Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
Phần I: Cơ sở lý luận của phân tích hoạt động kinh tế
1.1. Mở đầu
1.1.1. Khái niệm phân tích hoạt động kinh tế:
Phân tích là quá trình phân chia, phân giải các hiện tượng và kết quả kinh
doanh thành nhiều bộ phận cấu thành rồi dùng các phương pháp liên hệ,
so sánh đối chiếu, và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng
vận động và phát triển của hiện tượng nghiên cứu.
Phân tích hoạt động kinh tế gắn liền với mọi hoạt động SXKD của DN.
1.1.2. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu phân tích hoạt động kinh tế là các quá trình và kết
quả sản xuất kinh doanh được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế
gắn liền với các nhân tố ảnh hưởng.
Tùy từng trường hợp cụ thể phân tích mà xác định đối tượng phân tích
một cách cụ thể.
Có thể phát biểu một cách khái quát về đối tượng phân tích DN như sau:
Phân tích kinh tế DN là nghiên cứu quá trình và kết quả sản xuất kinh
doanh của DN thông qua các chỉ tiêu kinh tế trong mối liên hệ biện
chứng với các thành phần bộ phận, nhân tố, nguyên nhân.
Khi phân tích về một chỉ tiêu cụ thể nào đó (thông qua bảng phân tích và
chỉ tiêu phân tích thường nằm ở dòng cuối cùng) thì đối tượng phân tích
cụ thể được xác định là chênh lệch tuyệt đối của chỉ tiêu phân tích.
1.1.3. Ý nghĩa phân tích hoạt động kinh tế:
Phân tích hoạt động kinh tế với một vị trí là công cụ quan trọng của nhận
thức, nó trở thành một công cụ quan trọng để quản lý khoa học có hiệu
quả các hoạt động kinh tế. Nó thể hiện chức năng tổ chức và quản lý kinh
tế của Nhà nước.
1.1.4. Mục đích phân tích:
- Đánh giá kết quả hoạt động kinh tế, kết quả của việc thực hiện các
nhiệm vụ được giao, đánh giá việc chấp hành các chế độ, chính sách
của Nhà nước.
1.2.1.1. Khái niệm
Chỉ tiêu trong phân tích biểu hiện cụ thể kết quả kinh doanh, nó nói
nên nội dung, phạm vi kết quả kinh doanh cụ thể.
1.2.1.2. Phân loại chỉ tiêu
a) Theo nội dung kinh tế:
2
Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
- Chỉ tiêu biểu hiện kết quả (doanh thu, lợi nhuận, giá thành)
- Chỉ tiêu biểu hiện điều kiện (lao động, tổng máy móc thiết bị, tổng số
vốn, vật tư…)
b) Theo tính chất của chỉ tiêu:
- Chỉ tiêu khối lượng (số lượng) là chỉ tiêu phản ánh quy mô khối
lượng như tổng khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, tổng số lao
động, tổng số vốn…
- Chỉ tiêu chất lượng là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng vốn, các
yếu tố hay hiệu quả kinh doanh. VD: hiệu suất sử dụng vốn, năng
suất lao động, giá thành sản phẩm.
c) Theo phương pháp tính toán:
- Chỉ tiêu tuyệt đối.
- Chỉ tiêu tương đối.
- Chỉ tiêu bình quân.
d) Theo cách biểu hiện:
- Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị hiện vật.
- Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị giá trị.
- Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị thời gian.
1.2.2. Nhân tố ảnh hưởng
1.2.2.1. Khái niệm
Nhân tố ảnh hưởng là những yếu tố bên trong của các hiện tượng và
quá trình mà mỗi biến động của nó tác động trực tiếp đến độ lớn,
tính chất, xu hướng và mức độ xác định của chỉ tiêu phân tích.
phân chia, phân giải chỉ tiêu phân tích. Trong thực tế có nhiều cách để
phân chia, phân giải chỉ tiêu cụ thể. Dưới đây giới thiệu 3 phương pháp
chủ yếu:
1.3.1.1. Phương pháp phân tích chi tiết theo thời gian
Nội dung: theo phương pháp này chỉ tiêu phân tích trong một thời kỳ dài
nhất định sẽ được chia nhỏ theo từng giai đoạn, từng thành phần thời
gian ngắn hơn.
