Nghiên cứu tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành thép niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam - Pdf 48

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

HOÀNG XUÂN DUẨN

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ VỐN
LƯU ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH THÉP NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KẾ TOÁN
Mã số: 60.34.03.01

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Trương Bá Thanh

Đà Nẵng - Năm 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn hoàn toàn trung thực và
chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Hoàng Xuân Duẩn


MỤC LỤ

MỞ ĐẦU..........................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài........................................................................1

2.6.1. Biến phụ thuộc................................................................................36
2.6.2. Các biến độc lập..............................................................................36
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý ĐỀ XUẤT TỪ KẾT
QUẢ NGHIÊN CỨU.....................................................................................41
3.1. TỔNG QUAN NGÀNH THÉP................................................................41
3.1.1. Vị trí và tiềm năng ngành thép........................................................41
3.1.2. Cung cầu ngành thép thế giới..........................................................41
3.1.3. Các giai đoạn ngành thép................................................................42
3.1.4. Thị trường thép Việt Nam...............................................................42
3.2. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU.......................................................................45
3.2.1. Thống kê mô tả về các biến trong mô hình.....................................45
3.2.2. Phân tích tương quan Pearson giữa các biến...................................49
3.2.3. Ước lượng mô hình và kiểm định các giả thiết...............................50
3.3. HÀM Ý ĐỀ XUẤT TỪ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU...............................73
3.3.1. Đối với quản trị khoản phải thu.....................................................73
3.3.2. Đối với quản trị hàng tồn kho.........................................................75
3.3.3. Đối với quản trị khoản phải trả.......................................................79
3.3.4. Đối với quản trị vốn bằng tiền.......................................................80


3.3.5. Đối với quản trị tài sản ngắn hạn....................................................82
3.3.6. Một số kiến nghị khác.....................................................................83
KẾT LUẬN....................................................................................................85
PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC
BCKQHĐKD

Tỷ trọng tài sản ngắn hạn
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng sinh lợi vốn lưu động


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
bảng
1.1
3.1
3.2
3.3
3.4
3.5
3.6
3.7
3.8
3.9

Tên bảng

Trang

Tổng hợp kết quả một số các nghiên cứu trước
Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu
Bảng tương quan giữa các biến trong mô hình
Bảng mô tả hồi quy mô hình (2) theo FEM và REM
Kết quả ước lượng mô hình (2)
Bảng mô tả kết quả hồi quy mô hình (3) theo FEM và REM
Kết quả ước lượng mô hình (3)

phục hồi và tăng trưởng kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách
và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: tạo việc làm, xoá
đói, giảm nghèo...
Để tiến hành sản xuất, ngoài tài sản cố định như máy móc, thiết bị, nhà
xưởng...doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng tiền nhất định để mua sắm hàng
hóa, nguyên vật liệu... phục vụ cho quá trình sản xuất. Như vậy vốn lưu động
là điều kiện đầu tiên để doanh nghiệp đi vào hoạt động hay nói cách khác vốn
lưu động là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh. Ngoài ra
vốn lưu động còn đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp được
tiến hành thường xuyên, liên tục. Vốn lưu động còn là công cụ phản ánh đánh
giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. Vốn lưu
động còn có khả năng quyết định đến quy mô hoạt động của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp hoàn toàn tự chủ trong việc sử
dụng vốn nên khi muốn mở rộng quy mô của doanh nghiệp phải huy động
một lượng vốn nhất định để đầu tư ít nhất là đủ để dự trữ vật tư hàng hóa. Vốn
lưu động còn giúp cho doanh nghiệp chớp được thời cơ kinh doanh và tạo lợi
thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Vốn lưu động còn là bộ phận chủ yếu cấu
thành nên giá thành sản phẩm do đặc điểm luân chuyển toàn bộ một lần vào


