ĐỀ TÀI: TÍNH TRIẾT LÝ TRONG SÁNG TẠO HỘI HỌA,
THỂ HIỆN QUA CÁCH DÙNG BÚT
CỦA NGHỆ THUẬT PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
I. PHẦN I:
1. Lý do chọn đề tài
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Giá trị khoa học và ý nghĩa của đề tài
6. Kết cấu của tiểu luận
II. PHẦN II: NỘI DUNG
1. Sự ra đời hội họa phương Đông và phương Tây
2. Quan niệm, triết lý sáng tạo nghệ thuật qua cách dùng bút của hội hoạ phương
Đông và phương Tây
.1 Quan niệm của hoạ sĩ phương Đông
3. Các thủ pháp nghệ thuật riêng biệt tạo dựng dưới ngọn bút đặc trưng của phương
Đông và phương Tây
.1 Đặc trưng triết lý nghệ thuật phương Đông qua thủ pháp nghệ thuật
.1.1 Trường phái tả thực (realistic style) và tả ý (impressionistic style) của
nghệ thuật Trung Quốc
3.1.2 Nghệ thuật tranh khắc gỗ của Nhật Bản
3.2 Đặc trưng trường phái phương Tây qua thư pháp nghệ thuật
3.2.1 Trường phái cổ điển Phục Hưng (classical renaussance)
3.2.2 Trường phái ấn tượng (impressionism)
4. Quan niệm dịch lý trong sử dụng màu, giấy của hội họa Trung Quốc
4.1 Quan niệm dịch lý trong sử dụng màu
4.2 Quan niệm dịch lý trong sử dụng giấy, lụa
4.3 Mối quan hệ tương tác giữa bút và mực
5. Tư tưởng trong tác phẩm của hội họa phương Tây
5.1 Thời kỳ cổ điển (classical)
5.2 Thời kỳ ấn tượng (impressionism)
không nhìn nhận sự vận động đó dưới góc nhìn của công năng sử dụng bút.
Nhận thức từ chính công việc của tác giả là mấu chốt vấn đề quan trọng để
nhận thức lý luận về sự vận động trong sáng tạo nghệ thuật. Qua đó tác giả sẽ kết
hợp nghiên cứu đánh giá trên những công trình của các tác giả từ Đông đến Tây
như: “Những Nền Tảng Mỹ Thuật” của OCVIRR – STINSON – WIGG – BONE
– CAYTON. “Chu Dịch Và Mỹ Học” của tác giả Lưu Công Ký - Phạm Minh
Hoa. “Tâm Lý Văn Nghệ” của tác giả Chu Quang Tiềm. “Triết Lý Phương Đông”
của tác giả Nguyễn Duy Cần. “Đại Tượng Vô Hình” của Frangois Tullien. “Sơ
Đồ Tư Duy” của tác giả Tony & Barrybazan. “Câu Chuyện Nghệ Thuật Hội Họa”
của tác giả Bcekett. “Những Nền Nghệ Thuật Ngoài Phương Tây” tác giả…
“Nghệ thuật Qua Hội Hoạ” của tác giả W.HOLMES – CH.HORIONA. “Bốn
Bài Giảng Mỹ Học” tác giả Lý Trạch Hậu. “70 Nhà Danh Họa Bậc Thầy Thế
Giới” tác giả… “Image And Idea” (Hình Ảnh Và Ý Tưởng) tác giả Edmund
Burke Feldman. “Phê Phán Năng Lực Phán Đoán” tác giả ImmanuclRan – Bùi
Văn Nam Sơn dịch và chú giải. “Mỹ Học Heghel” T1 – T2 tác giả biên dịch:
Phan Ngọc – và tham khảo nhiều tác phẩm hội họa khác nhau. Từ đó tác giả sẽ
rút ra những vấn đề cơ bản để đánh giá, so sánh, tìm ra bản chất, nguyên lý của
sự vận động trong quá trình sáng tạo nghệ thuật.
Quá trình nghiên cứu là quá trình thẩm định, đánh giá và học hỏi. Vì vậy
vấn đề nghiên cứu của tiểu luận này vừa mang tính khách quan và nặng tính chủ
quan của tác giả cho nên việc khoa học, chính xác là những vấn đề còn thiếu sót.
3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu:
2
2
Mỗi trường phái nghệ thuật, mỗi thiên hướng sáng tạo nghệ thuật của tác giả
đó là kết quả của quá trình tư duy, những con người nghệ sĩ tiêu biểu, tạo dựng
cho thời đại nhiều tên tuổi, tác phẩm giá trị như: Lêôna da vince – Mikenlay,
Raphacl, Rodin, Thạch Đào - Tề Bạch Thạnh - Từ Bi Hồng - … cho chúng ta
nhận thức giá trị thẩm mỹ, quan niệm triết lý sống trong từng tác phẩm.
