Đề tài NCKH: Tính triết lý trong sáng tạo hội họa thể hiện qua cách dùng bút - Pdf 42

ĐỀ TÀI: TÍNH TRIẾT LÝ TRONG SÁNG TẠO HỘI HỌA,
THỂ HIỆN QUA CÁCH DÙNG BÚT
CỦA NGHỆ THUẬT PHƯƠNG ĐÔNG VÀ PHƯƠNG TÂY
I. PHẦN I:
1. Lý do chọn đề tài
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Giá trị khoa học và ý nghĩa của đề tài
6. Kết cấu của tiểu luận
II. PHẦN II: NỘI DUNG
1. Sự ra đời hội họa phương Đông và phương Tây
2. Quan niệm, triết lý sáng tạo nghệ thuật qua cách dùng bút của hội hoạ
phương Đông và phương Tây
2.1 Quan niệm của hoạ sĩ phương Đông
3. Các thủ pháp nghệ thuật riêng biệt tạo dựng dưới ngọn bút đặc trưng của
phương Đông và phương Tây
3.1 Đặc trưng triết lý nghệ thuật phương Đông qua thủ pháp nghệ thuật
3.1.1 Trường phái tả thực (realistic style) và tả ý (impressionistic
style) của nghệ thuật Trung Quốc
3.1.2 Nghệ thuật tranh khắc gỗ của Nhật Bản
3.2 Đặc trưng trường phái phương Tây qua thư pháp nghệ thuật
3.2.1 Trường phái cổ điển Phục Hưng (classical renaussance)
3.2.2 Trường phái ấn tượng (impressionism)
4. Quan niệm dịch lý trong sử dụng màu, giấy của hội họa Trung Quốc
4.1 Quan niệm dịch lý trong sử dụng màu
4.2 Quan niệm dịch lý trong sử dụng giấy, lụa
4.3 Mối quan hệ tương tác giữa bút và mực
5. Tư tưởng trong tác phẩm của hội họa phương Tây
5.1 Thời kỳ cổ điển (classical)
5.2 Thời kỳ ấn tượng (impressionism)

Nhận thức từ chính công việc của tác giả là mấu chốt vấn đề quan trọng để
nhận thức lý luận về sự vận động trong sáng tạo nghệ thuật. Qua đó tác giả sẽ kết
hợp nghiên cứu đánh giá trên những công trình của các tác giả từ Đông đến Tây
như: “Những Nền Tảng Mỹ Thuật” của OCVIRR – STINSON – WIGG – BONE –
CAYTON. “Chu Dịch Và Mỹ Học” của tác giả Lưu Công Ký - Phạm Minh Hoa.
“Tâm Lý Văn Nghệ” của tác giả Chu Quang Tiềm. “Triết Lý Phương Đông” của
tác giả Nguyễn Duy Cần. “Đại Tượng Vô Hình” của Frangois Tullien. “Sơ Đồ Tư
Duy” của tác giả Tony & Barrybazan. “Câu Chuyện Nghệ Thuật Hội Họa” của tác
giả Bcekett. “Những Nền Nghệ Thuật Ngoài Phương Tây” tác giả… “Nghệ thuật
 Qua Hội Hoạ” của tác giả W.HOLMES – CH.HORIONA. “Bốn Bài Giảng Mỹ
Học” tác giả Lý Trạch Hậu. “70 Nhà Danh Họa Bậc Thầy Thế Giới” tác giả…
“Image And Idea” (Hình Ảnh Và Ý Tưởng) tác giả Edmund Burke Feldman. “Phê
Phán Năng Lực Phán Đoán” tác giả ImmanuclRan – Bùi Văn Nam Sơn dịch và
chú giải. “Mỹ Học Heghel” T1 – T2 tác giả biên dịch: Phan Ngọc – và tham khảo
nhiều tác phẩm hội họa khác nhau. Từ đó tác giả sẽ rút ra những vấn đề cơ bản để
đánh giá, so sánh, tìm ra bản chất, nguyên lý của sự vận động trong quá trình sáng
tạo nghệ thuật.
Quá trình nghiên cứu là quá trình thẩm định, đánh giá và học hỏi. Vì vậy vấn
đề nghiên cứu của tiểu luận này vừa mang tính khách quan và nặng tính chủ quan
của tác giả cho nên việc khoa học, chính xác là những vấn đề còn thiếu sót.
3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu:
Mỗi trường phái nghệ thuật, mỗi thiên hướng sáng tạo nghệ thuật của tác giả
đó là kết quả của quá trình tư duy, những con người nghệ sĩ tiêu biểu, tạo dựng cho
2
thời đại nhiều tên tuổi, tác phẩm giá trị như: Lêôna da vince – Mikenlay, Raphacl,
Rodin, Thạch Đào - Tề Bạch Thạnh - Từ Bi Hồng - … cho chúng ta nhận thức giá
trị thẩm mỹ, quan niệm triết lý sống trong từng tác phẩm.
- Thẩm định nguyên lý vận hành của bút tạo dựng riêng biệt (Thần y trong
tác phẩm).
- So sánh làm rõ bản chất giá trị thẩm mỹ của các trường phái nghệ thuật

