ĐỒ án môn học phân tích về tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng trong doanh nghiệp vận tải biển - Pdf 13

ĐỒ ÁN MÔN HỌC
Lời mở đầu
Ngày nay, mọi vấn đề, mọi hiện tượng kinh tế- xã hội đều luôn luôn vận
đông, chúng tồn tại và phát triển trong mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động
qua lại với nhau. Khi mà xã hội càng phát triển thì mối quan hệ đó càng phức tạp
và càng được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau. Đó là lí do vì sao mà
trong mọi vấn đề khi đưa ra những quyết định thì cần phải xem xét, phải cân
nhắc một cách kĩ lưỡng để có được những quyết định đúng đắn, hợp lí và kịp
thời. Để làm được điều này thì chúng ta phải có đầu óc biết phân tích và phán
đoán. Dễ hiểu việc phân tích các hoạt động nói chung và phân tích các hoạt động
kinh tế nói riêng nó có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó chính là một trong những
công cụ của nhận thức, có nhận thức đúng thì mới có những quyết định đúng có
như vậy mới thu được những kết quả tốt nhất trong mọi hành động.
Vận tải biển là một trong những ngành mang lại ngoại tệ lớn cho đất nước.
Nó là ngành sản xuất đặc biệt, do vậy mà các hoạt động kinh tế diễn ra trong các
doanh nghiệp vận tải biển thật đặc biệt từ đó mà việc phân tích các hoạt động
kinh tế diễn ra trong nghành càng có vai trò quan trọng hơn hẳn so với các
nghành kinh doanh khác. Nghành nói đến những khoảng cách, cự ly, thời tiết,
hàng hải và phương tiện chủ yếu là tàu do vậy nó đòi hỏi người phân tích phải có
những kiến thức tổng hợp về kinh tế ,chính trị, xã hội, địa lí, hàng hải và các đặc
trưng kĩ thuật của phương tiện vận chuyển . Để các doanh nghiệp có hiệu quả
và đứng vững trong thời kỳ hội nhập, các doanh nghiệp, các nhà quản lý phải tiến
hành phân tích, đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh, thấy rõ mặt mạnh và
những tồn tại, tìm nguyên nhân và đưa ra các biện pháp, các quyết định hợp lý
trong kinh doanh.
Sinh viên: Giáp Thị Lý 1
MSV: 40565
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
Sau đây là bài phân tích của em về tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng
trong doanh nghiệp vận tải biển. Sự hiểu biết chưa thật sâu sắc và dưới những góc
nhìn chưa thật toàn diện sẽ làm cho bài của em không tránh khỏi những sai sót

Phân tích hoạt động kinh tế đóng vai trò là công cụ của nhận thức và do đó
nó có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với cá nhân người quản lý doanh
nghiệp và đối với toàn bộ quá trình và kết quả sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp. Để có được hoạt động sản xuất hiệu quả và liên tục thì người quản lý
doanh nghiệp phải đưa ra được quyết định kịp thời và thích hợp. Muốn vậy người
quản lý phải có nhận thức đúng đắn, khoa học. Muốn có nhận thức phải phân tích
tầm quan trọng của phân tích hoạt động kinh tế, tuỳ thuộc vào yêu cầu của thực
tiễn và nguồn lực dành cho công tác phân tích.
1.3.Đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế
Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp là các quá trình và kết quả sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế
dưới sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng.
 Chỉ tiêu kinh tế của doanh nghiệp
Là khái niệm dùng để chỉ các đặc điểm về kinh tế của doanh nghiệp trong
không gian và thời gian nhất định. Để phản ánh quá trình và kết quả sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và các bộ phận của nó thì người ta sử dụng rất nhiều các
chỉ tiêu kinh tế. Trong đó có các chỉ tiêu phản ánh về quy mô của các yếu tố, các
điều kiện của sản xuất; có những chỉ tiêu lại phản ánh kết quả và hiệu quả của quá
trình sản xuất kinh doanh; có những chỉ tiêu phản ánh điều kiện và kết quả ở
phạm vi toàn doanh nghiệp; có những chỉ tiêu chỉ phản ánh điều kiện và kết quả
của một bộ phận của doanh nghiệp; có những chỉ tiêu phản ánh điều kiện và kết
quả của một chu kỳ sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp cũng có thể là điều kiện
và kết quả của một giai đoạn nhất định trong chu kỳ đó.
 Nhân tố
Sinh viên: Giáp Thị Lý 4
MSV: 40565
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
Nhân tố hay thành phần bộ phận là khái niệm dùng để chỉ cái nhỏ hơn chỉ
tiêu, cấu thành chỉ tiêu. Nhân tố là những yếu tố bên trong của hiện tượng và quá
trình mà mỗi biến động của nó tác động trực tiếp đến độ lớn, tính chất, xu hướng