2

giá trị sản phẩm. Giá trị của hàng hóa bán ra được tính toán trên cơ sở bù đắp
được giá thành sản phẩm cộng thêm một phần lợi nhuận. Do đó, vốn lưu động
đóng vai trò quyết định trong việc tính giá cả hàng hóa bán ra, nó đóng vai trò
huyết mạch trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó, việc quản trị
vốn lưu động là một phần quan trọng trong quyết định tài chính của doanh
nghiệp vì nó ảnh hưởng đến tính thanh khoản và lợi nhuận của doanh nghiệp
(Raheman và Nasr, 2007).
Quản trị vốn lưu động mà cụ thể là quản trị tài sản ngắn hạn và quản trị

và Dương Diễm Kiều [2015] “tác động của quản lý vốn lưu động đến lợi
nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Thành phố Hồ
Chí Minh”…
Sự ra đời của kim loại thép đã góp phần lớn vào quá trình phát triển của
loài người. Kể từ khi công nghệ luyện thép đạt đến tầm cao mới là lúc kết cấu
của thép trở nên vững chắc hơn, thép đã xuất hiện ngày càng nhiều trong các
công trình xây dựng cầu đường, nhà cửa và dần thay thế các nguyên liệu xây
dựng khác như đá và gỗ bởi đặc tính vững chắc và dễ tạo hình của thép. Hơn
nữa, thép cũng là nguyên vật liệu chính cho các ngành công nghiệp khác như
đóng tàu, phương tiện vận chuyển, xây dựng nhà máy và sản xuất máy móc
thiết bị phục vụ hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm phục vụ đời sống con
người. Nhận biết được tầm quan trọng của ngành thép, hầu hết các quốc gia
đã dành nhiều chính sách ưu đãi để phát triển ngành thép. Bởi thép được coi
là nguyên vật liệu lõi cho các ngành công nghiệp khác. Với mục tiêu đưa đất
nước trở thành nước công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việt Nam đã coi ngành
sản xuất thép là ngành công nghiệp trụ cột của nền kinh tế, đáp ứng tối đa nhu
cầu về các sản phẩm thép của các ngành công nghiệp khác và tăng cường xuất
khẩu. Bên cạnh đó, Chính phủ dành nhiều chính sách khuyến khích các thành
phần kinh tế khác đầu tư vào ngành thép nhằm tận dụng tối đa nguồn vốn và
nhân lực còn rỗi của các ngành, thúc đẩy phát triển kinh tế, đảm bảo công ăn


4

việc làm cho người lao động. Ðặc trưng của ngành thép là một ngành kinh tế
thâm dụng vốn, các tài sản của nó là những tài sản nặng vốn, và chi phí cố
định của ngành khá cao. Do dó, việc quản trị vốn lưu động hết sức quan trọng
đối với ngành thép, vì nếu quản trị không tốt sẽ dẫn đến tình trạng doanh
nghiệp không đủ tiền để chi trả cho các hoạt động thường xuyên của mình.
Chính vì vậy, khi tìm hiểu và nhận thấy tầm quan trọng của ngành thép

giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) và sàn giao dịch chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh (HOSE).
+ Phạm vi thời gian: Số liệu các chỉ tiêu nghiên cứu được lấy từ báo cáo
tài chính hàng năm đã được kiểm toán của các doanh nghiệp ngành thép từ
năm 2014 đến năm 2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp định lượng với mô hình hồi quy đa biến
- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu:
+ Đối với tài liệu nghiên cứu, tác giả tham khảo các bài báo khoa học
liên quan đến đề tài ở các tạp chí chuyên ngành trong ngoài nước, các giáo
trình và sách chuyên ngành nhằm tìm ra khoảng trống nghiên cứu, so sánh
kết quả nghiên cứu thực chứng của đề tài với các nghiên cứu trước đây.
+ Đối với số liệu nghiên cứu, tác giả thu thập số liệu thứ cấp từ các báo
cáo tài chính, báo cáo thường niên của các doanh nghiệp thép niêm yết trên
sàn chứng khoán Việt Nam.
- Phương pháp xử lý, phân tích số liệu: Phương pháp hồi quy dữ liệu
bảng được sử dụng để ước lượng mô hình nghiên cứu với sự hỗ trợ của phần
mềm Stata13.