Tiểu luận gồm có 4 phần:
Phần I: Mở đầu, nêu lên phương pháp nghiên cứu, giá trị khoa học và đóng
góp của tiểu luận.
Phần II: Phần nội dung, làm rõ có tính khoa học, phương pháp so sánh, minh
chứng, diễn giải để tìm ra nguyên nhân, bản chất tồn tại của “bút lông tròn” và
“bút dẹp” tạo ra quan niệm sáng tạo khác nhau trong vấn đề sử dụng, khai thác đặc
trưng của từng loại bút. Từ đó quyết định giá trị thẩm mỹ, giá trị tư tưởng trong tác
phẩm.
Phần III: Kết luận, đúc kết lại quá trình nghiên cứu tìm ra phương pháp giải
quyết hiện tại cho nghệ thuật Việt Nam, và những đóng góp của bản thân trong quá
trình nổ lực sáng tạo, nghiên cứu tìm ra bản chất vận động của nghệ thuật.
Phần IV: Tài liệu tham khảo và ảnh minh họa.
3
II. PHẦN II: NỘI DUNG
1. Lịch sử ra đời của ngôn ngữ hội họa ở phương Tây và phương
Đông:
Lịch sử phát triển của loài người trải qua hàng triệu năm, nhưng từ khi con
người nguyên thủy còn sơ khai với nhận thức với thế giới tự nhiên, chữ viết thì
ngôn ngữ hội họa ra đời rất sớm. Với những phát hiện gần đây nhất của giới khảo
cổ về Châu và Nam Phi Châu (Tanzanic) niên đại biểu hiện đầu tiên của nghệ thuật
thời tiền sử được xác định khoảng 50.000 năm cách đây. Nhưng sự xuất hiện chữ
viết đầu tiên chỉ 5000 năm ở Ai Cập và Lưỡng Hà.
Như vậy loài người biểu đạt ngôn ngữ khá sớm so với chữ viết thể hiện năng
lực tái hiện biểu đạt hình tượng, mà ở đó họ đã khắc họa những hình ảnh tồn tại
xung quanh cuộc sống hoang dã của con người hiện đại (homosapiens). Mặc dầu
những hình vẽ trên các hang động  nhu cầu khác nhau chưa ai khẳng định
được những sự biểu hiện ngôn ngữ vẽ sớm hơn của chữ viết mà theo Văn Ngọc
“Nhân loại trải qua 45.000 năm! Hiện tượng này đã cho thấy rằng nếu khắc, vẽ là
những khả năng gần như bẩm sinh của người hiện đại (honospiens) cách đây
50.000 năm, thì việc sáng tạo ra chữ viết với họ là việc không phải dễ dàng, phải

4
Về quan điểm này có nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau, có các nhà khảo
cổ cho rằng “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, họ cho rằng nghệ thuật của người tiền sử
là vì mục đích thẩm mỹ những người đứng đầu chủ thuyết này là Edouand Lantet
(1801 – 1871), Edouand Piche (1827 – 1906), Gabnicl de Montiiet (1821 – 1898)
và Edouand Catailhae (1845 – 1921). Họ đều thống nhất và cho rằng người hiện
đại (homosapiens) có khả năng cảm xúc và có nhu cầu giải trí…
Một giả thuyết thứ hai cho rằng hình trên các hang động của người nguyên
thủy có một phép màu nào đó lên việc săn bắn cũng như sự sinh con đẻ cái của
người phụ nữ, giả thuyết này do Salomon Reinach (1858 – 1932).
Một giả thuyết đáng quan tâm và đáng ghi nhận của Goenges – Huquet (1876
– 1965) một nhà tâm lý Tâm lý học, ông ta so sánh các bức vẽ trong hang động là
một biểu hiện tương tự như những đứa trẻ con vẽ tranh. Ông ta đưa ra mối quan hệ
những ký hiệu cho trẻ con hay người tiền sử vẽ ra không có mục đích, không có
nội dung nhất định.Vì nhận định giả thuyết này có nhiều bác bỏ, bởi lẽ các hình thể
trong các hang động thể hiện một nhận thức có chiều sâu về tạo hình, biểu hiện sự
tìm kiếm sự vật cấu trúc phức tạp, chứ không ngây ngô như trẻ con hay nói cách
khác đây là những tác phẩm của những họa sĩ nguyên thủy có tài năng xuất chúng.
Luguet cho rằng “sự ham mê sáng tạo của người tiền sử là sự thôi thúc nội tâm”,
“biến những hình ảnh ảo trong đầu thành những hình ảnh cụ thể” (xen minh họa).
Tuy cuộc tranh luận chưa đến hồi kết thúc các giả thuyết đưa ra vừa có tính
chính xác khoa học, và luận điểm của mỗi tác giả, nhưng nhìn chung lại, sự nhận
thức chủ thể của bài viết này có cái nhìn riêng, để đánh giá về nghệ thuật tiền sử
trên cơ sở suy đoán về góc độ chuyên môn.
Tác giả phản bác lại quan điểm của nhóm tác giả cho “Nghệ thuật vị nghệ
thuật” của Edouand Lantet… đánh giá và nêu ra những luận điểm hơi quá với góc
độ người tiền sử, họ cho rằng “người tiền sử có cảm xúc, có nhu cầu giải trí”. Tác
giả thứ hai của Reinach cho rằng xuất phát từ tín ngưỡng, phép màu nào đó lên
việc săn bắn cũng lên sự sinh sản của người phụ nữ, và cuối cùng là của nhà tâm lý
học Luquet (1876 – 1905) cho rằng nghệ thuật nguyên thủy như là sự biểu hiện của

