BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HỒ CHÍ MINH
ĐINH THỊ HỒNG THẮM
TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN
KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
VẬT LIỆU XÂY DỰNG TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số ngành: 60340301
TP. HCM, tháng 04-2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HỒ CHÍ MINH
ĐINH THỊ HỒNG THẮM
TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN
KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
VẬT LIỆU XÂY DỰNG TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số ngành: 60340301
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN MINH HÀ
TP. HCM, tháng 04-2015
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP. HCM
Cán bộ hướng dẫn khoa học : PGS.TS NGUYỄN MINH HÀ
(Ghi rõ họ, tên, học hàm, học vị và chữ ký)
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Công nghệ TP. HCM
ngày 19 tháng 04 năm 2015
Ngày, tháng, năm sinh : 19/05/1977 Nơi sinh : Quảng Bình
Chuyên ngành : Kế toán MSHV : 1341850043
I- Tên đề tài:
Tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lợi của các doanh
nghiệp vật liệu xây dựng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
II- Nhiệm vụ và nội dung:
Nghiên cứu tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lợi của các
doanh nghiệp vật liệu xây dựng trên thị trường chứng khoán Việt Nam
III- Ngày giao nhiệm vụ : 18/08/2014
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ : 15/03/2015
V- Cán bộ hướng dẫn : PGS.TS. Nguyễn Minh HàCÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
PGS.TS. Nguyễn Minh Hà
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: “TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ
VỐN LƯU ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP
VẬT LIỆU XÂY DỰNG TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM” là
công trình nghiên cứu của cá nhân tôi. Nguồn dữ liệu sử dụng để phân tích trong bài
này là báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các công ty vật liệu xây dựng
niêm yết, được lấy từ trang web của sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh, Hà
Nội và các công ty chứng khoán, tôi bảo đảm nội dung luận văn là độc lập, không
sao chép từ bất kỳ một công trình nào khác.
Học viên thực hiện Luận văn
Đinh Thị hồng Thắm
ii
LỜI CẢM ƠN
công ty thông qua việc giảm chu kỳ chuyển đổi tiền mặt một cách thận trọng ở mức
tối thiểu của nó. Khi làm như vậy, khả năng sinh lợi của các công ty chắc chắn sẽ
gia tăng.
Từ khóa: Quản trị vốn lưu động, khả năng sinh lợi, công ty vật liệu xây dựng
iv
ABSTRACT
Working capital management plays an important role in improving the
profitability of the company. The company can optimise their working capital by
making the trade-off between profitability and liquidity. This article analyzes the
impact of working capital management on profitability of 49 building materials
companies in Vietnam stock market from 2009 to 2013. Based on the unbalance
panel data, Pearson correlations analysis and the regression analysis is used to
establish the relationship between working capital management and profitability of
the company. The study shows that the negative relationship between ROA, ROE
and the average collection period and cash conversion cycle, but the positive
relationship between ROA, ROE and the average payment period. The study results
showed that the inventory conversion period has negative relationships with
ROA, TOBINQ, but no relationship with ROE. The study found no relationship
between the average collection period and the average payment period for
TOBINQ, but the cash conversion cycle has negative relashionship to TOBINQ.
In addition, financial leverage, sales growth, are also significantly affected the
profitability of the company. The results of this study show that the building
materials companies in Vietnam stock market can manage their working capital in
ways that benefit the most. The company also can extend the time to pay the debt if
negotiations with their suppliers. The company has the ability to achieve a
sustainable competitive advantage by effectively use the resources of the company
through a reduction in the cash conversion cycle carefully at its minimum. In doing
so, the company’s profitability is sure to increase.