6

- Ngoài ra phương pháp nghiên cứu khác cũng được sử dụng như
phương pháp thống kê mô tả, phương pháp tổng hợp…

6. Kết cấu đề tài
Kết cấu luận văn bao gồm các phần như sau:
- Phần Mở đầu: Trình bày lý do nghiên cứu, mục tiêu, câu hỏi, đối
tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu. Phần Nội dung: bao gồm 3 chương
+ Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tác động của quản trị vốn lưu

Deloof [2003] đã phân tích 1.009 công ty phi tài chính của Bỉ từ 19921996. Ông thấy rằng lợi nhuận hoạt động gộp của một công ty có mối quan hệ
nghịch với kỳ luân chuyển hàng tồn kho và kỳ thu tiền bình quân. Do dó, ông
đề nghị các nhà quản trị tài chính có thể cố gắng để nâng cao lợi nhuận bằng
cách tăng thời hạn thanh toán trung bình và giảm kỳ luân chuyển hàng tồn
kho và kỳ thu tiền bình quân.
Padachi [2006] đã phân tích quản trị vốn lưu động và mối quan hệ của
nó với lợi nhuận bằng cách kiểm tra một mẫu của 58 công ty sản xuất nhỏ của
Mauritius. Giai đoạn của nghiên cứu là sáu năm từ 1998-2003. Ông đã sử
dụng số ngày các khoản phải thu, kỳ luân chuyển hàng tồn kho, chu kỳ
chuyển đổi tiền mặt và số ngày các khoản phải trả làm biến giải thích, và lợi


8

nhuận trên tổng tài sản (ROA) là biến phụ thuộc. Ông nhận thấy rằng trong
ngành công nghiệp giấy và in ấn có nhiều điểm khác biệt về thành phần vốn
lưu động trong toàn bộ ngành công nghiệp sản xuất nói chung. Những điểm
khác biệt có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận của ngành công nghiệp này.
Cuối cùng ông kết luận rằng nếu một công ty đầu tư mạnh vào hàng tồn kho
và các khoản phải thu thì lợi nhuận của các công ty đó thấp hơn.
Nghiên cứu của Binti Mohamad và Mohd Saad [2010] được dựa trên dữ
liệu thứ cấp của 172 công ty của Malaysia. Họ đánh giá tác động của các
thành phần khác nhau của vốn lưu động trên lợi nhuận và giá trị thị trường
của các công ty. Nghiên cứu bao phủ một khoảng thời gian 5 năm từ 2003 đến
2007. Ðể xem hiệu quả của các thành phần vốn lưu động trong hoạt động tài
chính, họ sử dụng Q’s Tobin, lợi nhuận trên vốn đầu tư và lợi nhuận trên tài
sản là một thước đo của hoạt động tài chính của các doanh nghiệp lựa chọn.
Kết quả cho thấy rằng có tồn tại một mối quan hệ nghịch giữa các thành phần
vốn lưu động khác nhau với hiệu quả hoạt động của các công ty.
Gul và cộng sự [2013] đã nghiên cứu ảnh hưởng của quản trị vốn lưu

các thành phần của nó với tỷ suất sinh lời của các công ty thủy sản niêm yết
trên thị truờng chứng khoán Việt Nam. Kết quả nghiên cứu còn chỉ ra mối
tương quan đồng biến và có ý nghĩa thống kê giữa kỳ thu tiền khách hàng, kỳ
chuyển đổi hàng tồn kho, chu kỳ chuyển đổi tiền mặt với tỷ suất sinh lời, đòn
bẩy tài chính có tương quan âm với khả năng sinh lời của công ty. Ngược lại,
kỳ thanh toán bình quân, quy mô công ty, số năm tồn tại công ty, tỷ số đầu tư
tài chính dài hạn có mối tương quan dương và có ý nghĩa thống kê với tỷ suất
sinh lời của công ty.


10

Nghiên cứu của Chu Thị Thu Thủy [2014] đã kiểm tra mối quan hệ giữa
quản trị vốn lưu động với khả năng sinh lời của 97 công ty cổ phần công
nghiệp chế biến, chế tạo niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thành phố
Hồ Chí Minh (HOSE) trong năm 2012. Dữ liệu thu thập được phân tích bằng
phân tích tương quan Pearson và phân tích hồi quy OLS, kết quả nghiên cứu
đã chỉ rõ có mối tương quan giữa quản trị vốn lưu động và khả năng sinh lời.
Hơn nữa, nghiên cứu chỉ ra mối tương quan mạnh giữa tỷ lệ đầu tư vào tài sản
chính, quy mô công ty, đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời.
Một nghiên cứu khác từ Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên
[2014] đã sử dụng phân tích dữ liệu bảng gồm 208 công ty phi tài chính niêm
yết trên sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2006
đến năm 2012, bằng các phương pháp bình phương tối thiểu (OLS), mô hình
hiệu ứng cố định (FEM) và mô hình bình phương tối thiểu tổng quát (GLS)
kiểm định mối quan hệ giữa quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời của
các doanh nghiệp Việt Nam. Kết quả cho thấy việc quản trị vốn luân chuyển
hiệu quả bằng cách rút ngắn kỳ thu tiền bình quân và kỳ lưu kho sẽ làm gia
tăng khả năng sinh lợi cho các doanh nghiệp . Nhóm tác giả còn nghiên cứu
mối quan hệ này ở một số ngành khác nhau và kết quả cho thấy do đặc điểm

