân cư
xã nhà.
- Phạm vi nghiên cứu
+Về mặt không gian: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại tất cả các thôn thuộc
xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
+Về mặt thời gian : Tình hình cơ bản 3 năm (2010-2012) và tình hình thực hiện
xây dựng nông thôn mới của xã Điện Quang qua hai năm ( 2011-2012).
+ Về mặt nội dung: Đề tài tiến hành nghiên cứu hiện trạng xây dựng nông thôn
mới của xã Điện Quang , huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam qua 8 tiêu chí phát triển hạ
tầng kinh tế xã hội đã nêu ở trên.
Để thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi đã sử dụng hệ thống các phương pháp
Về kinh tế, nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp (nông, lâm, ngư nghiệp). Cơ sở
hạ tầng ở vùng nông thôn lạc hậu, thấp kém hơn đô thị. Trình độ phát triển cơ sở vật
chất và kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa cũng kém hơn đô thị.
Về xã hội, trình độ học vấn, điều kiện cho giáo dục, y tế, đời sống vật chất, tinh
thần của dân cư nông thôn thấp hơn dân cư thành thị. Tuy nhiên những di sản văn hóa,
phong tục tập quán cổ truyền ở nông thôn lại thường phong phú hơn thành thị.
Nhưng có ý kiến khác lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông
nghiệp chủ yếu, tức nguồn sinh kế chính của dân cư trong vùng đều từ sản xuất nông
nghiệp. Những quan điểm này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước.
Như vậy, khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tương đối theo thời gian, theo tiến trình
phát triển kinh tế xã hội.
Căn cứ vào điều kiện thực tế và xét dưới góc độ quản lý thì PGS. TS Nguyễn
Ngọc Nông cho rằng “Nông thôn là vùng khác với thành thị, ở đó một cộng đồng chủ
yếu là nông dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, có kết cấu hạ tầng kém phát
triển, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hoá thấp hơn”
5
Như vậy, khái niệm về nông thôn chỉ có tích chất tương đối, thay đổi theo thời
gian và theo tiến trình phát triển kinh tế, xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong
điều kiện hiện nay ở Việt Nam, nhìn nhận dưới góc độ quản lý, có thể hiểu: “Nông
thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cư
dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường trong một
thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác”
• Đặc trưng của nông thôn:
Nói đến các vấn đề trong nông thôn là vấn đề không bao giờ là lỗi thời ở Việt
Nam. Trước hết để hiểu được những vấn đề nóng, bức xúc ở nông thôn thì trước tiên ta
phải hiểu được những đặc trưng ở vùng nông thôn.
+ Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc của một cộng đồng dân cư bao gồm
chủ yếu là nông dân, là vùng chủ yếu sản xuất nông nghiệp. Các hoạt động sản xuất và
dịch vụ phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp, cho cộng đồng nông thôn. Mật độ dân cư
đi sâu giải quyết nhiều vấn đề cụ thể, đồng thời giải quyết các mối quan hệ với các
chính sách khác, các lĩnh vực khác trong sự tính toán, cân đối mang tính tổng thể, khắc
phục tình trạng rời rạc hoặc duy ý chí.
Có thể quan niệm: “ Mô hình NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo
thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho
nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình
nông thôn cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt.
Xây dựng NTM vẫn đảm bảo cuộc sống người dân, giữ được truyền thống, bảo
vệ môi trường.
Xây dựng NTM là quá trình không có điểm dừng. Ngay cả Châu Âu cũng xây
dựng nông thôn mới và khái niệm, tiêu chí nông thôn mới của họ cũng thay đổi tuỳ
theo mức sống, nhu cầu và quan niệm của người dân.( Nguồn: Nguyễn Trọng Bình)
• Sự khác biệt giữa Nông thôn trước đây và nông thôn mới:
Như tôi nói ở trên, khái niệm NTM trước tiên phải là nông thôn chứ không phải
là Thị trấn hay Thị tứ.