kết quả của các giai đoạn trong thời kỳ ấy.
Khi sử dụng phương pháp này cần phân tích mục đích chung của phân tích
hoạt động kinh tế và nó còn có mục đích riêng cụ thể:
- Đánh giá chung tình hình thực hiện chỉ tiêu theo thời gian.
- Xác định các nhân tố và nguyên nhân gây ảnh hưởng đối với từng giai đoạn thực
hiện chỉ tiêu.
- Đề xuất các biện pháp nhằm khai thác triệt để tiềm năng của doanh nghiệp.
2.1.2. Phương pháp chi tiết theo các bộ phận cấu thành.
Chi tiết theo bộ phận cấu thành giúp ta biết được quan hệ cấu thành của các
hiện tượng và kết quả kinh tế, nhận thức được bản chất của các chỉ tiêu kinh tế, từ
đó giúp cho việc đánh giá kết quả của doanh nghiệp được chính xác, cụ thể và xác
định được nguyên nhân cũng như trong điểm của công tác quản lý.
2.2. Phương pháp so sánh
Là phương pháp được sử dụng phổ biến trong phân tích nhằm xác định vị trí
và xu hướng biến động của hiện tượng, đánh giá kết quả.
2.2.1. Phương pháp so sánh bằng số tuyệt đối
Phương pháp so sánh tuyệt đối được thực hiện bằng cách lấy trị số của chỉ
tiêu ở kỳ nghiên cứu trừ đi trị số của chỉ tiêu của kỳ gốc.Kết quả được gọi là
Sinh viên: Giáp Thị Lý 6
MSV: 40565
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
chênh lệch tuyệt đối của nhân tố đó, chênh lệch này cho biết quy mô, khối lượng
của hiện tượng nghiên cứu đạt vượt hoặc hụt giữa hai kỳ.
2.2.2.Phương pháp so sánh bằng số tương đối
Phương pháp so sánh bằng số tương đối cho ta thấy xu hướng biến động, tốc
độ phát triển, kết cấu của tổng thể, mức độ phổ biến của hiện tượng.
Trong bài phân tích này ta sử dụng các phương pháp so sánh bằng số tương
đối:
- So sánh theo số tương đối động thái.
Dùng để biểu hiện xu hướng biến động, tốc độ phát triển của hiện tượng theo

