Phòng giáo dục - đào tạo TPĐBP Cộng hoà x hội chủ nghĩa việt namã
Trờng mầm non noong bua độc lập tự do - hạnh phúc
o0o o0o
Sáng kiến kinh nghiệm
Đề nghị công nhận danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở năm học 2008 - 2009
Đề tài: Một số biện pháp giáo dục thói quen giao tiếp có văn hoá cho
trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi trờng mầm non noong bua
Ngời nghiên cứu và thực hiện đề tài : Hoàng Thị Hồng
Đơn vị công tác; trờng mầm non Noong Bua - thành phố Điện Biên Phủ
Phần I : Đặt vấn đề
1, Lý do chọn đề tài.
Hiện nay Việt Nam đang trên con đờng hội nhập kinh tế toàn cầu, xã hội
Việt Nam đang phát triển trên tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n-
ớc. Trong công cuộc xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, giáo
dục đào tạo đợc Đảng và nhà nớc đặt lên vị trí quốc sách hàng đầu với chức năng
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dỡng nhân tài cho đát nớc. Trong hệ
thống giáo dục đó không thể không kể đến vị trí của giáo dục mầm non. Giáo
dục mầm non chính là mắt xích đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân, nơi
ấy là cái nôi để gieo trồng, phát hiện sớm và ơm những nhân tài, những chủ nhân
tơng lai của đất nớc. Vì thế ngay từ trong chiếc nôi ấm cúng tình yêu thơng ấy
trẻ em phải đợc giáo dục toàn diện nhân cách của mình.
Giáo dục thói quen giao tiếp có văn hoá cũng chính là một trong những
nội dung của các mặt giáo dục trên. Vì: Giao tiếp là một đặc thù của xã hội loài
ngời, bất kỳ một đứa trẻ nào khi sinh ra đều có nhu cầu đợc giao tiếp. Giao tiếp
giữ vai trò nh một điều kiện, phơng tiện để con ngời thiết lập và duy trì các mối
quan hệ xã hội, góp phần giúp cho sự tồn tại và phát triển của loài ngời. Vì vậy,
muốn có những lớp ngời có thói quen giao tiếp có văn hoá trong tơng lai thì cần
phải có sự giáo dục ngay từ lứa tuổi mầm non. Song hiện nay việc giáo dục đạo
đức nói chung và việc giáo dục thói quen giao tiếp có văn hoá nói riêng còn gặp
nhiều trở ngại đặc biệt là ở lứa tuổi mầm non.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau khi nói đến việc giáo dục thói quen giao
độ tuổi mầm non đến lứa tuổi học đờng, nhằm nâng cao thái độ giao tiếp có văn
hoă cho trẻ, góp phần giúp trẻ phát triển toàn diện nhân cách của mình.
- Lựa chọn một số biện pháp giáo dục thói quen giao tiếp có văn hoá
cho trẻ phù hợp với lứa tuổi, với phong tục tập quán của địa phơng. Đồng thời
góp phần nâng cao nhận thức của phụ huynh.
3, Khách thể và đối tợng nghiên cứu.
- Khách thể nghiên cứu: nghiên cứu quá trình giáo dục thói quen giao
tiếp có văn hoá cho trẻ từ 4 5 tuổi.
- Đối tợng nghiên cứu : nghiên cứu một số biện pháp giáo dục thói quen
giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo 4 5 tuổi tại trờng Mầm Non Noong
Bua, Thành phố Điện Biên Phủ.
4, Giả thuyết khoa học.
Hiện nay, khả năng giao tiếp có văn hoá của trẻ còn có nhiều hạn chế. đặc
biệt là đối với trẻ em dân tộc vì vậy: nếu chúng tôi sử dụng một số biện pháp
giáo dục thói quen giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo 4 5 tuổi phù hợp
với đặc trng truyền thống văn hoá của địa phơng thì mức độ hình thành thói quen
giao tiếp có văn hoá ở trẻ sẽ đợc nâng cao.
5, Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Đề xuất một số biện pháp
- Thực nghiệm s phạm
- Đánh giá thực trạng kết quả của việc thực hiện đề tài nghiên cứu.