3.1 Đặc trưng triết lý của phương Đông qua thủ pháp sáng tạo nghệ
thuật.
Trong suốt quá trình lịch sử, nền nghệ thuật phương Đông đặc biệt là
nghệ thuật Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản, thể hiện được tầng sâu triết lý về
“thiên, địa, nhân” sự huyền ảo trong quan niệm sống, triết lý sáng tạo đã tác động
đến nghệ thuật phương Đông, làm cho nền nghệ thuật này giàu chất triết lý sáng
tạo về thời gian, về hư vô giữa cuộc sống trần gian.
Mặc dầu sự phát triển nghệ thuật ở phương Đông thiếu tính đồng đều
và dẫn đến sự “cưỡng bức văn hóa” của một số nền mỹ thuật lớn như Ấn Độ áp
đặt mô thức, quan niệm thẩm mỹ cho một số nước lân cận như Campuchia, Thái
Lan, Myanma và dân tộc Chăm ở Việt Nam.
Tuy nhiên thành tựu rực rỡ của văn hóa Ấn Độ đã in dấu vết vàng son
rực rỡ qua các công trình điêu khắc, kiến trúc như: “Đại Bảo Tháp” (Stupa)
Sanchi, Ấn Độ thế kỷ 3 trước CN và “Torana” (Cổng vào) phía Đông thế kỷ thứ 1
trước CN, “Tượng Nữ Dạ Xoa” (Yakshi) thế kỷ thứ 1 trước CN. (minh học
H1,H2,H3)… Đó là thành tựu rực rỡ  cho một nền nghệ thuật lấy điêu khắc làm
chủ đạo trong việc  lên một tầng thức thẩm mỹ dựa theo ý niệm của tôn giáo
tâm linh và huyền thoại. Mặt khác ở Trung Quốc và Nhật Bản, nghệ thuật phát
triển rực rỡ vẫn là thể loại tranh “thủy mặc” và tranh khắc gỗ và các dòng tranh
mang âm hưởng của các giáo phái “thiền” , cho nên tạo dựng thủ pháp nghệ
thuật có tính đặc trưng mang phong cách tiêu biểu. Những họa sĩ đã làm nên tên
tuổi vĩ đại cho nghệ thuật Trung Quốc như Thạch Đào – Văn Thủy Minh – Đông
. Thời hiện đại gồm có  Thùy - Tề Bạch Thạnh - Từ Bi Hồng – Yeyusnan –
LuozhongLi… Nhật Bản tuy về lịch sử hội họa có ảnh hưởng đôi chút về dòng
giáo lý của nền nghệ thuật Trung Quốc nhưng càng về sau các nghệ sĩ Nhật Bản đã
vạch ra hướng đi mới giàu triết lý, suy tư về dòng đời mà được chứng nghiệm bởi
thế giới quan của con người Nhật Bản, chẳng hạn như: SennoRikya – Hon
amikoetsu – Kitagada Utamaro – Katsushi Kahokusai – Hasimoto sadehide - , và
điều đáng chú ý những tác giả vào thế kỷ 19 của Nhật Bản đã tác động đến nền
nghệ thuật của phương Tây, đặc biệt là các họa sĩ Ấn Tượng (Impressionism) như


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status