thì xu hướng tác động của quản trị vốn lưu động đến khả năng sinh lời của các
doanh nghiệp cũng sẽ có sự thay đổi.
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tác động của quản trị vốn lưu động
đến khả năng sinh lời tại các doanh nghiệp ở nước ngoài cũng như ở Việt
Nam, nhưng chưa có nghiên cứu cụ thể nào cho lĩnh vực ngành thép được tác
giả chọn để nghiên cứu. Trong khi đó ngành thép là ngành đầu vào của các
ngành khác, đặc biệt là ngành xây dựng. Ngành thép là ngành nhạy cảm với
chu kỳ kinh doanh của nền kinh tế vi mô, khi nền kinh tế tăng trưởng, doanh


12

số bán hàng và lợi nhuận của các công ty trong ngành sẽ tăng cao. Và hầu hết
các nghiên cứu trước đa số dùng phương pháp ước lượng bình phương tối
thiểu (OLS), mô hình ảnh hưởng cố định (FEM), mô hình ảnh hưởng ngẫu
nhiên (REM) để phân tích và cũng chỉ dùng một hoặc kết hợp các chỉ tiêu
ROA hoặc ROE hoặc Tobin’s Q để đánh giá tác động của quản trị vốn lưu
động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp.
Ở bài nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu về tác động của việc quản trị
các yếu tố vốn lưu động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành
thép niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tác giả sử dụng chỉ tiêu
tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) để xem xét khả năng sinh lời của các
doanh nghiệp ngành thép, sử dụng chỉ tiêu này để nghiên cứu sẽ phù hợp với
đặc điểm của các doanh nghiệp ngành thép thường là những doanh nghiệp có
giá trị doanh thu hàng năm đạt mức rất cao và mức độ biến động doanh thu
qua các năm cũng đạt mức cao dựa theo sự biến động của nền kinh tế.


12


được làm sai lệch và điều chỉnh . Khi đó, cách có thể áp dụng là các thước đo
phi tài chính, mặc dù mang tính chủ quan, nhưng nó bổ sung cho các thước đo
tài chính một cách hiệu quả hơn. Sự kết hợp của hai thước đo giúp cho chủ
doanh nghiệp, nhà quản lý có được cái nhìn rộng hơn về đo lường và so sánh
hiệu quả hoạt động của công ty, đặc biệt là mức độ hiệu quả trong việc sử
dụng các nguồn lực, khả năng cạnh tranh và sẵn sàng để đối mặt với những áp
lực ngày càng tăng từ bên ngoài bao gồm cả sự toàn cầu hoá.
Tùy thuộc vào thời gian của một dự án hay một kế hoạch, kết quả và lợi
nhuận có thể được đo lường dựa trên các thước đo ngắn hạn hay dài hạn. Các
thước đo ngắn hạn, thông thường dựa vào lợi nhuận tài chính, là để đánh giá
các dự án sẽ hoàn thành trong vòng mười hai tháng, trong khi các thước đo
dài hạn, thông thường dựa trên lợi nhuận phi tài chính, rất hữu ích cho các dự
án mà có thể mất mười hai tháng trở lên. Các thước đo tài chính ngắn hạn,
trong đó bao gồm doanh thu và lợi nhuận, phản ánh hiệu quả hoạt động hiện
tại của một công ty có thể không nhất thiết phải đáp ứng như một hướng dẫn
hữu ích hay dự đoán cho sự tồn tại lâu dài của công ty. Tuy nhiên, bằng cách
cộng dồn doanh thu và lợi nhuận, có thể trở thành một nhóm nguồn lực hữu
ích cho sự phát triển, kế hoạch mở rộng trong tương lai, giúp thúc đẩy công ty
lên trên ngưỡng tồn tại của nó và hỗ trợ chiến lược tăng trưởng của công ty.
Phillips [1999] lập luận rằng, khả năng sinh lời trong ngắn hạn là một yếu tố
quan trọng trong khả năng của công ty để đạt được mục tiêu dài hạn như tăng
thị phần, thương hiệu và danh tiếng. Khả năng sinh lời thấp trong một khoảng
thời gian cụ thể, có thể không phản ánh sự kém cỏi của các chủ sở hữu, người
quản lý, mà do đầu tư lớn đang được chuyển vào các dự án dài hạn với mục
đích tăng trưởng trong tương lai hoặc để đáp ứng nhu cầu nội bộ (ví dụ nhu
cầu tăng lương đột ngột của người lao động) hoặc yêu cầu từ bên ngoài (ví dụ
như đáp ứng các quy định pháp luật). Ðo lường hiệu quả hoạt động của công
ty nên dựa trên phương pháp tiếp cận toàn diện trong đó kết hợp thước đo tài