6, Phơng pháp nghiên cứu.
- Phơng pháp nghiên cứu lý luận.
- Phơng pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phơng pháp quan sát
+ Phơng pháp điều tra
+ Phơng pháp thực nghiệm s phạm
+ Phơng pháp phỏng vấn
+ Phơng pháp thống kê toán học
tiêu kế hoạch đào tạo theo quyết định 55 của bộ Giáo Dục. Đó là hình thành ở
trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con ngời mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
- Khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hoà cân đối.
- Giàu lòng yêu thơng, biết quan tâm, nhờng nhịn, giúp đỡ những ngời gần
gũi ( bố mẹ, cô giáo, bạn bè ) thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên.
- Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở
xung quanh.
- Thông minh ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kỹ năng sơ
đẳng ( quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp, suy luận ) cần thiết cho trẻ để vào
trờng phổ thông, thích và mong muốn đợc đi học.
c. Nội dung giáo dục
Những nội dung giáo dục thói quen giao tiếp có văn hoá cho trẻ bao
gồm:
- Biết chào hỏi mọi ngời khi gặp gỡ hoặc chia tay.
- Biết thể hiện sự quan tâm khi ngời khác cần và đáp lại sự quan tâm của
ngời khác.
- Biết thể hiện sự biễt lỗi khi có lỗi và c xử đúng mức khi ngời khác có lỗi
với mình.
- Biết cách ứng xử tốt đẹp với mọi ngời.
- Biết thực hiện các yêu cầu khi tham gia vào hội thoại.
- Biết thể hiện lòng tin đối với mọi ngời.
- Biết tôn trọng những quy tắc sinh hoạt chung, biết tự kiềm chế hành vi
của mình.
d, Phơng pháp giáo dục.
Việc giáo dục thói quen giao tiếp có văn hoá đợc tiến hành qua các hoạt
động sinh hoạt hàng ngày trong trờng mầm non với nhiều hình thức phong phú
đa dạng nh: học tập, vui chơi, ăn, ngủ, vệ sinh thông qua các nhóm phơng pháp
giáo dục:
* Nhóm phơng pháp dùng lời bao gồm các phơng pháp: trò chuyện, đàm
thoại, giảng giải, nêu gơng, thuyết phục, khen ngợi, chê trách, nhận xét và phê
2, Cơ sở thực tiễn.
Để khẳng định sự lựa chọn nghiên cứu và thực nghiệm đề tài là phù hợp
ngay từ đầu năm học tôi tiến hành khảo sát thực trạng thói quen giao tiếp có
văn hoá của trẻ mẫu giáo 4 5 tuổi.
a Khảo sát học sinh.
* Số lợng trẻ khảo sát : 24 cháu thuộc lớp mẫu giáo nhỡ trờng mầm non
Noong Bua.
* Nội dung khảo sát .
- Trẻ biết chào hỏi mọi ngời khi gặp gỡ, chia tay.
- Biết thể hiện sự quan tâm khi ngời khác cần và đáp lại sự quan tâm của ngời
khác.
- Biết thể hiện sự biết lỗi khi có lỗi và c sử đúng mức khi ngời khác có lỗi với
mình.
- Biết cách ứng xử phù hợp với hoàn cảnh và thể hiện đợc lòng tin đối với mọi
ngời.
- Biết tôn trọng những qui tắc sinh hoạt chung và tự kiềm chế đợc hành vi của
mình.
* Cách tiến hành khảo sát:
- Kiểm tra từng trẻ thông qua các biện pháp nh:
+ Trò chuyện : cô trao đổi cùng trẻ bằng những lời lẽ quan tâm thân mật để
qua câu trả lời của trẻ, trẻ bộc lộ khả năng giao tiếp của bản thân.
+ Phỏng vấn : Cô tiến hành phỏng vấn để kiểm tra nhận thức của trẻ về các nội
dung của thói quen giao tiếp có văn hoáở trẻ.
+ Tạo tình huống : Cô cho trẻ thực hành xử lý tình huống thể hiện khả năng
giao tiếp có văn hoá của mình với những ngời xung quanh.