Thứ hai, NTM không phải là nông thôn truyền thống. Nếu so sánh giữa NTM
và nông thôn truyền thống thì NTM phải bao hàm cả cơ cấu và chức năng mới.
7
Mô hình NTM là những kiểu mẫu cộng đồng được xét trên những tiêu chí mới,
tiếp thu khoa học công nghê hiện đại nhưng vẫn giữ được nét đặc trưng của vùng quê
nông thôn cả về văn hoá lẫn tinh thần.
Nếu như mô hình nông thôn cũ làm việc với tư duy bảo thủ, sự quyết định
thường rơi vào tay cấp trên, người dân ở trạng thái bị động thì mô hình NTM là việc
đổi mới tư duy, nâng cao năng lực của người dân nông thôn, tạo động lực giúp họ chủ
động phát triển kinh tế-xã hội, góp phần thực hiện chính sách vì nông nghiệp, nông
dân và nông thôn, thay đổi cơ sở vật chất và diện mạo đời sống, văn hoá, qua đó thu
hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị.
Theo Tiến sỹ Tô Văn Tường- Viện trưởng Viện quy hoạch Thuỷ lợi miền Nam:
“Có điều không bao giờ thay đổi là nông thôn mới cũng phải giữ được tính truyền
kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa mới đạt tỷ lệ thấp. Giao thông chất lượng
thấp, không có quy chuẩn, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều vùng giao thông chưa phục
vụ tốt sản xuất, lưu thông hàng hóa, phần lớn chưa đạt chuẩn quy định. Hệ thống lưới
điện hạ thế ở tình trạng chắp vá, chất lượng thấp, quản lý lưới điện ở nông thôn còn
yếu, tổn hao điện năng cao (22-25%), nông dân phải chịu giá điện cao hơn giá trần
Nhà nước quy định. Hệ thống các trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở ở nông
thôn có tỷ lệ đạt chuẩn về cơ sở vật chất thấp; Mức đạt chuẩn của nhà văn hóa và khu
thể thao xã mới đạt 29,6%, hầu hết các thôn không có khu thể thao theo quy định. Tỷ
lệ chợ nông thôn đạt chuẩn thấp, có 77,6% số xã có điểm bưu điện văn hóa theo tiêu
chuẩn, 22,5% số thôn có điểm truy cập internet. Cả nước hiện còn hơn hàng nghìn nhà
ở tạm bợ (tranh, tre, nứa lá), hầu hết nhà ở nông thôn được xây không có quy hoạch,
quy chuẩn.
Thứ ba: Quan hệ sản xuất chậm đổi mới, đời sống người dân còn ở mức
thấp
- Kinh tế hộ phổ biến quy mô nhỏ (36% số hộ có dưới 0,2 ha đất).
- Kinh tế trang trại chỉ chiếm hơn 1% tổng số hộ nông- lâm –ngư nghiệp trong
cả nước.
- Kinh tế tập thể phát triển chậm, hầu hết các xã đã có hợp tác xã hoặc tổ hợp
tác nhưng hoạt động còn hình thức, có trên 54% số hợp tác xã ở mức trung bình và
yếu.
9
- Đời sống cư dân nông thôn tuy được cải thiện nhưng còn ở mức thấp, chênh
lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng ngày càng cao, thu thập
bình quân đạt 32triệu đồng/ hộ (năm 2012) nhưng chênh lệch thu nhập giữa 10%
nhóm người giàu và 10% nhóm người nghèo nhất là 13,5 lần).
- Tỷ lệ hộ nghèo khu vực nông thôn còn cao (10%).
Thứ tư: Các vấn đề về văn hóa - môi trường – giáo dục – y tế
- Giáo dục mầm non: Còn 11,7% số xã chưa có nhà trẻ, mẫu giáo.