- Thẩm định nguyên lý vận hành của bút tạo dựng riêng biệt (Thần y trong
góp thêm tiếng nói trong lĩnh vực mỹ thuật của Việt Nam.
6. Kết cấu của tiểu luận:
Tiểu luận gồm có 4 phần:
Phần I: Mở đầu, nêu lên phương pháp nghiên cứu, giá trị khoa học và đóng
góp của tiểu luận.
Phần II: Phần nội dung, làm rõ có tính khoa học, phương pháp so sánh,
minh chứng, diễn giải để tìm ra nguyên nhân, bản chất tồn tại của “bút lông tròn”
và “bút dẹp” tạo ra quan niệm sáng tạo khác nhau trong vấn đề sử dụng, khai thác
đặc trưng của từng loại bút. Từ đó quyết định giá trị thẩm mỹ, giá trị tư tưởng
trong tác phẩm.
3
3
Phần III: Kết luận, đúc kết lại quá trình nghiên cứu tìm ra phương pháp giải
quyết hiện tại cho nghệ thuật Việt Nam, và những đóng góp của bản thân trong
quá trình nổ lực sáng tạo, nghiên cứu tìm ra bản chất vận động của nghệ thuật.
Phần IV: Tài liệu tham khảo và ảnh minh họa.
II. PHẦN II: NỘI DUNG
1. Lịch sử ra đời của ngôn ngữ hội họa ở phương Tây và phương Đông:
Lịch sử phát triển của loài người trải qua hàng triệu năm, nhưng từ khi con
người nguyên thủy còn sơ khai với nhận thức với thế giới tự nhiên, chữ viết thì
ngôn ngữ hội họa ra đời rất sớm. Với những phát hiện gần đây nhất của giới khảo
cổ về Châu và Nam Phi Châu (Tanzanic) niên đại biểu hiện đầu tiên của nghệ
thuật thời tiền sử được xác định khoảng 50.000 năm cách đây. Nhưng sự xuất
hiện chữ viết đầu tiên chỉ 5000 năm ở Ai Cập và Lưỡng Hà.
Như vậy loài người biểu đạt ngôn ngữ khá sớm so với chữ viết thể hiện
năng lực tái hiện biểu đạt hình tượng, mà ở đó họ đã khắc họa những hình ảnh
tồn tại xung quanh cuộc sống hoang dã của con người hiện đại (homosapiens).
Mặc dầu những hình vẽ trên các hang động nhu cầu khác nhau chưa ai
khẳng định được những sự biểu hiện ngôn ngữ vẽ sớm hơn của chữ viết mà theo
Văn Ngọc “Nhân loại trải qua 45.000 năm! Hiện tượng này đã cho thấy rằng nếu
một số hoạ sĩ đã nghiên cứu hình thức biểu hiện đó khai thác trong tác phẩm hội
họa.
Hành động vẽ của người tiền sử biểu hiện một nội dung tư tưởng triết lý gì ?
Liệu chức năng thẩm mỹ là nhu cầu bậc nhất của người tiền sử hay không? Hay
là nhu cầu tâm ling tín ngưỡng …
Về quan điểm này có nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau, có các nhà
khảo cổ cho rằng “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, họ cho rằng nghệ thuật của người
tiền sử là vì mục đích thẩm mỹ những người đứng đầu chủ thuyết này là Edouand
Lantet (1801 – 1871), Edouand Piche (1827 – 1906), Gabnicl de Montiiet (1821 –
1898) và Edouand Catailhae (1845 – 1921). Họ đều thống nhất và cho rằng người
hiện đại (homosapiens) có khả năng cảm xúc và có nhu cầu giải trí…
Một giả thuyết thứ hai cho rằng hình trên các hang động của người nguyên
thủy có một phép màu nào đó lên việc săn bắn cũng như sự sinh con đẻ cái của
người phụ nữ, giả thuyết này do Salomon Reinach (1858 – 1932).
Một giả thuyết đáng quan tâm và đáng ghi nhận của Goenges – Huquet
(1876 – 1965) một nhà tâm lý Tâm lý học, ông ta so sánh các bức vẽ trong hang
động là một biểu hiện tương tự như những đứa trẻ con vẽ tranh. Ông ta đưa ra
mối quan hệ những ký hiệu cho trẻ con hay người tiền sử vẽ ra không có mục
đích, không có nội dung nhất định.Vì nhận định giả thuyết này có nhiều bác bỏ,
bởi lẽ các hình thể trong các hang động thể hiện một nhận thức có chiều sâu về
tạo hình, biểu hiện sự tìm kiếm sự vật cấu trúc phức tạp, chứ không ngây ngô như
trẻ con hay nói cách khác đây là những tác phẩm của những họa sĩ nguyên thủy
có tài năng xuất chúng. Luguet cho rằng “sự ham mê sáng tạo của người tiền sử
là sự thôi thúc nội tâm”, “biến những hình ảnh ảo trong đầu thành những hình
ảnh cụ thể” (xen minh họa).