* Đánh giá thực trạng trẻ:
Để việc khảo sát có kết quả tôi xây dựng các tiêu chí đánh giá nh sau:
- Tính tự giác của thói quen : ( 1 điểm )
- Tính đúng đắn của thói quen: ( 1 điểm )
- Mức độ thành thạo của thói quen : ( 1 điểm )
kiến của ban giám hiệu, của cán bộ chỉ đạo chuyên môn phòng giáo dục và sự
ủng hộ của bạn bè đồng nghiệp và một số các bậc phụ huynh. Với mong muốn
nội dung giáo dục thói quen giao tiếp có văn hoá cho trẻ thực sự phát huy đợc
hiệu quả, tôi tiến hành nghiên cứu, tìm kiếm một số biện pháp giáo dục phù hợp
với nội dung giáo dục dựa trên các cơ sở sau:
- Dựa vào mục tiêu của việc chăm sóc giáo dục trẻ mầm non theo quyết định
55 của bộ giáo dục qui định.
- Dựa vào quan điểm s phạm tích hợp trong giáo dục mầm non.
- Dựa vào quan điểm giáo dục trẻ bằng thực tế cuộc sống.
- Dựa vào đặc điểm nhận thức và phong tục, tập quán của địa phơng
2. Đề xuất biện pháp
- Với phơng châm nghiên cứu để trẻ đợc học đi đôi với hành, qua quá
trình tìm kiếm, nghiên cứu và áp dụng, tôi xin mạnh dạn đề xuất một số biện
pháp sau đây:
- Biện pháp 1: Cô giáo là tấm gơng thể hiện sự văn hoá của mọi quá trình giao
tiếp.
- Biện pháp 2: Giáo dục trẻ thông qua các hình ảnh, việc làm đúng, sai của
các nhân vật trong tranh, trong truyện, và những tấm gơng trong cuộc sống.
- Biện pháp 3: Lồng ghép các nội dung giáo dục thói quen giao tiếp có văn
hoá cho trẻ ở mọi lúc, mọi nơi, trong tất cả mọi hoạt động của trẻ. Đa nội dung
giáo dục thói quen giao tiếp có văn hoá cho vào làm tiêu chuẩn bé ngoan cho trẻ
phấn đấu và rèn luyện.
- Biện pháp 4: Tạo môi trờng, tạo tình huống cho trẻ đợc thực hành, trải
nghiệm những kinh nhgiệm mà trẻ đã tích luỹ đợc.
- Biện pháp 5: Động viên, khen ngợi, khích lệ kịp thời những biểu hiện tốt của
trẻ khi trẻ thể hiện thói quen giao tiếp có văn hoá trong cuộc sống hàng ngày.
- Biện pháp 6: Làm tốt công tác tuyên truyền, vận động sự phối kết hợp giáo
dục của các bậc phụ huynh ở mọi lúc, mọi nơi.
Ngoài ra, bản thân cô khi thực hiện các biện pháp còn cần phải lu ý một số
vấn đề sau:
hội cùng nhìn rõ tầm quan trọng của công tác chăm sóc giáo dục trẻ, tham gia
góp phần chia sẻ trọng trách với các nhà giáo dục trong công tác chăm sóc giáo
dục trẻ ở mọi lúc mọi nơi.
III. Thực nghiệm s phạm
1. Mục đích thực nghiệm
Việc tiến hành thực nghiệm một số biện pháp giáo dục thói quen giao tiếp
có văn hoá đã nêu trên nhằm mục đích là: kiểm nghiệm hiệu quả của một số
biện pháp giáo dục đã đề xuất có liên quan đến giả thuyết khoa học của đề tài.
2. Nội dung thực nghiệm:
Tôi tiến hành thực nghiệm 6 biện pháp giáo dục đã nêu trên và một số lu ý
khi thực hiện áp các biện pháp nh đã trình bày ở mục II phần nội dung để áp
dụng giáo dục trẻ trong tất cả các hoạt động hàng ngày.
