TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Tài chính quốc tế
CÁC YẾU TỐ QUYẾT ĐỊNH CƠ CẤU VỐN CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRONG NGÀNH
XÂY DỰNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên: Đinh Thùy Linh
Mã sinh viên: 0853010054
Lớp: Anh 2 – Khối 1 TC
Khóa: 47
Người hướng dẫn: ThS. Dương Thị Hồng Vân
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I 3
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CƠ CẤU VỐN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI
CƠ CẤU VỐN CỦA DOANH NGHIỆP
2.2.2. Nhạy cảm với chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vĩ mô 31
2.2.3. Mối tương quan với thị trường bất động sản 31
2.3. Mô hình nghiên cứu thực nghiệm các yếu tố tác động đến cơ cấu vốn của
các doanh nghiệp niêm yết trong ngành xây dựng trên thị trường chứng khoán
Việt Nam 32
2.3.1. Mô tả biến, xây dựng mô hình kinh tế lượng 32
2.3.2. Các giả thiết về mối tương quan giữa cơ cấu vốn và các yếu tố tác động
đến cơ cấu vốn 34
2.3.3. Mô tả và phân tích số liệu 37
2.3.4. Ước lượng mô hình hồi quy 43
2.3.5. Phân tích kết quả ước lượng 45
2.4. Kết luận 55
CHƯƠNG III 59
KHUYẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CƠ CẤU VỐN TỐI ƯU
CHO DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRONG NGÀNH XÂY DỰNG TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
3.1. Một số hàm ý rút ra từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm 59
3.2. Một số giải pháp và khuyến nghị giúp doanh nghiệp xây dựng cơ cấu vốn tối
ưu 60
3.2.1. Các giải pháp cho doanh nghiệp 60
3.2.2. Các khuyến nghị đối với các cơ quan quản lý 62
KẾT LUẬN CHUNG 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Bảng mô tả biến phụ thuộc 32
Bảng 2.2: Bảng mô tả biến giải thích 34
Bảng 2.3: Tóm tắt các giả thiết về tương quan giữa các yếu tố tác động và cơ cấu
vốn 37
Bảng 2.4: Tóm tắt số liệu thống kê các biến 38
Bảng 2.5: Ma trận tương quan giữa các biến giải thích và biến phụ thuộc 41
nền kinh tế có thể nhìn thấy đầu tiên ở các doanh nghiệp ngành xây dựng, khi hàng
loạt dự án bị đình trệ, cắt giảm, hay chuyển đổi công năng. Do đó, vai trò của huy
động vốn, xác định cơ cấu vốn tối ưu đối với các doanh nghiệp ngành xây dựng vô
cùng quan trọng. Hiểu biết về các yếu tố tác động đến cơ cấu vốn sẽ góp phần giúp
các doanh nghiệp đưa ra các quyết định về cơ cấu vốn phù hợp với tình hình chung
của thị trường và hoàn cảnh riêng của mỗi doanh nghiệp.
Từ sau khi Modigliani và Miller lần đầu tiên đưa ra lý thuyết hiện đại về cơ
cấu vốn vào năm 1958, đã có rất nhiều lý thuyết được phát triển để giải thích sự lựa
chọn cơ cấu vốn của các doanh nghiệp như lý thuyết trật tự phân hạng, lý thuyết chi
phí đại diện, hay lý thuyết đánh đổi. Trên thế giới cũng đã có rất nhiều nghiên cứu
thực nghiệm kiểm chứng sự áp dụng của những lý thuyết này trong thực tế các
doanh nghiệp và tìm hiểu tác động của các yếu tố từ vĩ mô tới vi mô đến cơ cấu
vốn. Tại Việt Nam, vấn đề này đang khá được quan tâm, và đã có một số nghiên
cứu như nghiên cứu của Trần Thị Thanh Tú (2006), Trần Hùng Sơn (2008), Trần
Hùng Sơn và Trần Viết Hoàng (2008). Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào đi vào cơ
cấu vốn của từng ngành.