hệ tích, thương số hoặc kết hợp cả tích và thương.
2.3.1.1.Trình tự và nội dung
- Phải xác định được số lượng các nhân tố ảnh hưởng, mối quan hệ của chúng
với chỉ tiêu nghiên cứu từ đó xác định công thức của chỉ tiêu đó.
- Cần sắp xếp các nhân tố theo một trình tự nhất định, nhân tố số lượng đứng
trước, nhân tố chất lượng đứng sau. Trong trường hợp có nhiều nhân tố số lượng,
chất lượng thì nhân tố chủ yếu xếp trước, nhân tố thứ yếu xếp sau hoặc theo mối
quan hệ nhân quả không được đảo lộn trật tự này.
- Tiến hành lần lượt thay thế từng nhân tố theo trình tự nói trên. Nhân tố nào
được thay thế rồi thì lấy giá trị thực tế từ đó. Nhân tố nào chưa được thay thế phải
giữ nguyên giá trị ở kỳ gốc hoặc kỳ kế hoạch. Thay thế xong một nhân tố phải
tính ra kết quả cụ thể của lần thay thế đó. Sau đó lấy kết quả so với kết quả của
bước trước. Chênh lệch tính được chính là kết quả do ảnh hưởng của nhân tố
được thay thế.
- Có bao nhiêu nhân tố thì thay thế bấy nhiêu lần. Cuối cùng ảnh hưởng tổng
hợp của các nhân tố so với chênh lệch của chỉ tiêu nghiên cứu.
* Ưu điểm của phương pháp này là: tính toán nhanh.
* Nhược điểm của phương pháp này: sắp xếp chỉ tiêu khi xét ảnh hưởng của
nhân tố nào thì chỉ có nhân tố đó thay đổi.
2.3.1.2. Khái quát
Sinh viên: Giáp Thị Lý 8
MSV: 40565
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
+ Chỉ tiêu tổng thể: y
+ Chỉ tiêu cá biệt: a,b,c
+ Phương trình kinh tế: y=abc
Giá trị chỉ tiêu kỳ gốc: y
0
= a
0

c
0
- a
0
b
0
c
0
Ảnh hưởng tương đối: δya = (∆ya.100)/y
0
(%)
- Ảnh hưởng của nhân tố thứ nhất (b) đến y:
Ảnh hưởng tuyệt đối: ∆yb = a
1
b
1
c
0
- a
1
b
0
c
0
Ảnh hưởng tương đối: δyb = (∆yb.100)/y
0
(%)
- Ảnh hưởng của nhân tố thứ nhất (c) đến y:
Ảnh hưởng tuyệt đối: ∆yc = a
1

thời gian, quy mô. Hoạt động này không có sản phẩm dở dang, bán thành phẩm,
sản phẩm trong kho, sản phẩm trên đường. Mục đích của phân tích từng chỉ tiêu
sản lượng :
- Đánh giá chung tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng của doanh nghiệp.
- Phân tích chỉ tiêu dưới nhiều góc độ để nhìn nhận đầy đủ, đúng đắn cụ thể về
các nhân tố, thành phần, bộ phận cấu thànhvà ảnh hưởng đến chỉ tiêu sản
lượng.Trên cơ sở ấy mà xác định các nguyên nhân gây biến động cũng như tiềm
năng của doanh nghiệp.
- Đề xuất các biện pháp nhằm sử dụng có hiệu quả các yếu tố quá trình sản
xuất, cải tiến công tác tổ chức quản lý sản xuất, kỹ thuật sản xuất nhằm loại trừ
những ảnh hưởng tiêu cực, phát huy những yếu tố tích cực để tăng sản lượng.
1.2. Ý nghĩa
Chỉ tiêu sản lượng của doanh nghiệp vận tải nói riêng, của các doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh khác nói chung là một chỉ tiêu tổng hợp quan trọng phản ánh
kết quả của quá trình sản xuất, phản ánh tổng hợp các giải pháp, biện pháp trong
việc tổ chức quản lý khai thác các yếu tố của quá trình sản xuất, phản ánh quá
Sinh viên: Giáp Thị Lý 10
MSV: 40565
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
trình đối nội , đối ngoại của doanh nghiệp. Vì vậy bản thân chỉ tiêu sản lượng có
ý nghĩa lớn trong hệ thống chỉ tiêu của doanh nghiệp, nó được coi là chỉ tiêu
trung tâm chỉ đạo của hệ thống chỉ tiêu kinh tế. Vì vậy việc phân tích chỉ tiêu này
có ý nghĩa rất quan trọng trong hệ thống phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Có thể nói rằng để duy trì và không ngừng nâng cao hiệu quả
của quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thì ngoài những lỗ lực
của doanh nghiệp ngoài thị trường thì vấn đề quan trọng nhất là việc khai thác tối
đa hiệu quả các yếu tố của quá trình sản xuất, nâng cao số lượng và chất lượng và
chủng loại, nâng cao quy mô của chỉ tiêu sản lượng và cũng có thể nói rằng trong
phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì không thể thiếu
được các nội dung phân tích chỉ tiêu sản lượng và chỉ có qua phân tích tình hình