Việc nghiên cứu phân tích chỉ tiêu được thực hiện qua việc nghiên cứu,
phân tích các giai đoạn, thời gian nhỏ hơn.
1.3.1.2. Phương pháp phân tích chi tiết theo không gian, bộ phân, chủng
loại
Nội dung: theo phương pháp này chỉ tiêu phân tích sẽ được chia nhỏ
thành các bộ phân khác nhau theo không gian, lĩnh vực, chủng loại…
Việc nghiên cứu, phân tích các chỉ tiêu được thực hiện qua việc nghiên
cứu, phân tích các thành phần, bộ phân nhỏ hơn theo không gian, chủng
loại lĩnh vực.
4
Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
1.3.1.3. Phương pháp phân tích chi tiết theo các nhân tố cấu thành
Nội dung: theo phương pháp này chỉ tiêu phân tích được phản ánh bằng
một phương trình kinh tế có quan hệ phức tạp với hai hay nhiều hơn các
nhân tố khác nhau. Các nhân tố khác nhau có tên gọi và đơn vị tính khác
nhau. Việc nghiên cứu, phân tích các chỉ tiêu được thực hiện thông qua
việc nghiên cứu, phân tích các nhân tố trong phương trình kinh tế.
1.3.2. Nhóm phương pháp phản ánh biến động của chỉ tiêu và các thành phần
bộ phận nhân tố
1.3.2.1. Phương pháp so sánh tuyệt đối
Phương pháp này được thực hiện bằng cách: lấy mức độ của chỉ tiêu,
nhân tố ở kỳ nghiên cứu – trị số tương ứng ở kỳ gốc, kết quả so sánh là
chênh lệch tuyệt đối. Nó phản ánh mức biến động của chỉ tiêu nghiên
+) Ảnh hưởng tương đối của các nhân tố:
1.3.3.3. Phương pháp số chênh lệch
- Biểu hiện mối liên hệ giữa chỉ tiêu phân tích với các nhân tố bằng
một phương trình kinh tế có chú ý đến trật tự sắp xếp các nhân tố.
- Mức độ ảnh hưởng tuyệt đối được tính bằng cách lấy chênh lệch của
nhân tố đó nhân vói giá trị kỳ nghiên cứu của nhân tố đứng trước và
giá trị kỳ gốc của nhân tố đứng sau nó trong phương trình kinh tế.
6
Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
Phần II: Phân tích
Chương 1: Đánh giá chung giá trị sản xuất của doanh nghiệp theo mặt hàng
1.1. Mục đích, ý nghĩa
Để đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp người ta
phải dùng đến rất nhiều chỉ tiêu. Trong đó có những chỉ tiêu mang tính pháp
lệnh, có những chỉ tiêu mang tính hướng dẫn, tự xây dựng. Hiện nay các
doanh nghiệp hầu như chỉ có 1 chỉ tiêu pháp lệnh đó là chỉ tiêu quan hệ với
ngân sách. Còn lại các chỉ tiêu của hoạt động sản xuất kinh doanh là những
chỉ tiêu có tính hướng dẫn hoặc chỉ tiêu tự xây dựng. Thông thường người ta
lựa chọn ra một số chỉ tiêu quan trọng để phân tích. Có nhiều chỉ tiêu giúp
đánh giá chung tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng nhìn
chung các chỉ tiêu chủ yếu của doanh nghiệp thường được chia làm 4 nhóm
chính:
• Nhóm 1: Nhóm chỉ tiêu giá trị sản xuất.
• Nhóm 2: Nhóm chỉ tiêu tài chính gồm doanh thu, chi phí và lợi nhuận.
• Nhóm 3: Nhóm chỉ tiêu quan hệ ngân sách.
Nhóm này thường phản ánh các chỉ tiêu thể hiện việc thực hiện nghĩa vụ đối
với ngân sách Nhà nước. Bao gồm thuế các loại và các khoản nộp khác
(như: VAT, thuế TNDN, thuế sử dụng vốn, thuế XNK…). Người ta thường
dựa vào nhóm chỉ tiêu nộp BHXH. Đây là chỉ tiêu không trực thuộc quan hệ
với ngân sách nhưng nó phản ánh nghĩa vụ bắt buộc của doanh nghiệp đối
kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với ngân
sách Nhà nước, tình hình lao động trong doanh nghiệp. Nó giúp chúng ta
nhận ra những mặt tích cực, tiêu cực, những mặt còn tồn tại mà từ đó có
nhữn biện pháp khai thác tốt nhất các mặt tích cực và hạn chế những mặt
tiêu cực giúp cho doanh nghiệp có kết quả sản xuất cao hơn trong tương lai.