Vì những lí do trên, người viết chọn đề tài: “Các yếu tố quyết định cơ cấu
vốn của các doanh nghiệp niêm yết trong ngành xây dựng trên thị trường chứng
khoán Việt Nam” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình.
2
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là xem xét tác động của một số nhân tố
lên cơ cấu vốn của các doanh nghiệp niêm yết trong ngành xây dựng trên thị trường
chứng khoán Việt Nam, tìm ra yếu tố nào có tác động tới cấu trúc vốn, tác động
theo chiều nào và mức độ mạnh yếu ra sao. Căn cứ vào đó, người viết đưa ra một số
khuyến nghị để giúp doanh nghiệp xây dựng cơ cấu vốn tối ưu.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là một số yếu tố tác động lên cơ cấu vốn
của doanh nghiệp. Để phù hợp với khả năng thu thập thông tin, các yếu tố được
nghiên cứu bao gồm: một số yếu tố vi mô (lá chắn thuế phi nợ, quy mô, rủi ro kinh
doanh, tính thanh khoản, tài sản cố định hữu hình, khả năng sinh lời, cơ hội tăng
tư này được doanh nghiệp huy động theo hai phương pháp cơ bản: vay vốn (từ ngân
hàng, các nhà đầu tư tổ chức và cá nhân, thuê tài chính,… ) hoặc sử dụng vốn chủ
sở hữu của doanh nghiệp.
Tuy nhiên, những bên có vốn thặng dư sẽ không tự nguyện cung cấp khoản
vốn này cho doanh nghiệp nếu không kì vọng rằng họ sẽ thu được mức lợi nhuận
lớn hơn, hoặc ít nhất là bằng, mức lợi nhuận họ có thể kiếm được khi sử dụng số
tiền này cho khoản đầu tư có độ rủi ro tương đương. Phần lợi nhuận bù đắp cho việc
tạm thời từ bỏ quyền sử dụng vốn trong hiện tại để đầu tư cho doanh nghiệp chính
là chi phí vốn. Nói cách khác, chi phí vốn của doanh nghiệp là lợi nhuận kì vọng
của một danh mục đầu tư bao gồm tất cả các chứng khoán hiện có của doanh
nghiệp (Brealey & Meyers, 1983)
1
. Đây cũng chính là chi phí cận biên khi doanh
nghiệp muốn huy động thêm một đơn vị vốn.
Những nguồn vốn khác nhau yêu cầu chi phí vốn khác nhau, do sự khác biệt
về các yếu tố như mức độ ưu tiên, các điều khoản hợp đồng, thuế,… Sau đây, người
viết sẽ phân tích chi phí vốn của hai nguồn vốn cơ bản: vốn vay và vốn chủ sở hữu.
1.1.1.1. Vốn vay
Vốn vay được hình thành từ việc doanh nghiệp phát hành chứng khoán nợ
hoặc vay ngân hàng và các tổ chức khác. Chi phí vốn vay là lãi suất doanh nghiệp
phải trả trên một đơn vị vốn vay thêm. Ví dụ, nếu doanh nghiệp vay vốn của ngân
1
Richard A. Brealey, and Stewart C. Myers, 1983. Principles of Corporate Finance. 7
th
ed. New York:
McGraw-Hill, p. 222
4
hàng, chi phí vốn vay chính là lãi suất của khoản vay. Hoặc nếu doanh nghiệp phát
- Khoản tiền doanh nghiệp phải trả trong kì t
- Chi phí sử dụng vốn vay trước thuế
FV - Giá trị đáo hạn của khoản nợ
n - Số kì còn lại cho đến ngày đáo hạn
Chi phí vốn vay sau thuế được xác định theo công thức:
=
(
1 −
)
Trong đó:
- Chi phí vốn vay sau thuế
- Chi phí vốn vay trước thuế
t - Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
Ví dụ, một doanh nghiệp phải trả 10 triệu đồng lãi vay cho tổng số nợ 100
triệu đồng. Thuế thu nhập doanh nghiệp là 20%. Vì lãi vay đã làm thu nhập chịu
thuế giảm đi 10 triệu, thuế phải nộp giảm đi 2 triệu. Do vậy, 10 triệu lãi vay chỉ
khiến doanh nghiệp phải mất chi phí là (10 triệu) (1 - 20%) = 8 triệu. Chi phí vốn
vay trước thuế là 10%, chi phí vốn vay sau thuế là 8%.