1
* L
1
= 1.239.377.909,9 (TKm)
 ∆QL = ∑QL
1
- ∑QL
0
= 347.045.571,64 (TKm)
Và thông qua bảng số liệu về tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo thời
gian ta có bảng tính toán sau:
2.2.Nhận xét đánh giá chung qua bảng
Qua bảng số liệu về tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo thời gian ta
thấy Tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển trong kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ
Sinh viên: Giáp Thị Lý 12
MSV: 40565
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
gốc một lượng là 347.045.571,64 (TKm), và tỷ lệ so sánh là 138,89 (%). Trong
đó khối lượng hàng hóa luân chuyển ở các quý lại tăng giảm không đều, cụ thể là:
Có 3 quý trong năm có khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng là quý I ( tăng một
lượng tuyệt đối là 150.622.528,67 (TKm), tỷ lệ tương đối là 197,8 (%)), quý II
( tăng một lượng tuyệt đối là 91.350.750,66 (TKm), tỷ lệ tương đối là 155,55
(%)), quý III ( tăng một lượng tuyệt đối là 144.114.285,95 (TKm), tỷ lệ tương đối
là 172,85 (%)) và khối lượng hàng hóa luân chuyển ở giảm quý IV một lượng
tuyệt đối là 39.041.993,64 (TKm) , với tỷ lệ tương đối là 89,62 (%).
Khi phân tích chỉ tiêu tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển trong năm thì
ta cần phân tích yếu tố cấu thành nên nó là tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển
(∑Q) và cự ly vận chuyển bình quân ( L ) và nó cũng khác nhau giữa các quý
trong năm.
Tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển (∑Q) trong kỳ nghiên cứu tăng so với

(1) Phương tiện vận tải được bảo dưỡng thường xuyên đáp ứng được nhu
cầu vận chuyển.
(2) Do doanh nghiệp đầu tư mua sắm thêm tàu mới .
(3) Do chính sách mở cửa của nhà nước làm cho khối lượng hàng hóa xuất
nhập khẩu tăng.
(4)Việc khai thác nguồn hàng của bộ phận khai thác tốt nên tránh được tình
trạng tàu chạy rỗng.
* Phân tích các nguyên nhân:
- Nguyên nhân (1): Phương tiện vận tải được bảo dưỡng thường xuyên đáp
ứng được nhu cầu vận chuyển. Do định hướng của doanh nghiệp là luôn giữ tàu
trong tình trạng sẵn sàng khai thác nên doanh nghiệp đã đưa ra các chính sách
thường xuyên thực hiện bảo dưỡng tàu. Chính vì vậy đã làm cho khả năng chuyên
chở của tàu tăng lên đáng kể.
Sinh viên: Giáp Thị Lý 14
MSV: 40565
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
=> Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.
- Nguyên nhân (2): Do doanh nghiệp đầu tư mua sắm tàu mới.
Trong kỳ nghiên cứu, để đáp ứng nhu cầu vận chuyển trên các tuyến đường
ngày càng tăng, công ty đã quyết định đầu tư mua sắm thêm tàu mới để bổ xung
vào đội tàu hiện có của công ty.Với việc đầu tư này đã làm cho khả năng chuyên
chở của đội tàu công ty trên tuyến này tăng và làm cho khối lượng hàng hóa vận
chuyển của công ty trong kỳ nghiên cứu tăng. Khối lượng hàng hóa vận chuyển
tăng là một nhân tố quan trọng giúp cho công ty giảm chi phí và tăng hiệu quả sản
xuất kinh doanh.
 Đây là một nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực và được coi là
nguyên nhân chính làm tăng khối lượng hàng hóa vận chuyển của quý I.
Biện pháp:
 Đầu tư thiết bị mới phải đi đôi với việc đào tạo nâng cao trình độ tay
nghề của cán bộ thuyền viên.