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo rất thấp,
hội loài người cho thấy, hầu hết các nước phát triển nông nghiệp, nông thôn và mối
quan hệ giữa con người với nông nghiệp mang tính đa chiều, nó vừa mang tính kinh tế,
vừa mang tính tình cảm và tâm lý sâu sắc. Cũng từ đó, quan hệ sở hữu đất đai đã trở
thành trung tâm của các mối quan hệ xã hội trong nông thôn.
Không chỉ ở khu vực nông thôn mà ngay ở thành thị, các công trình hạ tầng
KT-XH luôn gắn với những vị trí đất đai cụ thể. Đất đai là nguồn lực hết sức quan
trọng, nhận định này được xét trên hai góc độ:
+ Thứ nhất, đất đai tạo nền móng vật chất hữu hình cho hạ tầng KT-XH ở nông
thôn hình thành và phát triển. Muốn xây dựng hay mở rộng hệ thống đường giao thông
trước tiên cần phải có vị trí, diện tích đất đai để làm đường. Ngoài ra, đất đai còn là
nguyên vật liệu chính cho việc xây dựng nhiều công trình hạ tầng KT-XH, đặc biệt là
giao thông.
+ Thứ hai, đất đai còn là một tài sản rất có giá trị, quyền sở hữu và sử dụng đất
có thể chuyển hoá thành nguồn vốn vật chất hoặc bằng tiền cho sự phát triển xây dựng
NTM ở nông thôn, đặc biệt là hạ tầng KT-XH ở nông thôn. Đặc biệt, quỹ đất công ích
thông qua thị trường bằng phương thức “đổi đất lấy hạ tầng” đã trở thành nguồn vốn
đáng kể cho sự phát triển quy hoạch hạ tầng ở nông thôn.
Đồng thời, chủ trương, chính sách định hướng phát triển xây dựng NTM ít nhất
cũng phải dựa trên quỹ đất hiện có của xã nhà. Điều này quyết định đến sự phù hợp
hay không của đề án xây dựng NTM.
Ngoài đất đai, còn có các nhân tố khác như địa hình, khí hậu cũng có ảnh
hưởng nhất định đến quá trình thực hiện xây dựng NTM. Một mặt, nó liên quan đến
chi phí sản xuất, quản lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng, mặt khác nó ảnh hưởng đến
11
lượng vật liệu tiêu hao, vốn đầu tư xây dựng và tính khả thi của dự án xây dựng NTM.
Những vùng có điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi có thẻ mang lại hiệu quả cao đối
với các dự án phát triển nông thôn và ngược lại.
+ Điều kiện KT-XH:
- Dân cư và lao động:
Vốn là nhân tố có vai trò vô cùng quan trọng và nhiều khi có ảnh hưởng mang
tính quyết định đến sự thành công của mô hình NTM. Thực tế cho thấy, việc thực hiện
các hạng mục của bộ tiêu chí NTM, nhất là các công trình giao thông, thuỷ lợi thường
đòi hỏi vốn lớn, trong khi đó, bản thân nông nghiệp, nông thôn khó có thể tự giàu có
để có nguồn tích luỹ lớn khi không có những yếu tố khác như khoa học kỹ thuật tiên
tiến, máy móc hiện đại tác động vào.
Vốn cho việc phát triển chương trình NTM có thể huy động từ nhiều nguồn:
Nguồn ngân sách nhà nước, nguồn vốn đóng góp của dân cư, nguồn vốn từ các doanh
nghiệp Và vốn ngân sách nhà nước luôn đóng vai trò rất quan trọng. Nguồn vốn này
được xem là nguồn “vốn mồi” để thu hút các nguồn vốn khác vào đầu tư xây dựng
NTM.
Ngoài ra, một nguồn vốn khá quan trọng nữa là nguồn vốn tín dụng của nhà
nước. Loại vốn này đã xuất hiện phổ biến và đóng góp đắc lực trong việc xây dựng
NTM.
Vốn tài trợ khác là nguồn vốn được vận động tranh thủ sự ủng hộ của các đơn
vị tổ chức và con em của quê hương thành đạt hướng về quê hương.