5
– Giá hiện tại của một cổ phiếu ưu đãi
b. Chi phí sử dụng cổ phiếu thường
Do sự không ổn định và đều đặn của dòng tiền trong tương lai nên khó có thể
ước tính chính xác chi phí sử dụng cổ phiếu thường. Có 3 phương pháp thường
được sử dụng: mô hình định giá tài sản (the capital asset pricing model – CAPM),
mô hình tăng trưởng cổ tức (the dividend discount model – DDM) và phương pháp
theo lãi suất trái phiếu cộng thêm phần bù rủi ro.
6
Phương pháp mô hình định giá tài sản (CAPM)
Theo phương pháp CAPM, lợi suất kì vọng của một cổ phiếu là tổng của lãi
suất phi rủi ro cộng với phần bù rủi ro thị trường của cổ phiếu.
(
)
=
+
(
)
−
)
Trong đó:
– Giá trị thực của cố phiểu
– Cổ tức dự tính nhận được cuối năm thứ t
– Chi phí sử dụng cổ phiếu thường
Với giả thiết rằng cổ tức tăng trưởng đều hàng năm với tốc độ tăng trưởng g,
giá cổ phiếu phản ánh giá trị thực của nó (
=
), giá của cổ phiếu có thể viết lại
như sau:
=
−
=
=
+
Mức bù rủi ro này thường được ước tính bằng cách sử dụng giá trị chênh
lệch giữa giá cổ phiếu và giá trái phiếu doanh nghiệp trong quá khứ.
1.1.1.3. Chi phí vốn bình quân (Weighted Average Cost of Capital - WACC)
Chi phí vốn bình quân là bình quân gia quyền của chi phí sử dụng vốn từ các
nguồn khác nhau, được tính theo công thức:
=
(
1 −
)
+
+
Trong đó:
– Tỉ trọng vốn vay
- Chi phí vốn vay cận biên trước thuế
Giá trị doanh nghiệp hay giá trị cổ phiếu của doanh nghiệp luôn chứa đựng
nhiều rủi ro. Một mặt, đó là rủi ro do lợi nhuận và dòng tiền tương lai của doanh
nghiệp là không ổn định và khó có thể dự đoán chính xác. Mặt khác, rủi ro có thể
đến từ việc phân phối lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh cho chủ nợ và
chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Vì vậy, rủi ro hệ thống của cổ phiếu một doanh nghiệp bao gồm 2 thành
phần: rủi ro kinh doanh (business risk) và rủi ro tài chính (finance risk).
a. Rủi ro kinh doanh
Rủi ro kinh doanh là những rủi ro gắn với thu nhập từ hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp
3
. Nó là kết quả của những rủi ro về doanh thu và về
chi phí cần thiết để tạo ra doanh thu đó. Những doanh nghiệp trong cùng một ngành
thường chịu rủi ro kinh doanh tương tự nhau.
Rủi ro kinh doanh bao gồm: rủi ro doanh thu (sales risk) và rủi ro hoạt động
(operating risk).