)
Cự ly vận chuyển bình quân trong kỳ nghiên cứu của quý I so với kỳ gốc
một lượng tuyệt đối là 323,77 (Km), với tỷ lệ tương đối là 112,04 (%) . Cự ly vận
chuyển bình quân của quý I tăng là một tác động làm cho Tổng khối lượng hàng
hóa luân chuyển cả năm tăng một lượng là 32.747.729,60 (TKm), chiếm 3,67 (%)
tổng lượng tăng của chỉ tiêu.
Nguyên nhân:
(1)Do công tác Marketing của bộ phận khai thác tàu tốt nên doanh nghiệp đã
ký thêm được nhiều hợp đồng vận chuyển ở tuyến xa.
(2) Do mối quan hệ giữa các nước trên thế giới ngày càng phát triển, nhu
cầu vận chuyển ở những tuyến xa hơn ngày càng tăng lên.
(3) Doanh nghiệp có mối quan hệ tốt với các bạn hàng trong và ngoài nước.
(4) Do thay đổi vị trí các cảng xếp dỡ.
* Phân tích các nguyên nhân:
Sinh viên: Giáp Thị Lý 16
MSV: 40565
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
- Nguyên nhân (1): Do công tác Marketing của bộ phận khai thác tàu tốt nên
doanh nghiệp đã ký thêm được nhiều hợp đồng vận chuyển ở tuyến xa.
Do tại kỳ nghiên cứu, bộ phận Marketing làm việc hiệu quả nên doanh
nghiệp đã ký kết và thực hiện các hợp đồng vận chuyển trên tuyến xa do đó làm
tăng cự ly vận chuyển bình quân của tàu. Việc ký kết các hợp đồng trên tuyến xa
có tác động không nhỏ đến doanh nghiệp. Nó làm tăng doanh thu cũng như mở
rộng khu vực hoạt động của tàu.
 Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực tới hoạt động kinh
doanh của tàu và được coi là nguyên nhân chính làm tăng cự ly vận chuyển
bình quân trong quý.
 Biện pháp:
 Doanh nghiệp cần chú trọng đầu tư và khuyến khích bộ phận Marketing.
Vì đây là một mắt xích quan trọng trong việc tìm kiếm các đơn chào hàng, góp

trong quý I tăng. Tuy nhiên việc tăng cự ly vận chuyển do thay đổi vị trí các cảng
xếp dỡ làm tăng chi phí vận chuyển, từ đó làm giảm doanh thu của tàu.
 Đây là nguyên nhân chủ quan, nó có tác động tiêu cực tới doanh thu của
tàu.
 Biện pháp:
 Doanh nghiệp cần cố gắng tìm những đơn hàng có nguồn hàng ổn định, có
thể của nhiều chủ hàng nhưng phải tập trung về cùng một cảng xếp và một cảng
đích để thuận lợi cho công tác vận chuyển và xếp dỡ của tàu. Từ đó làm tăng
doanh thu của tàu.
Sinh viên: Giáp Thị Lý 18
MSV: 40565
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
 Doanh nghiệp cần xem xét kỹ các đơn chào hàng của các chủ hàng để tính
toán doanh thu dự kiến của mình một cách chính xác gần nhất để đưa ra quyết
định đúng đắn cho việc nên nhận vận chuyển đơn hàng nào.
2.3.2. Quý II
Qua bảng tình hình thực hiện chỉ tiêu sản lượng theo thời gian của công ty.
Ta thấy trong quý II của năm , khối lượng hàng hóa luân chuyển trong kỳ nghiên
cứu so với kỳ gốc tăng một lượng là 91.350.750,66 (TKm), với một tỷ lệ tương
ứng bằng 155,55 (%). Việc khối lượng hàng hóa luân chuyển của quý II tăng làm
cho Tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển trong năm tăng lên 10,24 (%) so với
kỳ gốc.
Trong quý II này thì khối lượng hàng hóa luân chuyển tăng do tác động
ngược chiều của hai yếu tố là khối lượng hàng hóa tăng và cự ly vận chuyển bình
quân trong quý giảm.
2.3.2.1. Khối lượng hàng hóa vận chuyển trong quý II ( Q
2
)
Khối lượng hàng hóa vận chuyển kỳ nghiên cứu trong quý II tăng 50.000, 45
(T) so với kỳ gốc, với tỷ lệ tương đối là 165,18 (%). Khối lượng hàng hóa vận