Key words: Working capital management, profitability, building materials company
v
3.4. Mô hình nghiên cứu 25
3.5. Mô tả và phương pháp đo lường các biến trong mô hình. 26
3.5.1. Các biến phụ thuộc 26
3.5.2. Các biến độc lập 27
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
4.1. Đặc điểm ngành vật liệu xây dựng 33
4.2. Thực trạng quản trị VLĐ tại các công ty VLXD trên TTCK Việt Nam334
4.3. Phân tích thống kê mô tả các biến 36
4.4. Phân tích tương quan Pearson giữa các biến 39
4.5. Kiểm định đa cộng tuyến 42
4.6. Kết quả hồi quy và lựa chọn mô hình 42
4.6.1. Kết quả hồi quy 42
4.6.2. Lựa chọn mô hình 48
4.7. Phân tích kết quả hồi quy 49
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 58
5.1. Kết luận 58
5.2. Một số khuyến nghị 60
5.3. Hạn chế 62
5.4. Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Viết tắt
Tiếng Việt
Tiếng Anh
ACP
Kỳ thu tiền bình quân
Average Collection Period
APP
Kỳ thanh toán bình quân
Bình phương tối thiểu
Ordinary Least Squares
ROA
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản
Return on Assets
ROE
Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở
hữu
Return on Equity
STATE
Tỷ lệ vốn sở hữu nhà nước
State ownership on total equity
SIZE
Quy mô doanh nghiệp
Firm size
SG
Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu
Sales growth
TOBINQ
Giá trị doanh nghiệp
Maket value
WCM
Quản trị vốn lưu động
Working capital management
DT
Doanh thu
ĐĐN
Đặc điểm ngành
HQHĐDN
Hiệu quả hoạt động doanh nghiệp
Bảng 4.7: Kết quả hồi quy theo biến ROE 45
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy theo biến TOBINQ 47
Bảng 4.9: Bảng tổng hợp kết quả so sánh các mô hình dựa vào Hausman test 49
Bảng 4.10: Tổng hợp kết quả hồi quy theo các mô hình được lựa chọn 50
x
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Sơ đồ tín dụng thương mại 8
Hình 2.2: Sơ đồ mức dự trữ hàng tồn kho 9
Hình 2.3: Sơ đồ chu kỳ vốn lưu động 10
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình nghiên cứu 21
Hình 3.2: Sơ đồ mô hình hồi quy 26
1
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Vốn lưu động là một phần quan trọng của hoạt động kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp, là điều cần thiết cho các hoạt động kinh doanh liên tục. Đó là yêu cầu của
một công ty để duy trì tính thanh khoản, khả năng thanh toán, sự sống còn và khả
năng sinh lời (Mukhopadhyay, 2004). Việc quản trị hiệu quả các khoản phải thu,
hàng tồn kho, và các khoản phải trả có một tác động đáng kể vào sự thành công của
doanh nghiệp. Nếu vốn đầu tư bằng tiền mặt, các khoản phải thu thương mại, hàng
tồn kho là không đủ, các công ty có thể gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt
động kinh doanh hàng ngày. Điều này có thể dẫn đến doanh số bán hàng suy giảm
và cuối cùng là giảm lợi nhuận. Vì vậy quản trị vốn lưu động và lợi nhuận chắc
chắn có một số mối quan hệ với nhau. Xem xét tầm quan trọng của quản trị vốn lưu
động, nhiều nhà nghiên cứu đã tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa quản trị
vốn lưu động và khả năng sinh lợi như Deloof (2003), Padachi (2006), Binti
Mohamad và Mohd Saad (2010), Gul và ctg (2013), Sharma và Kumar (2011),
Athar Iqbal và Madhu Mati (2012), Gamze Vural và ctg (2012), Makori. D. M. và
Ambrose Jagomo (2013). Tuy nhiên, trong lĩnh vực vật liệu xây dựng ở Việt Nam
chưa được xem xét một cách cụ thể, rõ ràng về tác động của quản trị vốn lưu động
lợi doanh nghiệp?
- Các khuyến nghị nào ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp?
1.2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Các doanh nghiệp vật liệu xây dựng
Phạm vi nghiên cứu: Các doanh nghiệp vật liệu xây dựng trên thị trường
chứng khoán Việt Nam từ năm 2009 đến 2013
1.2.4. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp định lượng với mô hình hồi quy đa biến
- Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Stata với ba phương pháp ước lượng:
Pooled ordinary least square (OLS), Random effects (REM), fixed effects
(FEM) để phân tích các ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động lên khả năng
sinh lợi của các doanh nghiệp vật liệu xây dựng trên thị trường chứng khoán
Việt Nam.