Hiện nay, đối với các nền kinh tế đang phát triển, nguồn vốn nước ngoài trong
một số trường hợp đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển nông thôn. Nguồn vốn
nước ngoài phổ biến là nguồn vốn ODA.
Với những khoản cho vay ưu đãi, thời gian dài thì hiện nay vốn ODA cũng
đóng một vai trò quan trọng đối với sự phát triển nông thôn như nước ta hiện nay.Về
cơ bản, nguồn vốn ODA thường được ưu tiên cho phát triển cơ sở hạ tầng cho những
công trình trọng điểm như: Hệ thống thuỷ lợi; hệ thống GTNT; hệ thống cung cấp
nước sạch và ưu tiên những vùng đặc biệt khó khăn mà không có khả năng xây dựng
cơ sở hạ tầng bằng các nguồn vốn khác. Đây là một nguồn vốn mà các nước đang phát
triển thường tìm cách tập trung khai thác nhằm đầu tư phát triển hạ tầng KT - XH
nông thôn.
13
• Nhân tố về cơ chế, chính sách:
gian và năng lực hoạt động của dự án thông qua ý thức giữ gìn, bảo vệ của cư dân, qua
đó ảnh hưởng tới nguồn vốn đầu tư, chi phí quản lý vận hành và hiệu quả khai thác.
1.1.1.2 Khái niệm hạ tầng KT-XH và vai trò của hạ tầng KT-XH trong
phát triển NTM:
• Khái niệm hạ tầng KT-XH
Cho đến nay, quan niệm về cơ sở hạ tầng vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Theo
PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông thì “Cơ sở hạ tầng là tổng thể các nghành kinh tế, các
ngành công nghệ dịch vụ” Cụ thể cơ sở hạ tầng bao gồm: Việc xây dựng đường xá,
kênh đào tưới nước, bãi cảng, cầu cống, sân bay, kho tàng, cơ sở cung câp năng lượng,
cơ sở kinh doanh, giao thông vận tải, bưu điện, cấp thoát nước, cơ sở giáo dục, khoa
học, y tế, bảo vệ sức khoẻ Còn theo PGS. TS Lê Du Phong cho rằng kêt cấu hạ tầng
là “tổng hợp các yếu tố và điều kiện vật chất – kỹ thuật được tạo lập và tôn tại trong
mỗi quốc gia, là nền tảng và điều kiện chung cho các hoạt động KT - XH ”
• Khái niệm hạ tầng KT-XH nông thôn
Theo PGS. TS Đỗ Hoài Nam thì hạ tầng KT - XH ở nông thôn là “Hạ tầng KT -
XH thuộc quyền sở hữu chung của làng, xã, do làng, xã sử dụng chung vì mục đích
phát triển KT - XH của làng” . Như vậy hạ tầng KT - XH nông thôn là những cơ sở vật
chất và thiết chế cung cấp dịch vụ cho sinh hoạt kinh tế, xã hội, dân sinh trong cộng
đồng làng xã và do làng xã quản lý, sở hữu và sử dụng, làm nền tảng cho sự phát triển
KT - XH nông thôn.
Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy, hạ tầng KT - XH nông thôn là nhân tố quyết
định đến sự thành công hay thất bại của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn
nói chung và xây dựng NTM nói riêng.
• Vai trò của hạ tầng KT-XH nông thôn:
- Hạ tầng KT - XH nông thôn hoàn thiện và đồng bộ sẽ giúp giảm giá thành sản
xuất, giảm chi phí vận chuyển, chi phí dịch vụ, giảm thiếu rời rạc trong các hoạt động
sản xuất kinh doanh nông nghiệp và các ngành liên quan trực tiếp tới nông nghiệp, góp
phần thúc đẩy lưu thông hàng hoá.