3. Tiến hành thực nghiệm
Tôi áp dụng thực hiện các biện pháp giáo dục thói quen giao tiếp có văn
hoá cho 24 trẻ của lớp mẫu giáo nhỡ, trờng mầm non Noong Bua do tôi làm chủ
nhiệm. Các biện pháp đề ra đợc tôi sử dụng phối hợp nhịp nhàng, đan xen lồng
ghép hỗ trợ cho nhau trong các hoạt động hàng ngày của trẻ, nhằm mục đích vừa
cung cấp kiến thức cho trẻ, vừa tạo môi trờng, tạo tình huống cho trẻ thực hành
trải nghiệm một cách hiệu quả nhất. Luôn tạo đợc hứng thú mới mẻ, hấp dẫn,
kích thích trẻ hứng thú tham gia mọi hoạt động, giúp cho hiệu quả giáo dục đợc
nâng lên.Việc thực nghiệm các biện pháp giáo dục thói quen giao tiếp có văn
hoá cho trẻ đợc tôi tiến hành lồng ghép vào các nội dung hoạt động trong ngày
cụ thể nh sau:
a. Trong giờ đón trẻ:
Cô giáo chủ động chào bố, mẹ trẻ và trẻ khi thấy trẻ đến lớp, đồng thời nhắc
trẻ chào cô giáo và chào tạm biệt bố mẹ khi chia tay. Trong lúc trò chuyện với
trẻ, cô chú ý từng câu hỏi cô đặt ra cho trẻ phải có đủ từ, đủ ý nghĩa làm khuôn
mẫu cho câu trả lời của trẻ. Khi trẻ trả lời cô dạy trẻ biết cách nói cho đủ câu,
biết lễ phép tha gửi trớc khi nói với ngời lớn.
b. Trong giờ hoạt động có chủ đích
giao tiếp có văn hoá cho trẻ nh:
+ Trò chuyện về các nội dung của thói quen giao tiếp có văn hoá cho trẻ
thông qua giờ nêu gơng bình cờ cuối ngày, cuối tuần, qua đó giúp trẻ tự nhận
xét, đánh giá về hành vi của mình, của bạn trong cuộc sống, sinh hoạt hàng
ngày.
+ Tập cho trẻ xử lý tình huống, (ứng xử, trả lời và đánh giá về các hành động
đúng, sai của các nhân vật, của bạn bè cùng lớp, khác lớp, nêu ra phơng án ứng
xử phù hợp với từng hoàn cảnh, từng câu chuyện xảy ra)
+ Động viên, khen ngợi trẻ kịp thời để khuyến khích trẻ phát huy những biểu
hiện tích cực trong giao tiếp, giúp trẻ mạnh dạn, tự tin hơn khi giao tiếp với
những ngời xung quanh.
e. Phối hợp sự giáo dục của phụ huynh.
Tuyên truyền giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong công tác chăm sóc và
giáo dục trẻ, vì tuyên truyền tốt sẽ tranh thủ nhận đợc sự phối hợp giáo dục từ
phía phụ huynh, giúp các bậc phụ huynh xoá bỏ quan niệm để trẻ lớn lên trẻ
khác biết phải sống và c sử nh thế nào đồng thời bằng các hình thức khác nhau
trong công tác tuyên truyền, cô giáo khéo léo đa nội dung giáo dục thói quen
giao tiếp có văn hoá đến với từng phụ huynh, khiến cho các bậc phụ huynh từ
chỗ không tán thành, ủng hộ đến chỗ biết phối hợp giáo dục cùng cô giáo từ lúc
nào mà không còn sự phân biệt về trách nhiệm, về quan niệm.để làm đợc điều đó
tôi tiến hành làm một số việc cụ thể nh :
+ Ngay từ đầu năm học, cô giáo triển khai tới các bậc phụ huynh về mục tiêu,
nội dung phấn đấu của lớp, của cô trong năm học. Đồng thời cô nhấn mạnh cho
các bậc phụ huynh biết về nội dung đề tài mà cô lựa chọn nghiên cứu và thực
nghiệm đối với lớp, lấy ý kiến biểu quyết ủng hộ từ phía các bậc phụ huynh .