- Ngoài ra phương pháp nghiên cứu khác cũng được sử dụng như phương pháp
3
thống kê, phân tích định tính, phương pháp tổng hợp…
1.3. Ý nghĩa nghiên cứu
Những phát hiện của nghiên cứu này là hữu ích cho các nhà quản lý tài chính
của ngành vật liệu xây dựng như cung cấp những thông tin liên quan đến
việc quản lý nguồn vốn ngắn hạn, giúp các nhà quản lý có đối sách để quản
trị hiệu quả các thành phần của vốn lưu động: kỳ thu tiền bình quân, kỳ luân
chuyển hàng tồn kho, kỳ thanh toán bình quân, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt.
Qua đó góp phần cải thiện khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, nhằm tăng lợi
thế cạnh tranh trên thị trường.
1.4. Kết cấu luận văn
Kết cấu luận văn bao gồm năm chương với nội dung như sau:
Chương 1: Mở đầu.
Chương này trình bày về lý do nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng, phương
pháp, ý nghĩa của nghiên cứu.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước
cấp hệ thống kiểm soát toàn diện, là nơi mà các chiến lược của công ty được triển
khai đến tất cả các quy trình kinh doanh, các hoạt động, nhiệm vụ và từng nhân
viên, và thông tin phản hồi thu được thông qua hệ thống quản trị hiệu quả cho phép
có các quyết định quản trị thích hợp. Mục đích cuối cùng của quá trình đó là để cải
thiện hiệu quả của công ty.
Đo lường hiệu quả là một phần quan trọng của quản trị hiệu quả. Bằng cách
đo lường, sẽ chuyển đổi thực tế phức tạp thành những khái niệm số đơn giản mà có
thể dễ dàng truyền đạt và thực thi (Lebas, 1995). Theo Lebas, đơn giản hóa các thực
tế bằng cách đo lường là điều kiện tiên quyết cho việc quản trị thành công. Tương
tự như vậy, Bititci và ctg (1997) cho rằng đo lường hiệu quả là trung tâm của quá
trình quản trị hiệu quả và nó có tầm quan trọng đối với quản trị hiệu quả.
Để đo lường hiệu quả hoạt động của công ty có thể đo lường bằng thước đo
tài chính và phi tài chính. Nhưng mục tiêu trực tiếp nhất đối với các ông chủ doanh
nghiệp, các nhà quản lý là tập trung vào các thước đo tài chính. Những thước đo
này bao gồm lợi nhuận, doanh thu, lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) (Smith, Bracker,
và Miner 1987), lợi nhuận trên doanh thu (Kean và ctg 1998), và lợi nhuận trên vốn
chủ sở hữu (Richard 2000; Barney 1997), lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận
5
trước thuế (EBIT), hay tỷ lệ tăng trưởng doanh thu (Ittner & Larcker, 1997;
Fraquelli & Vannoni, 2000; Crabtree & DeBusk, 2008), Q’s tobin tỷ số (Jame
Tobin, 1969). Các thước đo tài chính là mục tiêu, vì nó đơn giản, dễ hiểu và dễ tính
toán. Nhưng trong nhiều trường hợp, do tính bảo mật, không thể tiếp cận, (Covin
và Slevin, 1989), tính đầy đủ (Sapienza và Grimm 1997), tính chính xác (Brush
Wanderwerf và 1992) và tính đúng thời hạn (Sapienza, Smith, và Gannon 1988) của
dữ liệu để so sánh giữa các bộ phận là đầy thách thức và không hiệu quả. Hơn nữa,
lợi nhuận có thể được làm sai lệch và điều chỉnh . Khi đó, cách có thể áp dụng là
các thước đo phi tài chính, mặc dù mang tính chủ quan, nhưng nó bổ sung cho các
thước đo tài chính (Covin và Slevin 1989; Begley và Boyd 1987; Sandberg và
Hofer 1987). Sự kết hợp của hai thước đo giúp cho chủ doanh nghiệp, nhà quản lý
có được cái nhìn rộng hơn về đo lường và so sánh hiệu quả hoạt động của công ty,
các khách hàng được đưa ra bởi các nhà cung cấp. Tín dụng cho khách hàng
là một phương thức quan trọng để đảm bảo doanh số bán hàng (Berry và
Jarvis, 2006). Mặc dù tổng số nợ phải thu trên bảng cân đối kế toán của một
công ty có thể cố định theo thời gian, nhưng các thành phần của nó liên tục
thay đổi và do đó theo dõi cẩn thận là cần thiết (Firth, 1976). Khi các khoản
phải thu tiếp tục gia tăng và các nguồn dự trữ không có sẵn, vì vậy có thể
được xem như là chi phí cơ hội. Theo Berry và Jarvis (2006) một công ty
thiết lập chính sách về việc xác định lượng tối ưu của các khoản phải thu,
phải xem xét các yếu tố sau:
- Sự cân bằng giữa đảm bảo doanh thu, lợi nhuận và chi phí cơ hội, chi phí
hành chính của việc gia tăng các khoản phải thu.