Tuy cuộc tranh luận chưa đến hồi kết thúc các giả thuyết đưa ra vừa có tính
chính xác khoa học, và luận điểm của mỗi tác giả, nhưng nhìn chung lại, sự nhận
thức chủ thể của bài viết này có cái nhìn riêng, để đánh giá về nghệ thuật tiền sử
trên cơ sở suy đoán về góc độ chuyên môn.
Tác giả phản bác lại quan điểm của nhóm tác giả cho “Nghệ thuật vị nghệ
Giá trị duy nhất của nghệ thuật đó là yếu tố đặc trưng mang thủ pháp riêng
biệt, đặt dấu ấn, phong cách trong sáng tạo, tác phẩm. Ở đó chứa đựng tâm hồn
sáng tạo của người nghệ sĩ, biểu hiện được quan niệm xã hội, triết lý sống cá
nhân, bản thể của người nghệ sĩ… Sự khác biệt trong quan hệ cộng đồng, lối
sống cá nhân, đạo đức luân lý của xã hội, đặt vai trò quan trọng trong kiểu thức
sáng tạo của người nghệ sĩ, biểu lộ được hơi thở, triết lý sống tầng thức chiêm
nghiệm về không gian vũ trụ,con người.
3.1 Đặc trưng triết lý của phương Đông qua thủ pháp sáng tạo nghệ
thuật.
Trong suốt quá trình lịch sử, nền nghệ thuật phương Đông đặc biệt là
nghệ thuật Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản, thể hiện được tầng sâu triết lý về
“thiên, địa, nhân” sự huyền ảo trong quan niệm sống, triết lý sáng tạo đã tác động
đến nghệ thuật phương Đông, làm cho nền nghệ thuật này giàu chất triết lý sáng
tạo về thời gian, về hư vô giữa cuộc sống trần gian.
Mặc dầu sự phát triển nghệ thuật ở phương Đông thiếu tính đồng đều
và dẫn đến sự “cưỡng bức văn hóa” của một số nền mỹ thuật lớn như Ấn Độ áp
đặt mô thức, quan niệm thẩm mỹ cho một số nước lân cận như Campuchia, Thái
Lan, Myanma và dân tộc Chăm ở Việt Nam.
Tuy nhiên thành tựu rực rỡ của văn hóa Ấn Độ đã in dấu vết vàng
son rực rỡ qua các công trình điêu khắc, kiến trúc như: “Đại Bảo Tháp” (Stupa)
Sanchi, Ấn Độ thế kỷ 3 trước CN và “Torana” (Cổng vào) phía Đông thế kỷ thứ 1
trước CN, “Tượng Nữ Dạ Xoa” (Yakshi) thế kỷ thứ 1 trước CN. (minh học
H1,H2,H3)… Đó là thành tựu rực rỡ cho một nền nghệ thuật lấy điêu khắc làm
chủ đạo trong việc lên một tầng thức thẩm mỹ dựa theo ý niệm của tôn giáo
tâm linh và huyền thoại. Mặt khác ở Trung Quốc và Nhật Bản, nghệ thuật phát
triển rực rỡ vẫn là thể loại tranh “thủy mặc” và tranh khắc gỗ và các dòng tranh
mang âm hưởng của các giáo phái “thiền” , cho nên tạo dựng thủ pháp nghệ
thuật có tính đặc trưng mang phong cách tiêu biểu. Những họa sĩ đã làm nên tên
tuổi vĩ đại cho nghệ thuật Trung Quốc như Thạch Đào – Văn Thủy Minh – Đông
. Thời hiện đại gồm có Thùy - Tề Bạch Thạnh - Từ Bi Hồng – Yeyusnan –
đến thần bút, tả ý từ bố cục và biểu hiện sinh khí của đối tượng trong tranh, làm
cho sự vật như được có sự sống trong mặt tranh.
Giữa trường phái “tả thực” và “tả ý” của người Trung Hoa có
lối vận bút riêng biệt, mặc dầu đều sử dụng cây bút lông vẽ mực nho (màu nước)
trên giấy, lụa nhưng quan niệm triết lý sáng tạo của mỗi trường phái khác nhau,
cái tính hư không của trường phái tả ý vô cùng lớn, chứa đựng thần bút mạnh mẽ.
Điều này được gặp ở nghệ thuật Châu Âu giai đoạn TK 19 của các tác giả
Vangogh, Cézane …
Giữa hai trường phái nghệ thuật của Trung Hoa gọi cho chung
ta công năng về giá trị cái tôi trong sử dụng bút để tạo ra yếu tố thẩm mỹ
khác nhau.