2
Ross, A.S., Westerfield, W.R., and Jordan, D.B., 1996. Essentials of Corporate Finance. 6
th
ed. New York:
McGraw-Hill, p. 382
3
Ross, A.S., Westerfield, W.R., and Jordan, D.B., 1996. Essentials of Corporate Finance. 6
th
ed. New York:
McGraw-Hill, p. 412
9
Doanh thu của doanh nghiệp chịu tác động của rất nhiều yếu tố như các điều
th
ed. New York:
McGraw-Hill, p. 413
10
Nợ/Tổng tài sản = 0%
Lợi nhuận dự
tính giảm 40%
(triệu VND)
Lợi nhuận
dự tính
(triệu VND)
Lợi nhuận dự
tính tăng 40%
(triệu VND)
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay 300
500
700
Chi phí lãi vay 0
0
0
Lợi nhuận trước thuế 300
Lợi nhuận dự
tính tăng 40%
(triệu VND)
Lợi nhuận trước thuế và lãi vay 300
500
700
Chi phí lãi vay 100
100
100
Lợi nhuận trước thuế 200
400
600
Thuế 60
120
180
Lợi nhuận sau thuế 140
cách phát hành thêm cổ phiếu và dùng tiền thu được để trả nợ, từ đó làm giảm tỉ lệ
nợ trên vốn chủ sở hữu; hoặc tăng nợ và dùng tiền vay để mua lại cổ phiếu, làm
tăng tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu. Các hoạt động như vậy làm thay đổi cơ cấu vốn
của doanh nghiệp trong khi không làm thay đổi tài sản, được gọi là tái cơ cấu vốn.
Một câu hỏi luôn được đặt ra: Doanh nghiệp nên sử dụng tỉ lệ nợ trên vốn
chủ sở hữu là bao nhiêu? Các quyết định về cơ cấu vốn phải được hình thành trên
mục tiêu tối đa hóa giá trị cổ đông, cũng đồng thời là tối đa hóa giá trị của doanh
nghiệp. Giá trị của doanh nghiệp sẽ càng cao, khi chi phí vốn bình quân càng thấp.
Vì vậy, cơ cấu vốn phải được lựa chọn sao cho tạo ra chi phí vốn bình quân càng
thấp càng tốt. Tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu tạo ra chi phí vốn bình quân thấp nhất
có thể gọi là cơ cấu vốn tối ưu. Khi doanh nghiệp đạt được cơ cấu vốn tối ưu, giá trị
của doanh nghiệp sẽ được tối đa hóa
6
.
Tuy nhiên, cơ cấu vốn chịu tác động của nhiều yếu tố khó đánh giá được
chính xác. Vì vậy, xác định cơ cấu vốn tối ưu cho một doanh nghiệp tại một thời
điểm nhất định vẫn còn là một thách thức đối với doanh nghiệp và các nhà nghiên
cứu.
1.2. Các lý thuyết về cơ cấu vốn
1.2.1. Lý thuyết cơ cấu vốn của Modigliani và Miller (M&M)
1.2.1.1. Các giả định
Lý thuyết M&M về cơ cấu vốn được đưa ra bởi hai nhà kinh tế học
Modigliani và Miller (1958). Lý thuyết này dựa trên những giả định quan trọng sau:
Tất cả các nhà đầu tư có cùng kì vọng đối với dòng tiền từ cùng một
khoản đầu tư. Như vậy, kì vọng của nhà đầu tư về thu nhập từ một
loại trái phiếu hoặc cổ phiếu nào đó là như nhau.
Thị trường vốn hoàn hảo. Điều này nghĩa là sẽ không có chi phí giao
dịch, thuế, chi phí kiệt quệ tài chính hay chi phí phá sản, và mọi người
6
Giả sử có hai công ty có cùng kì vọng và rủi ro về dòng tiền trong tương lai.
Hai công ty sẽ có cùng tỉ lệ chiết khấu giá trị dòng tiền. Cho dù cơ cấu vốn của hai
công ty khác nhau, giá trị hiện tại của hai dòng tiền sau khi chiết khấu là như nhau,
có nghĩa là hai công ty có giá trị bằng nhau.
Mệnh đề 1 được giải thích bởi những lí do sau:
Thứ nhất, vì thị trường vốn hoàn hảo nên không có chi phí chuyển đổi khi
chuyển từ nguồn vốn này sang nguồn vốn khác, từ khoản đầu tư này sang khoản
đầu tư khác. Nhà quản lý doanh nghiệp có thể lựa chọn và điều chỉnh theo bất cứ cơ
cấu vốn nào họ mong muốn. Các nhà đầu tư cũng dễ dàng thay đổi các thành phần
trong rổ đầu tư của họ.