Vì vậy mà việc phân tích, đánh giá chung về tình hình sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp là hết sức quan trọng và cần được tiến hành thường xuyên.
1.2. Phương trình kinh tế
Theo trường hợp này các nhân tố có mối quan hệ tổng đại số.
Ta có:
Chỉ tiêu giá trị sản xuất ( ∑G) là chỉ tiêu tổng thể
Chỉ tiêu mặt hàng (g
i
) là chỉ tiêu cá thể
8
Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
Phương trình kinh tế:
Kỳ gốc:
Kỳ nghiên cứu:
Tỷ trọng của từng mặt hàng: dg
i
(i=1 → 8)
∑dg
i
= 100 (%) = d∑G
⇒ dg
80
= 100 – (15,92+9,2+10,7+9,44+14,3+12,6+12,53) = 15,31(%) kỳ
gốc
⇒ dg
Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
1) Không có sự thay đổi nhiều về tính năng, mẫu mã, chất lượng của sản
phẩm nên chưa kích thích được nhu cầu của người tiêu dùng.
2) Trong nước xuât hiện thêm nhiều đối thủ cạnh tranh với hàng giá rẻ.
3) Số sản phẩm bị lỗi, hỏng tăng.
4) Khả năng đàm phán giá mua nguyên vật liệu không tốt.
5) Sự hoạt động kém hiệu quả của nhân viên bán hàng.
Trong những nguyên nhân kể trên giả định nguyên nhân chính là: nguyên
nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai.
Xét nguyên nhân chính thứ nhất: Không có sự thay đổi tính năng, mẫu
mã, chât lượng của sản phẩm. Việt Nam là một đất nước có dân số trẻ.
Nhu cầu của giới trẻ thì đa dạng và phong phú. Họ luôn mong muốn
những mẫu mã mới,tính năng mới, trong khi đó sự cạnh tranh giữa các
doanh nghiệp với nhau ngày càng gay gắt. Trong kỳ nghiên cứu, bộ phận
nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp thì chậm chạp, chưa có sự quan
tâm đúng mức trong khâu tìm hiểu xu hướng biến động của thị trường
trong kỳ tới. Dẫn đến hàng nhập về khó tiêu thụ. Số lượng bán ra giảm
nhiều so với kỳ trước làm cho doanh thu giảm. Đây chính là nguyên nhân
chủ quan tiêu cực ảnh hưởng đến doanh thu
Biện pháp:
- Nâng cao trình độ chuyên môn của nhân viên trong phòng nghiên
cứu thị trường, để có thể đưa ra những dự báo chính xác.
Xét nguyên nhân thứ hai: Trong nước xuất hiện thêm nhiều luồng hàng
giá rẻ. Việc mở rộng quy mô sản xuất của Trung Quốc với những mẫu
phong phú đa dạng, tính năng cải tiến, giá cả rẻ đã tràn lan trên thị
trường. Trong khi người dân với ngân sách chi tiêu hạn hẹp. Họ đã lựa
chọn mặt hàng này thay cho những sản phẩm chính hãng với tính năng
như vậy mà giá cả cao hơn. Vì thế đã có một số lượng không nhỏ khách
hàng lựa chọn những sản phẩm đó. Vì vậy giá trị sản xuất của doanh
10
Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
sản lượng sản phẩm túi học sinh sản xuất ra giảm, kéo theo giá trị sản xuất
mặt hàng này giảm so với kỳ gốc. Trên thực tế, do một vài nghuyên nhân mà
doanh thu mặt hàng xi măng cũng giảm. Đây là nguyên nhân chủ quan mang
xu hướng tác động tiêu cực ảnh hưởng đến doanh nghiệp. Để khắc phục tình
trạng này doanh nghiệp cần có một số biện pháp sau:
- Doanh nghiệp cần xác định cơ cấu sản phẩm cho hợp lý để tránh
trường hợp chỉ tập trung vào một sản phẩm mà làm cho các sản phẩm khác
không được chú trọng sẽ làm cho rủi ro gặp phải lớn hơn khi sản xuất nhiều
sản phẩm khác nhau.