3.1.2 Trường phái đặc trưng của nghệ thuật khắc gỗ Nhật Bản:
Nền nghệ thuật Nhật Bản (Japanese. Art) “buổi sơ khai họa
ánh hương của nền nghệ thuật Trung Hoa” [Từ điển Mĩ Thuật, tr 568]. Theo từ
điển Mỹ Việt nền mĩ thuật Nhật Bản trải qua nhiều thời kỳ khác nhau, qua mỗi
thời kỳ biểu thị một giai đoạn văn hóa có giá trị đặc trưng, khắc họa qua những
tác phẩm hội họa - kiến trúc và điêu khắc như thời kỳ Tomon (10.000 – 500 tr
TL), sản phẩm chủ yếu là gốm có dấu dây - Thời kỳ Yayoi (300 tr TL – 300
sau TL) thời kỳ này sản xuất được chuông đồng và đồ gốm xinh xắn - Thời kỳ
Kofua (300 – 552) - Thời kỳ Asuka (552 – 646) nghệ thuật Phật giáo từ Cao Ly
du nhập sang tạo điều kiện rực rỡ trong điêu khắc, kim thêu trên lụa và Hội đoàn
họa sĩ được thành lập. Thời kỳ Kamakara (1185 – 1395) “Điêu khắc hội họa trở
nên hiện thực một cách mạnh mẽ và cho đến thời kỳ Tokugawahoa Edo (1613 –
1867) tranh in Ukiyo – e miêu tả cuộc sống hằng ngày, có tiền thân là tranh sinh
hoạt vẽ các diễn viên tuồng Kabuki và các nghệ giả. Loại tranh này phát triển
thành tranh mộc bản và sau 1740 thành tranh in nhiều màu, và trường phái tranh
khắc gỗ Nhật Bản phát triển rực rỡ tạo lên nhiều tên tuổi và trường phái như
7
7
trường phái Ukiyo – e và họa sĩ Utamoto và Hokusai… Những họa sĩ tiêu biểu đó
những tác phẩm có giá trị nghệ thuật riêng biệt…
Những tác phẩm “ Sóng thần ở Kanagawa” [hình minh hoạ]
thể hiện được quan niệm, triết lý sáng tạo của người họa sĩ ở xứ sở động đất, sóng
thần và vẻ đẹp sâu lắng của hoa anh đào. Bằng lối sử dụng về nét mảng hết
sức cô động và tinh tế, họa sĩ Hokusai đã sáng tạo lên tác phẩm có giá trị thẩm
mỹ và tính tư tưởng vô cùng to lớn, lối bố cục như cấu trúc hình tháp, ngọ sóng
lên cao vươn ra những bọt biển như những hung thần dữ tợn “là suối nguồn của
bất tử đối lại ngọn núi thiêng làm hậu cách xa xa. Con sóng thần nơi tiền cánh nở
tung ra thành vô số những dòng nước li ti, sủi bọt treo lơ lửng trên cao vươn ra
như những móng vuốt của mãnh long cuồng nộ làm cho những người dân bên
dưới hãi hùng” [ mỹ thuật NPT tr 229]. Hokusai đã đưa tác phẩm của mình đến
sự tuyệt đỉnh của thăng hoa trong chiêm ngưỡng nghệ thuật, một sự kết hợp giữa
cái hùng vĩ và cái nhỏ bé, giữa hiện thực của thiên nhiên và cái thấp bé của con
người xoáy sâu vào trong ngọn sóng thần. Nhưng giá trị vĩ đại mà Hokusai không
nhấn chìm con người nhỏ bé vào sóng nước mà sự khắc họa những hình tượng
con thuyền theo dòng sóng để qua những nguy kịch của thiên tai. Phải chăng
8
8
đó là tuyên ngôn, triết lý sống của con người Nhật Bản, biểu hiện một giá trị
sống, một tinh thần không khuất phục giữa hoạn nạn thiên tai.