- Hạ tầng KT - XH nông thôn phát triển sẽ tác động đến sự phát triển khu vực
nông nghiệp và kinh tế nông thôn, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện
ngăn chặn tình trạng di cư tự do từ nông thôn ra thành thị
16
Nói tóm lại, phát triển hạ tầng KT - XH là nhân tố đặc biệt quan trọng, là khâu
then chốt để thực hiện các mục tiêu phát triển KT - XH nông nghiệp, nông thôn trong
tiến trình CNH, HDH. Trong bối cảnh cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại
cùng quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng ngày nay,
để thực hiện thành công chương trình NTM và tạo diện mạo mới cho thôn nhà.
1.1.1.3 Các chỉ tiêu đánh giá quá trình xây dựng NTM:
Thể hiện ở Bộ tiêu chí Quốc gia về NTM được thủ tướng Chính phủ ban
hành tại Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009. Dưới đây là 19 tiêu chí Quốc
gia về NTM áp dụng cho vùng Duyên hải Nam Trung Bộ. Cụ thể như sau:
A. Xã nông thôn mới
I. Quy hoạch
TT
Tên tiêu
chí
Nội dung tiêu chí
Chỉ
tiêu
chung
Vùng
Duyên hải
Nam TB
1
Quy
hoạch và
thực hiện
quy
hoạch
đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT
2.3. Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội
vào mùa mưa.
100%
100% (70%
cứng hóa)
2.4. Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng
hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện
65% 70%
3 Thủy lợi
3.1. Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản
xuất và dân sinh
Đạt Đạt
3.2. Tỷ lệ km trên mương do xã quản lý được kiên cố
hóa
65% 70%
4 Điện
4.1. Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của
ngành điện
Đạt Đạt
4.2. Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ
các nguồn
98% 98%
5
Trường
học
Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu
học, THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia
80% 80%
6
chung
Chỉ tiêu
theo vùng
Duyên hải
Nam TB
10 Thu nhập
Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình
quân chung của tỉnh
1,4 lần 1,4 lần
11 Hộ nghèoTỷ lệ hộ nghèo < 6% 5%
12
Cơ cấu
lao động
Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực
nông, lâm, ngư nghiệp
< 30% 35%
13 Hình Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả Có Có
18
thức tổ
chức sản
xuất
IV. Văn hóa – Xã hội – Môi trường
TT
Tên tiêu
chí
Nội dung tiêu chí
Chỉ
tiêu
chung
17.4. Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch Đạt Đạt
17.5. Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo
quy định
Đạt Đạt
V. Hệ thống chính trị
TT
Tên tiêu
chí
Nội dung tiêu chí
Chỉ
tiêu
chung
Chỉ tiêu
theo vùng
Duyên hải
Nam TB
18 Hệ thống
tổ chức
chính trị
xã hội
18.1. Cán bộ xã đạt chuẩn Đạt Đạt
18.2. Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở
theo quy định.
Đạt Đạt
18.3. Đảng bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong
sạch, vững mạnh”
Đạt Đạt
19
vững
sau:
- Kích thích sự tham gia của người dân bằng những lợi ích thiết thực
- Phát triển cộng đồng xã hội
- Phân cấp phân quyền quản lý và thực hiện dự án
- Tăng cường năng lực của lãnh đạo địa phương
- Phát huy dân chủ, sức sáng tạo của nhân dân
Chính phủ Hàn Quốc đã vực dậy nông thôn bắt đầu bằng việc cải thiện dân sinh
và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Thay đổi lớn nhất là việc thay đổi vật liệu làm
nhà từ rơm rạ sang các vật liệu công nghiệp (xi măng, tôn…). Các nguồn năng lượng
phục vụ cho sinh hoạt của cư dân nông thôn được thay thế theo hướng hiện đại, thay
ẢNH 1: Cựu chủ tịch Park Chung-Hee tại một công
trường xây dựng của làng thôn Hàn Quốc
21
bếp và gần 100% dân nông thôn được dùng điện. Các giống lúa mới có năng suất cao
được đưa vào sản xuất, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Một tác động to lớn nhất của xây dựng NTM là làm tăng thu nhập của người
dân nông thôn. Năm 1970, thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn mới chỉ
đạt 824 USD/người. Nhưng đến năm 1976, đã tăng lên 3000 USD/người. Đó là một sự
chuyển biến rất nhanh chóng và rõ nét nhất.