nhu cầu đặt ra trong vận chuyển của một số chủ hàng, đặc biệt là các chủ hàng
nước ngoài, làm tăng khả năng cạnh tranh của đội tàu của doanh nghiệp trên thị
trường. Do vậy trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã nhận được nhiều đơn chào
hàng có nhu cầu vận chuyển trên các tuyến xa hơn và có nguồn hàng ổn định hơn.
Điều này làm tăng khối lượng hàng hóa vận chuyển của công ty.
 Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực và là nguyên nhân chính
làm tăng khối lượng hàng hóa vận chuyển của đội tàu trong quý.
 Biện pháp:
Tìm mọi biện pháp để giữ vững mức giá ổn định phù hợp với thị
trường.
Sinh viên: Giáp Thị Lý 20
MSV: 40565
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
 Tạo cho doanh nghiệp của mình có được uy tín về lâu dài sau này với
các bạn hàng, tạo cho họ niềm tin vào công ty để thu hút thêm nhiều đơn đặt
hàng hơn nữa.
 Cùng với việc giữ vững mức giá cước thì doanh nghiệp nên có cách tổ
chức phù hợp làm cho dịch vụ của mình ngày càng tốt lên, tạo được danh
tiếng và uy tín trên thị trường trong và ngoài nước.
- Nguyên nhân (4) : Do trình độ của thuyền viên trên tàu giàu kinh nghiệm,
phối hợp đồng bộ, ăn ý.
Để đáp ứng yêu cầu khai thác trên tuyến đường nên trong kỳ nghiên cứu
doanh nghiệp đã quan tâm nhiều hơn đến việc tổ chức đào tạo, tuyển dụng chặt
chẽ, nâng cao trình độ tay nghề cho các cán bộ thuyền viên đặc biệt là Đại phó
trong công tác lập sơ đồ và chỉ đạo công tác xếp dỡ hàng hóa. Với đội ngũ thuyền
viên có trình độ tay nghề cao đã giúp cho doanh nghiệp tận dụng được tối đa sực
chở của tàu, tăng tốc độ khai thác của tàu đã làm cho khối lượng hàng hóa vận
chuyển trong kỳ tăng lên rõ rệt. Việc này có một ý nghĩa quan trọng giúp cho
doanh nghiệp giảm được chi phí và tăng được hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.