- Mức độ rủi ro sẵn sàng chấp nhận khi mở rộng tín dụng cho khách hàng, bởi
vì khách hàng này có thể mất khả năng thanh toán khi đến hạn trả nợ.
Và một công ty khi thiết lập chính sách quản trị tín dụng bán hàng phải trả lời được
các câu hỏi sau (Trần Ngọc Thơ và ctg, 2007):
- Doanh nghiệp đề nghị bán hàng hay dịch vụ của mình với điều kiện gì?
Dành cho khách hàng thời gian bao lâu để thanh toán tiền mua hàng?
Doanh nghiệp có chuẩn bị để giảm giá cho khách hàng thanh toán nhanh
không?
- Doanh nghiệp cần đảm bảo gì về số tiền khách hàng nợ? Chỉ cần khách
7
hàng ký vào biên nhận hay buộc khách hàng ký vào một loại giấy nhận
nợ chính thức nào khác?
- Phân loại khách hàng: Loại khách hàng nào có thể trả tiền vay ngay? Để tìm
hiểu, doanh nghiệp có tìm hiểu hồ sơ quá khứ hay các báo cáo tài chính đã
qua của khách hàng không? Hay doanh nghiệp dựa vào chứng nhận của ngân
hàng?
- Doanh nghiệp chuẩn bị dành cho từng khách hàng với những hạn mức tín
dụng như thế nào để tránh rủi ro? Doanh nghiệp có từ chối cấp tín dụng
cho các khách hàng mà doanh nghiệp nghi ngờ? Hay doanh nghiệp chấp
mức tối thiểu (Firth, 1976). Mục tiêu của quản trị hàng tồn kho là để tối thiểu
hóa chi phí lưu trữ và chi phí tài chính trong khi duy trì một mức hàng tồn
kho đáp ứng nhu cầu bán hàng (Hampton và Wagner, 1989). Deloof (2003)
cho rằng việc quản trị hàng tồn kho có một sự đánh đổi giữa doanh thu và chi
phí. Nếu một công ty dự trữ nhiều hàng tồn kho hơn, nó có thể dẫn đến tăng
doanh số bán hàng, nhưng nó cũng sẽ tốn kém. Do đó các công ty cần phải
xác định mức tồn kho tối ưu cho mình. Trong hình 2.2 cho thấy những khó
khăn khi dự trữ hàng tồn kho quá cao hay quá thấp.
- Nếu không sử dụng tín dụng
thương mại mà sử dụng các nguồn
tài chính khác thay thế thì có thể
tốn kém.
- Thanh toán ngay khi giao hàng có
thể tốn nhiều chi phí quản lý hơn
là trả tiền thông qua hệ thống tài
khoản bị chậm
- Bỏ qua mức giá thấp hơn
hoặc chiết khấu
- Mất uy tín nếu thanh toán
trễ hạn
- Chi phí trong việc quản lý
các hồ sơ thanh toán
Chi phí cho việc không sử
dụng tín dụng thương mại
Chi phí cho việc sử dụng
tín dụng thương mại
9
(Nguồn: Arnold, 2008)
Hình 2.2: Sơ đồ mức dự trữ hàng tồn kho
Tiền có thể được so sánh với hàng tồn kho vì nó cũng là một dạng của một
- Chi phí lưu kho
- Chi phí quản lý
- Chi phí bảo hiểm
- Lỗi thời
- Hư hỏng
10
Để minh họa, chu kỳ vốn lưu động được mô tả như hình 2.3 dưới đây.