15

a. Dựa theo vai trò vốn lưu động trong quá trình tái sản xuất
Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: vốn nguyên vật liệu chính,
nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu đóng gói, công cụ,
dụng cụ.
Vốn lưu động trong khâu sản xuất: vốn sản phẩm đang chế tạo, bán
thành phẩm tự chế, chi phí trả trước…
Vốn lưu động trong khâu lưu thông: vốn thành phẩm, hàng hóa, vốn
bằng tiền, các khoản phải thu,…
b. Dựa theo hình thái biểu hiện
Vốn vật tư hàng hóa là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện
bằng hiện vật cụ thể như là: vốn nguyên, nhiên vật liệu; vốn sản phẩm dở
dang; vốn hàng thành phẩm, hàng tồn kho; vốn chi phí trả trước.
Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: phân loại theo cách này để tạo điều
kiện thuận lợi cho việc xem xét, đánh giá, khả năng thanh toán của doanh
nghiệp.
Vốn đầu tư tài chính ngắn hạn: chứng khoán ngắn hạn, vốn góp kinh
doanh ngắn hạn.
c. Dựa theo nguồn hình thành
Cách phân loại này cho thấy kết cấu vốn lưu động được hình thành bằng
vốn của doanh nghiệp hay từ các khoản nợ. Từ đó có các quy định trong huy
động và quản lý, sử dụng vốn lưu động hợp lý hơn.


16

Có thể chia vốn lưu động thành hai loại dựa theo nguồn hình thành:
Nguồn vốn chủ sở hữu: là số vốn lưu động thuộc quyền sở hữu của

một doanh nghiệp. (WCM) tập trung chủ yếu vào các nguồn tài chính ngắn
hạn và quyết định đầu tư ngắn hạn của các doanh nghiệp (Sharma và Kumar,
2011). (WCM) là rất quan trọng cho một doanh nghiệp, đặc biệt là cho các
doanh nghiệp sản xuất, thương mại và phân phối, bởi vì trong các doanh
nghiệp này (WCM) trực tiếp ảnh hưởng đến lợi nhuận và tính thanh khoản.
Ðiều này là do các doanh nghiệp này có số vốn lưu động chiếm hơn một nửa
số tổng tài sản của họ (Raheman và Nasr).
Nếu (WCM) không hiệu quả có thể dẫn đến phá sản, ngay cả khi công ty
có lợi nhuận (Ksargar và Blumenthal,1994). Nếu tài sản lưu động quá dư thừa
thì sẽ dẫn đến lợi nhuận bình quân trên các khoản đầu tư thấp. (WCM) hiệu
quả phải quản trị theo cách mà có thể loại bỏ nguy cơ không thanh toán được
các khoản nợ ngắn hạn đến hạn và tối thiểu hóa sự thay đổi quá mức của vốn
lưu động (Eljelly,2004).
Các công ty có thể có một số lượng vốn lưu động tốt nhất mà có thể tối
đa hóa giá trị của họ. Mặt khác, việc duy trì hàng tồn kho rất lớn, sẵn sàng cấp
tín dụng cho khách hàng, và sẵn sàng chờ đợi một thời gian lâu hơn để nhận
được thanh toán có thể dẫn đến doanh số bán hàng cao hơn. Nhược điểm của
việc cấp tín dụng thương mại rộng rãi và duy trì mức tồn kho cao là tiền được
cất giấu trong vốn lưu động (Deloof, 2003). Ở phía bên người mua thì việc trì



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status