* Phân tích nguyên nhân:
- Nguyên nhân (1): Doanh nghiệp ký được nhiều hợp đồng trong tuyến gần.
Trong quý II kỳ nghiên cứu do thị trường vận tải trên các tuyến xa gặp phải
những khó khăn do vậy doanh nghiệp đã tìm thêm được một số bạn hàng, những
người có nhu cầu vận chuyển hàng hóa thường xuyên trên tuyến gần. Do đó số
chuyến tàu chạy trên tuyến gần tăng ( tuyến trong nước, tuyến trong khu vực).
Việc tìm kiếm thêm được các bạn hàng trên tuyến gần sẽ làm giảm cự ly vận
chuyển bình quân. Do đó doanh thu của doanh nghiệp có phần suy giảm một cách
đáng kể.
Sinh viên: Giáp Thị Lý 22
MSV: 40565
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
 Đây là một nguyên nhân chủ quan có tác động tiêu cực.
 Biện pháp:
 Tiếp tục tìm kiếm thêm các bạn hàng mới trên các tuyến xa để khai thác
tốt hơn đội tàu của công ty.
 Kết hợp với các tuyến cũ để lập nên các tuyến mới và đưa tàu vào khai
thác.
 Tìm kiếm bạn hàng mới phải kết hợp với việc thực hiện tận tình chu đáo
trách nhiệm với các bạn hàng sẵn có, để họ luôn tin tưởng vào công ty.
- Nguyên nhân (2): Điều kiện kỹ thuật của các tàu xuống cấp, hạn chế vận
chuyển trên các tuyến đường xa. Một số tàu của doanh nghiệp đã hoạt động lâu
năm, tình trạng kỹ thuật của tàu giảm xuống làm cho tàu không đủ khả năng và
độ an toàn để chạy các tuyến xa nữa. Vì vậy, doanh nghiệp tìm những nguồn
hàng phù hợp với tàu mà có cự ly vận chuyển ngắn để tàu có thể hoạt động tối đa
khả năng chuyên chở của mình mà vẫn an toàn.
=> Đây là nguyên nhân khách quan có tác động tiêu cực.
- Nguyên nhân (3): Do giá nhiên liệu trên thị trường tăng.
Do tình hình bất ổn chính trị của các nước xuất khẩu dầu mỏ làm cho giá dầu
trên thế giới tăng. Mà chi phí chủ yếu của chuyến đi là chi phí nhiên liệu, vì vậy

một lượng tuyệt đối là 118.007.237,36 (TKm), chiếm 13,22 (%) lượng tăng của
Tổng khối lượng hàng hóa luân chuyển.
 Nguyên nhân:
(1) Do tàu của doanh nghiệp được cải tiến, hoán cải và nâng cấp lại.
(2) Do phòng khai thác của doanh nghiệp làm việc hiệu quả.
(3)Do hệ thống đại lý và môi giới của doanh nghiệp.
(4)Tận dụng tối đa trọng tải tàu, hệ số lợi dụng trọng tải khá cao.
Sinh viên: Giáp Thị Lý 24
MSV: 40565
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
* Phân tích nguyên nhân:
- Nguyên nhân (1) : Do tàu của doanh nghiệp được cải tiến, hoán cải và nâng
cấp lại. Nhận thấy một số tàu của doanh nghiệp đã sử dụng lâu năm nên doanh
nghiệp đã thực hiện sửa chữa, hoán cải lại các con tàu đó để tàu có khả năng vận
chuyển được nhiều hàng hơn trên các tuyến phù hợp.
=> Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực.
- Nguyên nhân (2) : Do phòng khai thác của doanh nghiệp vận tải làm việc
có hiệu quả.
Do trong kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã thu hút được một số chuyên gia
trong ngành, cùng phối kết hợp với các nhân viên cũ làm cho công tác khai thác
tìm kiếm thêm đơn hàng hoạt động rất tốt. Cụ thể là phòng đã ký kết thêm nhiều
hợp đồng cho tàu, làm tăng khối lượng hàng hóa vận chuyển và tăng doanh thu
của tàu.
 Đây là nguyên nhân chủ quan có tác động tích cực đến kết quả hoạt động
của tàu nói riêng và của cả đội tàu nói chung. Nguyên nhân này được coi là
nguyên nhân chính làm tăng khối lượng hàng hóa vận chuyển.
 Biện pháp:
 Doanh nghiệp cần có các chính sách đào tạo và tuyển dụng phù hợp và
hấp dẫn được nhiều nhân tài. Cụ thể như việc đưa một số cán bộ nhân viên đi
học tại nước ngoài để họ nâng cao phát huy hết khả năng của mình phục vụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status