Chu kỳ vốn lưu động (Nguồn: Afnold, 2008)
Dòng tiền khác
Hình 2.3: Sơ đồ chu kỳ vốn lưu động
Chu kỳ vốn lưu động bắt đầu từ việc mua nguyên vật liệu, sau đó nguyên vật
liệu được chuyển thành thành phẩm. Những thành phẩm này được lưu trong kho
cho đến khi chúng được bán cho khách hàng. Bán hàng có thể thu ngay bằng tiền
mặt hoặc bằng tín dụng bán hàn hàng. Cùng với mỗi bước trong chu kỳ luân chuyển
vốn lưu động thì có các chi phí hoạt động phát sinh, đó là những chi phí trực tiếp và
chi phí cơ hội. Chi phí trực tiếp là chi phí vốn đầu tư vào mỗi thành phần của vốn
lưu động. Chi phí cơ hội là những thu nhập có thể bị bỏ lỡ do đầu tư vào vốn lưu
động thay vì đầu tư vào cơ hội khác (Berry and Jarvis, 2006).
Quản trị vốn lưu động (WCM) là một phần của quản trị tài chính của một
doanh nghiệp. WCM tập trung chủ yếu vào các nguồn tài chính ngắn hạn và quyết
định đầu tư ngắn hạn của các doanh nghiệp (Sharma và Kumar, 2011). WCM là rất
quan trọng cho một doanh nghiệp, đặc biệt là cho các doanh nghiệp sản xuất,
thương mại và phân phối, bởi vì trong các doanh nghiệp này WCM trực tiếp ảnh
hưởng đến lợi nhuận và tính thanh khoản. Điều này là do các doanh nghiệp này có
Tiền
Nguyên
vật liệu
Tài sản cố
định
Thành
để tài trợ cho các khoản nợ ngắn hạn và tài sản ngắn hạn (Harris, 2005). Trong thực
tế, WCM là một trong những vấn đề quan trọng nhất trong một tổ chức mà nhà quản
trị tài chính đang đấu tranh để đạt được mức tối ưu của mỗi một trong ba bộ phận
của WCM (Lamberson, 1995).
Công ty có thể có một số lượng vốn lưu động tốt nhất mà có thể tối đa hóa
giá trị của họ. Mặt khác, việc duy trì hàng tồn kho rất lớn, sẵn sàng cấp tín dụng cho
khách hàng, và sẵn sàng chờ đợi một thời gian lâu hơn để nhận được thanh toán có
thể dẫn đến doanh số bán hàng cao hơn. Nhược điểm của việc cấp tín dụng thương
mại rộng rãi và duy trì mức tồn kho cao là tiền được cất giấu trong vốn lưu động
(M. Deloof 2003). Ở phía bên người mua thì việc trì hoãn thanh toán cho các nhà
cung cấp cho phép công ty có được hàng hóa trước khi trả tiền, do đó làm tăng
nguồn tài chính tự phát và làm giảm nhu cầu tài trợ từ bên ngoài tốn kém
(W.R.Lasher 2007).
Việc xác định mức vốn lưu động phụ thuộc vào các chính sách vốn lưu động
của một doanh nghiệp. Theo Arnold (2008) có hai chính sách WCM trái ngược
nhau. Chính sách thứ nhất là chính sách WCM thận trọng, doanh nghiệp sẽ dự trữ
tiền mặt lớn, tín dụng khách hàng rộng rãi hơn và hàng tồn kho cao. Chính sách này
thích hợp với các doanh nghiệp hoạt động trong một môi trường không chắc chắn
thì nó là cần thiết để tránh đình trệ sản xuất (Arnold, 2008). Những ưu điểm của