13
Thứ hai, nếu giá trị của một công ty có vay nợ khác với giá trị của một công
ty không có vay nợ, các nhà đầu tư có thể kiếm lợi nhuận từ đầu cơ chênh lệch giá.
Quá trình bán tài sản được định giá cao và mua tài sản được định giá thấp sẽ nhanh
chóng đẩy giá trị của hai công ty về cân bằng với nhau.
Thứ ba, tăng tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu làm tăng rủi ro đối với người nắm
giữ cổ phiếu của doanh nghiệp. Vì vậy, họ sẽ yêu cầu mức lợi suất cao hơn. Sự tăng
lên của lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu sẽ bị khấu trừ bởi sự tăng lên của lợi suất yêu
cầu, dẫn đến giá trị của doanh nghiệp không thay đổi.
Mệnh đề M&M số 1 chỉ ra rằng, chi phí vốn bình quân của doanh nghiệp
trong trường hợp không có thuế không hề chịu ảnh hưởng của cơ cấu vốn.
b. Mệnh đề 2: Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu là một hàm tuyến tính với tỉ lệ
nợ/vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Không tính đến thuế thu nhập doanh nghiệp, chi phí vốn bình quân của
doanh nghiệp được biểu diễn như sau:
=
+
=
14
Viết lại, ta được công thức thể hiện mệnh đề M&M số 2:
=
+
(
−
)
Vì trái chủ có thứ tự quyền hạn đối với tài sản của doanh nghiệp trước chủ sở
Vì thuế thu nhập doanh nghiệp được trừ đi trong thu nhập chịu thuế của
doanh nghiệp, việc sử dụng nợ được coi như một “lá chắn thuế” giúp làm tăng giá
D/E
Chi phí sử dụng vốn (%)
WACC
15
trị của doanh nghiệp. Nếu bỏ qua chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí phá sản, giá trị
của doanh nghiệp sẽ tăng khi tăng tỉ trọng nợ trong cơ cấu vốn.
Modigliani và Millier chỉ ra rằng, khi tính đến thuế thu nhập doanh nghiệp,
giá trị của công ty có vay nợ lớn hơn giá trị công ty không có vay nợ một khoảng
bằng thuế suất nhân với giá trị của nợ vay. Mệnh đề M&M số 1 được biểu diễn như
sau:
=
+
Trong đó: t là thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, D là giá trị nợ vay.
Hình 1.2: Mệnh đề 1 của lý thuyết M&M trong trường hợp có thuế
tD
D
V
U16
b. Mệnh đề 2
Trong trường hợp có thuế, chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu cũng tỉ lệ thuận
với tỷ số nợ/vốn chủ sở hữu (hay mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính). Modigliani và
Miller biểu diễn mối quan hệ này như sau:
=
+
(
−
)
(1 −)
Hình 1.3: Mệnh đề M&M số 2 trong trường hợp có thuế
nghiệp giảm sút, thậm chí là âm, đẩy doanh nghiệp vào tình cảnh căng thẳng và kiệt
quệ về tài chính, không đủ khả năng thanh toán nợ đúng hạn, dẫn tới phá sản. Tình
trạng này gây ra nhiều chi phí cho doanh nghiệp, đó là chi phí kiệt quệ tài chính.
Chi phí kiệt quệ tài chính tạo nên bởi hai thành phần: 1) chi phí phát sinh khi
tình trạng kiệt quệ về tài chính hoặc phá sản xảy ra; và 2) khả năng xảy ra tình trạng
kiệt quệ tài chính và phá sản.
Các chi phí này bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Chi phí trực
tiếp là những chi phí bằng tiền thực, gắn trực tiếp với quá trình phá sản, ví dụ như
các chi phí về pháp lý. Chi phí gián tiếp là các chi phí do cơ hội đầu tư bị bỏ lỡ, suy
giảm khả năng hoạt động, và chi phí đại diện (agency costs) gắn với nợ trong giai
đoạn doanh nghiệp sắp phá sản hoặc đã rơi vào tình trạng phá sản
7
.