Giá trị nghệ thuật đặc sắc thủ pháp nghệ thuật của nghệ thuật
Utamano và Hokusai – Andno Hino Shige và Hasimoto Sudabide không dừng lại
ở mảng đề tài có tính đặc trưng của những ngọn sóng thần, các tác giả đã đi sâu
vào đời sống xã hội đương thời của mình để phản ánh giá trị cuộc sống, dưới sự
khắc chạm hết sức tinh tế: Hokusai bám sát vào những hoạt cảnh lao động có tính
cực nhọc của người Nhật , sự mạo hiểm phiêu lưu của bản tính con người Nhật
với những tác phẩm “ Đi qua cầu treo” [ hình minh họa H3], “ Nông phu dắt bò
trở về”, “ Người đánh cá ở bờ biển”,… Nói tóm lại thủ pháp khắc họa nhân vật
của Hokusai mang yếu tố tinh tế, sâu sắc, dí dỏm nhưng rất hào hùng. Ando
HinoShige với những tác phẩm đặc trưng về diễn tả con người lao động trong cơn
đại đến những tác phẩm kinh điển điêu khắc: Nàng Milo, tượng Lacoon đến
“chàng trai ném đĩa”, v.v… biểu trưng sức mạnh của dòng nghệ thuật thuần túy
chính thống. Một nền văn hóa vàng son của một thời tạo ra nhiều nhà triết học
nổi tiếng như Heraclit, Aristop, Platon,…
Nền văn hóa huy hoàng đó được tiếp nối mạnh nguồn sáng
tạo, tạo ra một thủ pháp đặc trưng “duy lý” về nghệ thuật đó là giai đoạn nghệ
9
9
thuật “Phục Hưng” (Renaissance). Một cuộc cách mạng văn hóa tạo dựng nhiều
tên tuổi có sức ảnh hưởng mọi thời đại như Lê ô na de vince, Miken Lange Lo –
Raphacol, Boticheli … Sự hào hùng của cuộc cách mạng văn hóa tạo ảnh
hưởng đến giá trị con người, đề cao tính nhân văn trong sáng tạo nghệ thuật, đòi
hỏi ở tầng nhận thức, kiến thức lãnh hội giá trị tinh hoa Hi Lạp hết sức lớn của
các tên tuổi tiên phong.
Thủ pháp nghệ thuật đặc trưng trong giai đoạn này đề cao lột
tả bản chất con người nhân hóa tôn giáo, trở thành đề tài quan trọng trong các
sáng tác của họa sĩ.
Những công trình mang tính khoa học giúp cho nghệ sĩ
phương Tây tiếp bước trên triết lý sáng tạo vững vàng, đó là việc đưa phối cảnh
không gian vào sáng tác hội họa, phân tích giải phẩu cơ thể người làm đạt đến
một giá trị chuẩn mực mà trong các trào lưu lịch sử nhân loại chưa từng có được.
Từ đây các viện hàn lâm bắt đầu đưa ra những quy chế trong
sáng tạo nghệ thuật, cấu trúc tỉ lệ của cơ thể người và các sự chuẩn mực khác
trong sáng tạo nghệ thuật, sự chuyển mình từ không gian hai chiều trong các bích
họa nhà thờ (Fresco) chuyển sang tranh tồn tại không gian 3 chiều. Những tác
phẩm Nàng Moza của Lê ô na de vince – “Sáng tạo thế giới” của Mikenlange –
“Mùa xuân” Botticelli… Sự chuẩn mực từ quy tắc bố cục đến tỉ lệ giải phẩu, ánh
sáng, bóng tối trong sáng tạo đã được các họa sĩ phương Tây giai đoạn Phục
Hưng khai thác triệt để, tạo ra bút pháp vừa thực vừa hư chưa từng có nghệ thuật
nhân loại.
sáng về màu sắc, các họa sĩ đã tìm cách khai thác những đề tài có hơi thở giàu
cuộc sống mà nghệ sĩ Nhật Bản đã làm.
Một giá trị quan trọng trong giai đoạn này các họa sĩ phương
Tây đã khai thác công năng của cây bút, ào ạt cảm xúc trên mặt tranh như là sự
xuất thần trong diễn đạt nghệ thuật. Điều này chúng ta bắt gặp ở nghệ sĩ Trung
Quốc trường phái tả ý, họ ý sự và khắc họa nét bút có thần có hồn vào tác
phẩm, làm cho các hình tượng trong tranh sống động, có linh hồn. Ở nghệ thuật
ấn tượng họ chú ý khai thác cây bút, ánh sáng, hình thể, màu sắc. Các yếu tố đó
hoà quyện vào nhau tạo ra âm hưởng vang dội trong tác phẩm, trường hợp điển
hình đó chúng ta thấy ở Vanghot – Lautre – Cézane…
Vấn đề cơ bản trong giai đoạn này được giải quyết mang tính
bức phá, tìm con đường mới trong nhận thức thẩm mỹ của thời đại. Nghệ thuật ấn
tượng như là cuộc khởi đầu của cuộc xé rào vượt ngục thoát ra khuôn khổ, quy
ước của Hàn Lâm Viện, tạo ra sự xung đột đấu tranh mâu thuẫn phủ định của phủ
định và cuối cùng cái mới đã chiếm lĩnh thống trị, tạo đà cho thế kỷ 20 bùng phát
về phát triển nghệ thuật.
4. Quan niệm dịch lý trong việc dùng màu, giấy, bút của hội họa Trung
Quốc
Quá trình phát triển nghệ thuật phương Đông nói chung và giá trị nghệ thuật
Trung Quốc nói riêng luôn luôn mang yếu tố riêng biệt trong phương pháp sử
dụng chất liệu và công cụ thể hiện tác phẩm. Chính những đặc trưng riêng biệt đó
tạo dựng cho tác phẩm nghệ thuật có hơi thở cuộc sống riêng, giá trị thẩm mỹ
riêng.