+ Xây dựng góc tuyên truyền các hành vi về thói quen giao tiếp có văn hoá
bằng các hình ảnh cụ thể và những nét gạch chéo cho các hành động đúng, sai
trong giao tiếp, kèm theo lời giải thích cho mỗi hành động trong tranh. Các hình
ảnh cần đợc thay đổi thờng xuyên để cung cấp thêm những t liệu mới cho góc
tuyên truyền.
- Biết thực hiện các yêu cầu của lớp, tổ, nhóm khi tham gia các hoạt động nh-
: Mạnh dạn thực hiện các yêu cầu ( luật) của nội dung chủ đề hoạt động đã đề
ra.
- Sống thật thà, dũng cảm thể hiện đợc lòng tin của mình với mọi ngời nh:
Không nói dối cô giáo, bạn bè và những ngời xung quanh.
- Có ý thức tôn trọng và tuân theo các quy định chung của trờng,lớp nh :
Quy định ( ăn, ngủ, học, chơi, vệ sinh, lao động ).
So với đầu năm học, kết quả khảo sát thói quen giao tiếp có văn hoá của
trẻ sau khi kết thúc thời gian thực nghiệm có áp dụng các biện pháp giáo dục, trẻ
nắm đợc nội dung giáo dục và có khả năng thực hiện thói quen giao tiếp có văn
hoá: đạt đợc nh sau:
Tốt = 12 cháu <=> 50 %
Khá = 7 cháu <=> 29 %
Đạt yêu cầu = 3 cháu <=> 12,5 %
Không đạt yêu cầu = 2 cháu <=> 8,5 %
2 trẻ cha đạt yêu cầu về thói quen giao tiếp có văn hoá đó là các cháu:Lò
Trần Thái Anh, Nguyễn Long Vũ. Nguyên nhân dẫn đến kết quả mà 2 cháu có
tên nêu trên không đạt đợc yêu cầu vì lý do nh sau:
Cháu Thái Anh do bố mẹ ở xa, về c trú cùng bác để đi học, thỉnh thoảng
cháu lại nghỉ học để đi cùng bố mẹ ít là một tháng, có khi cháu đi liền 2 tháng
mới về, do đó không chỉ ảnh hởng tới việc thực nghiệm đề tài nói riêng mà còn
ảnh hởng không nhỏ tới chất lợng giáo dục của lớp nói chung.
Cháu Long Vũ do ảnh hởng theo gen của gia đình có ngời thân mắc bệnh về
hệ thần kinh, cho nên khả năng chú ý tiếp thu các vấn đề giáo dục hạn chế hơn
so với các bạn cùng độ tuổi, vì vậy việc cung cấp cho cháu các kiến giáo dục
cũng nh việc rèn các thói quen cho cháu gặp không ít khó khăn khi thực hiện
nhiệm vụ giáo dục.
* Về phía phụ huynh
- Các bậc phụ huynh phần nào cũng tự trang bị thêm đợc cho mình một số
thói quen giao tiếp có văn hoá trong cuộc sống.
mọi lúc, mọi nơi, đặt mục tiêu phấn đấu không ngừng vơn lên trớc những khó
khăn thử thách để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và mục tiêu đề ra.
Phần IV: Phần kết luận
1 . Kết luận chung
Qua quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài Một số biện pháp giáo dục
thói quen giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo 4 5 tuổi trờng mầm non
Noong Bua bản thân tôi rút ra một số kết luận sau:
- Giáo dục thói quen giao tiếp có văn hoá cho trẻ là một việc làm mang đậm ý
nghĩa giáo dục sâu sắc, hình thành cho trẻ những kỹ năng cơ bản về giao tiếp ban
đầu, những kỹ năng đó không chỉ đem lại lợi ích trớc mắt cho bản thân trẻ trong
cuộc sống mà còn góp phần tạo sự liên thông về giáo dục lễ giáo cho trẻ ở các
cấp học tiếp theo, làm nền tảng cho giáo dục của xã hội. Góp phần quan trọng
trong chiến lợc tạo ra một lớp ngời mới có đầy đủ các yếu tố về nhân cách cho
một xã hội đang trên đà phát triển nh nớc ta.