Khả năng doanh nghiệp phá sản phụ thuộc một phần vào rủi ro kinh doanh
của doanh nghiệp, phần khác phụ thuộc vào chính sách quản lý, điều hành. Tỉ lệ nợ
của doanh nghiệp càng cao, khả năng chịu đựng sự bất ổn của môi trường kinh
doanh càng thấp, dự trữ vốn để ngăn cản quá trình phá sản càng ít, và do đó chi phí
kiệt quệ tài chính càng cao.
1.2.3. Lý thuyết chi phí đại diện (Agency Costs)
Có một thực tế rằng tất cả các công ty cổ phần đều không được quản lý bởi
chủ sở hữu, từ đó nảy sinh mâu thuẫn lợi ích giữa người quản lý và chủ sở hữu của
doanh nghiệp. Người quản lý doanh nghiệp có thể sẽ không đưa ra các quyết định vì
quyền lợi của chủ sở hữu, thậm chí còn làm tổn hại những quyền lợi đó (ví dụ người
quản lý không nỗ lực làm tăng giá trị doanh nghiệp, sử dụng tiền của doanh nghiệp
7
Ross, A.S., Westerfield, W.R., and Jordan, D.B., 1996. Essentials of Corporate Finance. 6
th
ed. New York:
McGraw-Hill, p. 417
8
Jensen, M., 1986. Agency costs of free cash flow, corporate finance and take overs. American Economic
Review 76, pp. 323-339
19
1.2.5. Mô hình cơ cấu vốn tối ưu theo lý thuyết đánh đổi (The Static Trade-off
Theory)
Trước khi đưa ra một quyết định về cơ cấu vốn, doanh nghiệp phải cân nhắc
tác động của nó đối với giá trị của doanh nghiệp. Khi tăng tỉ lệ nợ trên vốn chủ sở
hữu, lợi thế về giảm trừ thuế sẽ làm tăng giá trị của doanh nghiệp. Mặt khác, chi phí
kiệt quệ tài chính, chi phí đại diện của nợ và chi phí thông tin bất cân xứng lại tăng
lên, làm giảm giá trị của doanh nghiệp.
Kết hợp hai yếu tố: tác động của thuế và chi phí kiệt quệ tài chính trong mô
hình cơ cấu vốn tối ưu theo lý thuyết đánh đổi, giá trị của doanh nghiệp được biểu
diễn như sau:
=
+ −(ℎ ℎí ệ ệ à ℎíℎ)
Trong đó: V
L
– Giá trị của doanh nghiệp có vay nợ
V
U
– Giá trị của doanh nghiệp không vay nợ (100% vốn chủ sở hữu)
t – Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp
D – Giá trị thị trường của nợ vay
PV(Chi phí kiệt quệ tài chính) -Giá trị hiện tại của chi phí kiệt quệ tài
chính
Giá trị thị trường của
doanh nghiệp
D/E
D/E tối ưu
V
U
Lá chắn
thuế tD
PV (Chi phí kiệt
quệ tài chính)
V
L
Giá trị tối đa của
doanh nghiệp
21
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu vốn
Các lý thuyết về cơ cấu vốn được trình bày ở phần trên đã cung cấp một cái
nhìn tổng thể về quá trình quyết định cơ cấu vốn doanh nghiệp. Trong thực tế, có rất
nhiều yếu tố từ vĩ mô đến vi mô tác động lên các tiêu chuẩn dùng để xác định cơ
cấu vốn, do đó làm thay đổi cơ cấu vốn của doanh nghiệp.
1.3.1. Đặc điểm của mỗi quốc gia
1.3.1.1. Khung pháp lý
Hệ thống pháp luật và hiệu quả thực thi của hệ thống pháp luật khác nhau ở
mỗi quốc gia, gây ra ảnh hưởng khác nhau tới cơ cấu vốn.
Nếu hệ thống pháp luật được quy định chặt chẽ, rõ ràng, và được thực thi
hiệu quả, bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, chi phí đại diện sẽ giảm. Doanh nghiệp
hoạt động ở các quốc gia có hệ thống pháp luật mạnh hơn sẽ duy trì tỉ lệ nợ thấp