4.1 Phương pháp sử dụng màu sắc trong sáng tạo nghệ thuật của người Trung
Hoa
Người Trung Hoa vốn là cái nôi sản sinh ra thuốc súng, và giấy đầu
tiên trên thế giới, cho nên khả năng tìm kiếm phát minh sáng tạo của người Trung
Hoa mang sắc tố riêng biệt và có tầm thời đại cao. Trong nghệ thuật, người Trung
Hoa sáng tác tác phẩm chủ yếu sử dụng màu nước (water colour) hoặc mực nho.
Tính chất hóa học của thể loại này cũng rất khác so với các chất liệu truyền thống
Công trình phát minh ra nguyên liệu giấy đầu tiên thuộc về người
Trung Hoa cho nên giấy đã đi vào đời sống sinh hoạt và sáng tạo nghệ thuật của
người Trung Hoa từ rất sớm. Bên cạnh giấy thì người Trung Hoa chọn chất liệu
lụa (silk) làm nền sáng tác, bởi Trung Quốc nằm trên tuyến đường “tơ lụa”, một
con đường buôn bán khắp thế giới. Sự giao thương qua lại tác động làm cho lụa
trở thành một mặt hàng đặc trưng của người Trung Hoa được chọn là mặt hàng
quý hiếm được sử dụng khắp nơi.
Chất liệu giấy và lụa được sử dụng chính trong quá trình sáng tác
nghệ thuật, đặc biệt là một chất liệu tạo lên trường phái “thủy mặc của người
Trung Hoa”. Cái quan trọng người Trung Hoa tượng trưng mặt giấy trắng “hư
không”, “màu đen đậm nhạt trên tờ giấy trắng tượng trưng cho sự gắn bó của âm
dương làm nổi bật lẫn nhau”. Lão Tử cũng đã từng nói “vạn vật phụ âm nhi bảo
dương vi hòa” (vạn vật không vật nào mà không dương mà âm, và
nhờ các khí hư vô mà điều hòa lẫn nhau). Như vậy đều quan hệ mắc xích, tương
tác lẫn nhau giữa màu, giấy tạo ra sự hài hòa, tương tác lẫn nhau làm cho nhau
tôn bậc, tạo ra ý nghĩa của từng chi tiết từng hình tượng trong bức tranh.
Màu trắng của giấy không còn là màu giấy mà là màu của trong
hội họa, cái màu đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra tác phẩm. Mặt
giấy có vẽ như không vẽ, vẽ rất đầy đủ và sâu xa. Trong chu dịch đã từng viết
“ký tế dễ tận, vị tế vô tận”. Khởi đầu sáu mươi bốn quẻ là hai quẻ kiền và khôn,
tượng trưng cho hai quẻ âm dương nhưng chúng kết là quẻ vị tế (chưa xong) chứ
không phải là ký tế (đã xong) là vì đạo dịch là đạo biến hóa vô cùng của trời đất,
không thể chấm dứt (ký tế: cái gì đã xong thì sự đã đến chỗ tận cùng rồi) [ĐHPĐ
tr 70]. Nhìn vào tác phẩm của người Trung Hoa so sánh với hội họa cổ điển
phương Tây thì hầu như cho cảm giác người họa sĩ phương Đông chỉ khơi gợi
nơi người xem chứ không vẽ ra những thứ toàn bộ trên mặt giấy. Còn hội họa
phương Tây chú trọng sự hoàn thiện, tỉ mỉ và nghiêm túc trong quá trình đặt
bút… Sự loang lỗ trên mặt giấy tạo cho người xem suy tưởng vào cõi hư không,
trí tưởng tượng của người xem thả hồn theo mặt tranh chứ không dừng lại chứng
nghiệm phân tích hình tượng đúng hoặc sai.
hiện”, sự hòa quyện vào nhau làm cho mọi vật tạo thành hình nắm bắt những cái
không gian vô tận để in dấu vào tác phẩm, để lại thủ pháp vừa thực vừa hư:
Chúng ta xem hàng loạt tác phẩm núi của Thạch Đào, những bông hoa của Tề
Bạch Thạnh, những ngọn thác kỳ vĩ của Thạch Đào, Từ Bi Hồng mới thấy được
giá trị tài nghệ của các họa sĩ sử dụng bút và mực. Cũng một cấy bút lông nhỏ đó
thôi, cũng chỉ một màu trắng đen, nhợt nhạt mà họa sĩ tạo lên cái vô cùng trong
trời và đất.
Trong quan niệm của các họa sĩ phương Tây như Kandinsky “họa sĩ
chỉ sử dụng phương tiện của hội họa mà thôi, hình dạng màu sắc đóng vai trò chủ
đạo” hay họa sĩ Braque “Trở lại cội nguồn hình thành sự sáng tạo hình ảnh: họa sĩ
tư duy bằng hình dạng và màu sắc”. Như vậy chúng ta so sánh quan niệm giữa
Đông và Tây có sự khác biệt nhau rất lớn. Chính sự khác biệt đó nó làm nên giá
trị đích thực trong sáng tạo nghệ thuật.