- Để thực hiện thành công nhiệm vụ của giáo dục thì chính bản thân của mỗi
một giáo viên cần phải luôn không ngừng trau dồi bản thân mình để có nhận
thức đầy đủ, đúng đắn về mục đích, mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung giáo dục,
đồng thời phải nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác giáo
dục nh: ngoài việc thờng xuyên trau dồi học hỏi để có đợc một khả năng s phạm
tốt, có trình độ chuyên môn vững vàng thì cô còn cần phải có cả một tấm lòng
yêu thơng, bao dung và độ lợng với trẻ, kiển trì và nhẫn nại trong công tác chăm
sóc giáo dục trẻ, dìu dắt trẻ đi đúng hớng theo sự chỉ đạo của giáo dục, giúp trẻ
phát triển đáp ứng đầy đủ với nhu cầu của xã hội.
- Qua thực nghiệm trên cho thấy khi chúng ta muốn đa bất kỳ một nội dung
giáo dục nào đó vào để giáo dục trên trẻ thì trớc khi giáo dục, ngời giáo viên trực
tiếp thực hiện nhiệm vụ giáo dục cần phải có sự đầu t nghiên cứu về nội dung
giáo dục, đề xuất sự hỗ trợ giúp đỡ từ nhiều phía nh : về cơ sở vật chất, về thời
gian, không gian, về sự phối hợp giáo dục của các cấp lãnh đạo, của chị em giáo
viên, sự hỗ trợ về tinh thần khi áp dụng thành công hay thất bại một đề tài nghiên
cứu. để từ đó đề ra biện pháp giáo dục phù hợp với trẻ mới mong gặt hái đợc sự
- Động viên khuyến khích nhiều hơn nữa tới tất cả chị em giáo viên để chị em
mạnh dạn hơn trong việc đăng ký phấn đấu các danh hiệu thi đua cao quí .
Trên đây là toàn bộ nội dung đề tài nghiên cứu về một số biện pháp giáo
dục thói quen giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo 4- 5 tuổi trờng mầm non
Noong Bua. Qua đề tài này, tôi hy vọng góp đợc một chút công sức nhỏ bé của
mình vào việc nâng cao hiệu quả chăm sóc giáo dục trẻ, giúp trẻ hình thành và
phát triển toàn diện nhân cách con ngời của sự nghiệp giáo dục. Do năng lực bản
thân còn có nhiều điểm hạn chế, chắc chắn trong quá trình nghiên cứu và thực
nghiệm đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận đ-
ợc sự cảm thông, chia sẻ, sự quan tâm giúp đỡ chỉ bảo kịp thời của hội đồng thi
đua ngành giáo dục thành phố điện biên phủ, của ban giám hiệu nhà trờng và
toàn thể chị em đồng nghiệp để tôi làm tốt hơn nữa những gì mà tôi cha làm đợc
trong năm học này, chỉ với một mong muốn duy nhất đó là: Đợc cống hiến nhiều
hơn nữa chút công sức nhỏ bé của mình cho sự nghiệp trồng ngời mà tôi đã tâm
đắc lựa chọn và đi theo. đồng thời cũng để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ, cũng
nh toàn bộ niềm tin mà cấp trên giao phó cho tôi trong một năm học, làm tiền đề
vững chắc để tôi mạnh dạn bớc tiếp trong những năm học tiếp theo. Tôi xin trân
trọng cảm ơn ./.
Điện Biên phủ ngày 15 tháng 4 năm 2009
Ngời nghiên cứu và thực hiện đề tài
Hoàng Thị Hồng
Tài liệu tham khảo
1- Bộ giáo dục và đào tạo trung tâm nghiên cứu và phát triển chơng
trình giáo dục mầm non Vụ giáo dục mầm non: Sách Hớng dẫn đổi mới
hình thức tổ chức hoạt động mẫu giáo 4 -5 tuổi Năm 2005
2- Đào Thanh Âm Trịnh Dân Nguyễn Thị Hoà - Đinh Văn Vang :
Sách Giáo dục học mầm non tập 1, 2, 3 Nhà xuất bản đại học s phạm Hà
Nội
3 - Hoàng Thị Phơng : giáo trình vệ sinh trẻ em nhà xuất bản đại