Đến đầu những năm 1980, bộ mặt của nông thôn Hàn Quốc đã thay đổi toàn
diện. Quá trình hiện đại hoá nông thôn đã được hoàn thành. Chính phủ điều chỉnh
chiến lược phát triển sang một giai đoạn mới.
• Mô hình nông thôn mới ở Nhật Bản (One village, one product - OVOP)
Từ năm 1979, Tiến sĩ Morihiko Hiramatsu đã khởi xướng và phát triển phong
trào "Mỗi làng, một sản phẩm" (One Village, one Product - OVOP) với mục tiêu phát
triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung
của cả Nhật Bản. Phong trào "mỗi làng một sản phẩm" dựa trên 3 nguyên tắc chính là:
- Địa phương hóa rồi hướng tới toàn cầu
- Tự chủ, tự lập, nỗ lực sáng tạo
Ảnh 3.Thủ công và dịch vụ tại
Thái Lan
ẢNH 4: Trồng rau sạch tại Trung Quốc
23
Theo các nhà nghiên cứu ở Trung Quốc cho biết thì vấn đề cốt lõi của chính
sách “Tam nông” chính là giải quyết chênh lệch thu nhập giữa cư dân thành thị và
nông thôn.
Trung Quốc luôn coi trọng các chính sách dành cho “Tam nông”. Nguồn kinh
phí xây dựng NTM tập trung từ nguồn ngân sách nhà nước và địa phương, một phần là
của dân và huy động các nguồn lực xã hội khác.
Theo GS-TS Lý Ninh Huy, công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua
nhiều dấu mốc. Trong đó, những mốc quan trọng là xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập
thể chế kinh doanh hai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở
cửa toàn diện thị trường nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực
tiếp cho nông dân. Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh, là mở cửa
giá thu mua, thị trường mua bán lương thực; một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián
tiếp qua lưu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực.
Chẳng hạn, thời điểm sản lượng lương thực giảm trong 5 năm liên tiếp, đến
năm 2004, Trung Quốc đã thực hiện trợ cấp trực tiếp giống, mua máy móc, dụng cụ
nông nghiệp, trợ cấp giá bảo đảm để nông dân trồng lương thực có lãi. Hay khi giá vật
tư nông nghiệp, phân hóa học, thuốc trừ sâu…biến động, Chính phủ nước này trợ cấp
trực tiếp cho vật tư sản xuất.
Theo các nhà khoa học Trung Quốc, vấn đề thu hồi đất nông nghiệp của nước
này được quy định rất ngặt nghèo. Nếu chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phải đúng
với chiến lược lâu dài của vùng đó và phải nằm trong chỉ giới đỏ, đảm bảo cả nước
luôn duy trì 1,8 tỷ mẫu đất nông nghiệp trở lên.
Hiện ở Trung Quốc, nhiều địa phương thu hồi đất nông nghiệp để phát triển
công nghiệp, đã phải trả lại cho nông dân sản xuất nông nghiệp. Đồng thời, nước này
cũng đang nghiên cứu nông dân có thể dùng đất canh tác thế chấp ngân hàng vay vốn.
Mỹ - Hà Nội). Từ đó, chúng ta có thể rút ra nhiều kinh nghiệm thiếu xót từ lý thuyết
đến thực tiễn. Tiếp đó, chúng ta thí điểm các xã trên phạm vi tỉnh, vừa thực hiện vừa
điều chỉnh những sai xót, để đạt được mục đích cuối cùng.
Sau 2 năm thực hiện thí điểm mô hình xây dựng nông thôn, 11 xã điểm đã có
những chuyển biến rõ nét, nhất là về thu nhập của người dân. Trong năm 2012, theo
báo cáo tại hội nghị tổng kết ngành Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn 2012 do
25