Người phương Đông khi đặt vấn đề trong sáng tạo họ không đặt vai
trò chủ đạo của tác phẩm là hình dạng (Shape) màu sắc (colour) mà chính “cái sự
đối ngẫu của trời và đất (âm, dương) đực cái làm cho vạn vật sinh sôi nảy nở
dưới sự ảnh hưởng - biến hóa của chúng trong sự sôi động” [Theo Kinh Dịch].
Ngược lại người phương Tây xem trọng “màu sắc là cái có khả năng đặt linh hồn
con người vào khí vận qua con đường trực giác (). Qua các nhận định nói trên,
sự hình thành mỗi trường phái nghệ thuật tất yếu có sự đề cao công cụ hàng đầu
của trường phái cụ thể, để làm tiền đề trong sáng tạo nghệ thuật.
Trong tác phẩm của Thạch Đào, Chương 7 của bản như sau:
Bút và mực hợp lại
Như là hai nhân tố sản sinh đối ngẫu
13
13
Chừng nào mà hai nhân tố này không tách nhau
Thì đó là căn nguyên đơn nhất
Thế mà để mở ra các căn nguyên đơn nhất ấy
Ngoài cái nét đầu tiên thì còn gì nữa?
tôn giáo, làm cho những tác phẩm sống động vô cùng, những bức tranh nổi tiếng
nhờ sử dụng chất liệu sơn dầu như Nàng Moza của Lêôna de vince – “Sáng thế
kỷ” của Mikenlange – “ đồng nhi” của Raphacl… Trên thành tựu đó giai
đoạn Phục Hưng kết hợp công năng của cây cọ được chế tác các thứ lông “heo”
lông “sóc”… làm cho kỹ thuật vẽ vờn bóng và đặc tả nhân vật đạt được độ sâu
trong nhân vật.
Kỹ thuật sáng tác:
Họa sĩ Phục Hưng sử dụng phương pháp sáng tối mạnh mẽ, gam màu
thường sử dụng của họ nâu tối, điều quan tâm hàng đầu của tác phẩm là hình thể
và chủ đề tôn giáo, lối vẽ , vờn màu từ tối đến sáng, không chú trọng đến bút
pháp chỉ chú trọng lột tả hiện thực khách quan, phản ánh trung thực về diện mạo
con người trong giai đoạn đương thời. Chính vì lẽ đó nghệ thuật trong giai đoạn
này vẫn chưa thoát ra khỏi tháp ngà của các tôn giáo, những giáo lý giáo hội vẫn
được áp đặt làm cho “cái tôi” của họa sĩ vẫn được thể hiện rõ ràng, đến giai đoạn
14
14
thế kỷ 19 nghệ thuật phương Tây mới là cuộc cách mạng nghệ thuật vĩ đại khai
sinh ra các thủ pháp sáng tạo nghệ thuật và mở đầu cho các trường phái khác ra
đời như Ấn tượng (impressionism), biểu hiện (expressionism), tượng trưng
(symbolism), lập thế (cubism), dã thú (), siêu thực (sunncalism), trừu tượng
(abtract)…
5.2 Giai đoạn ấn tượng (impressionism) thế kỷ 19
Chủ nghĩa ấn tượng ra đời được xem là cuộc cách mạng vĩ đại trong
quan niệm sáng tạo nghệ thuật mở ra chân trời mới cho không gian nghệ thuật
phương Tây.
Lịch sử chứng minh rằng giai đoạn này, sự biến chuyển không chỉ
trên diễn đàn nghệ thuật mà các trào lưu văn học, khoa học, chính trị cũng đang
trên đà vận động biến đổi. Các đế quốc tăng cường mở rộng thuộc địa của mình,
chủ nghĩa tư bản đang có những sự rạn nứt, khoa học kỹ thụât đang phát triển.
Chính vì lẽ đó nghệ thuật thay đổi là nằm trong quy luật vận động của lịch sử.
320] thay vì mô tả các sự vật “Cé zanne tìm cách trình bày các cốt lõi của hình
dáng tự nhiên” [NTMT tr 320]. Nhưng đối với Vincent Vangogh thì dùng kỹ thụât
mạnh mẽ bằng những đường thẳng , bằng những bức xúc tâm hồn, hình thể
méo mó mang tính tâm trạng, làm cho thủ pháp nghệ thuật riêng biệt. Những đề
15
15
tài họa sĩ quan tâm là những con người nghèo, lang thang, đói kém, những cô gái
điếm,… tạo dựng cho những hình tượng nghệ thuật độc đáo, Vangogh không chỉ
sử dụng kỹ thuật phát bút cứng mạnh mẽ mà ông dùng đến kỹ thuật cào, cấu trúc
mặt tranh làm cho bức tranh như của một tâm hồn, nhưng in vào cảm xúc
của người thưởng ngoạn nâng giá trị nghệ thuật đỉnh cao chưa có giai đoạn nào
trong lịch sử thể hiện được.
Công năng sử dụng bút:
Chủ nghĩa ấn tượng sử dụng bút như là đối tượng truyền tác cảm xúc
từ con tim khối óc của mình, tạo ra mạch cảm xúc ào ạt trên tác phẩm, lối sử
dụng cọ bông ấy, có nên bề mặt sơn , thủ pháp nhưng đồng sự xúc cảm của cái
tôi sáng tạo nghệ thuật.
6. Nhận thức đánh giá quan niệm sử dụng bút của nghệ thuật phương
Đông và phương Tây từ đó rút ra bài học trong sáng tác nghệ thuật của
chủ thể.
6.1 Từ lý thuyết đến thực tiễn trên con đường suy tư sáng tạo của tác giả
Như tôi đã phân tích trong tiến trình phát triển của nghệ thuật theo
quan niệm, nhu cầu thẩm mỹ riêng biệt của thời đại, bộ tộc, quốc gia, lãnh thổ, nó
được tiếp thu tiếp nối trên tiến trình đơn lẻ và cũng có lúc ảnh hưởng qua lại giữa
phương Đông và phương Tây, để làm tiền đề thay đổi cấu trúc thẩm mỹ trong
chặng đường mới. Bản thân là một họa sĩ sáng tác, sự nghiên cứu tích luỹ các
trào lưu nghệ thuật thế giới, qua đó tìm tòi nghiên cứu bản chất vận động đặc
trưng của mỗi dòng nghệ thuật từ đấy rút ra ý niệm sáng tạo của chính bản thân là
một chặng đường vô cùng gian khổ và chông gai.
Nghệ thuật không phải là vết mòn bởi quy luật nghiệt ngã của nghệ
nhiều tác phẩm để lên án, phản kháng lại những hành động phi nhân tính, bên
cạnh đó kết hợp thủ pháp nghệ thuật nhập bút tạo ra âm vang dữ dội cho tác
phẩm.
sáng tạo, giây phút thăng hoa trong sáng tạo là quá trình sống và
nguồn đam mê, triết lý sống sáng tạo để từ đó chứng nghiệm bản thân.
Lêôna de vince – Cé zanne – Vangogh…Tề Bạch Thạnh,… Những
con người lao mình sáng tạo bằng một ý chí niềm tin vững vàng để đến hôm nay
chúng ta có trong tay những phiên bản tác phẩm thật kiệt xuất, mà ở đó chỉ tồn tại
một thứ cuồng si với nghệ thuật đến tột quần. Trong giai đoạn hiện nay thì nghệ
thuật mà cha ông đang hướng đến sự cá tính sáng tạo, đang đẩy vào con đường
của lớp nghệ sĩ của “Đạo Hoạ” một thể nghệ thuật của thị trường dẫn đến sự cao
quý của nghệ thuật ngày càng xuống cấp. Đó cũng là một thách thức cho chính
bản thân là người sáng tạo.
III. PHẦN III: KẾT LUẬN
Trong giai đoạn hiện nay, ngoài việc sự bế tắc trong sáng tạo nghệ thuật, các nghệ
sĩ phương Tây tìm kiếm đến với nghệ thuật phương Đông, các nghệ sĩ thành thị
tìm về bản làng xa xôi hẻo lánh để học những giá trị nghệ thuật dân gian, những
hình thức biểu hiện cũng như biểu hiện tư duy sáng tạo của nghệ thuật hiện đại
đang trở nên một vấn đề tranh cãi gay gắt. Việc tạo dựng ra một chứng cứ vận
động đặc trưng của các nền văn hóa là việc cần phải làm, nhằm có một phương
hướng khai thác để chứng nghiệm bản thân trong quá trình xây dựng tác phẩm.
Cái gì làm nên triết lý của một tác giả, cái gì làm nên một giá trị nghệ thuật đích
thực trong giai đoạn đương đại là vấn đề mấu chốt cần phải tranh luận và tìm ra
phương hướng giải quyết.
Các trào lưu nghệ thuật hiện đại (Mordern art) như sắp trình diễn, Video art,
loại công cụ thể hiện, loại chất liệu hội họa, vấn đề cái gì làm nên thẩm mỹ trong
các tác phẩm của trào lưu đó.
Mỗi dân tộc mỗi cá nhân tìm kiếm phương thức biểu hiện sáng tạo nghệ thuật là
một nếp văn hóa, một quan niệm tâm linh chiều sâu mà không thể thay thế được.
Vì vậy việc phát triển nghệ thuật ngày nay cần phải đưa tính chủ thể sáng tạo lên