- Trước khi sản xuất một sản phẩm cần tiến hành điều tra, nghiên cứu và
lên kế hoạch một cách cẩn thận.
12
Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
1.4.3. Mặt hàng túi thể thao
Qua bảng phân tích ta thấy, mặt hàng túi thể thao là mặt hàng có giá trị sản
xuất tăng mạnh nhất trong các mặt hàng. Trong kỳ nghiên cứu giá trị sản
xuất mặt hàng này đã tăng 41,15% so với kỳ gốc, tương đương với tăng
3.771.007.000đ, ảnh hưởng tới tổng giá trị sản xuất là lớn nhất là 4,4%.
Biến động trên có thể do các nguyên nhân sau:
1) Doanh nghiệp đưa ra nhiều mẫu mã túi thể thao mới.
2) Doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng từ khách hàng.
3) Giá mặt hàng túi thể thao trên thị trường tăng.
4) Chất lượng sản phẩm tăng hơn kỳ gốc.
5) Bộ phận bán hàng thể hiện sự năng động và hiệu quả.
Trong những nguyên nhân trên giả định nguyên nhân thứ nhất và nguyên
nhân thứ hai là nguyên nhân chính.
Xét nguyên nhân chính thứ nhất: doanh nghiệp đưa ra nhiều mẫu mã mới.
Do dự đoán được nhu cầu của thị trường trong kỳ nghiên cứu nên ngay từ
đầu kỳ nghiên cứu doanh nghiệp đã mạnh dạn đầu tư để sản xuất thêm
trong kỳ nghiên cứu tăng. Đây là một nguyên nhân khách quan tích cực
mang lại việc làm nhiều hơn cho doanh nghiệp.
1.4.4. Mặt hàng thắt lưng
Qua bảng phân tích ta thấy, mặt hàng thắt lưng là mặt hàng có tỷ trọng thấp
nhất trong các mặt hàng. Ở kỳ nghiên cứu giảm 14,88% so với kỳ gốc,
tương đương với 1.202.671.000đ, ảnh hưởng tới tổng giá trị sản xuất là
1,4%.
Biến động trên có thể do các nguyên nhân sau:
1) Năng suất lao động suy giảm.
2) Nhu cầu về mặt hàng trên thị trường giảm.
3) Doanh nghiệp thu hẹp quy mô sản xuất.
4) Nền kinh tế suy thoái doanh nghiệp đã cắt giảm nhân sự và sản lượng.
5) Là một mặt hàng mới mẻ đối với doanh nghiệp.
Trong các nguyên nhân kể trên, giả định có hai nguyên nhân chính là nguyên
nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai.
Xét nguyên nhân thứ nhất: ở kỳ gốc khi mà doanh nghiệp đã mở một khóa
đào tạo ngắn hạn nhằm mục đích để nâng cao tay nghề cho người lao động
14
Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
và cũng nhằm nâng cao năng suất lao động, giảm số sản phẩm hư và lỗi. Mặt
khác công tác đãi ngộ, chế độ thưởng cho công nhân phân xưởng luôn được
ưu tiên nên mọi người lao động hăng say và năng suất được đảm bảo.Tuy
nhiên sang kỳ nghiên cứu thì do tình hình sản xuất kinh doanh không được
sáng sủa, nợ xấu còn nhiều. Doanh nghiệp đã không thực hiện công việc này
nữa. Trong khi đó thì mẫu mã của sản phẩm theo đơn đặt hàng của khách
hàng thay đổi và phức tạp hơn trước dẫn đến sản xuất ra xuất hiện những lỗi
khó sửa, hàng hóa trông xấu hơn và khó bán hơn. Bên cạnh đó do việc tiếp
cận với những quy trình sản xuất sản phẩm mới không được chú trọng, các
máy móc thiết bị mới nhập về không sử dụng hết công suất do việc đào tạo
chưa được bài bản. Mặt khác một số cán bộ hay quát, mắng nhân viên mỗi
đáp ứng được các yêu cầu trên thì ngay lập tức khách hàng sẽ quay lưng với
các sản phẩm đó. Nhu cầu giảm, thị hiếu và mức độ hài lòng của khách hàng
cũng giảm theo. Vì thế mà doanh nghiệp phải giảm số lượng sản xuất. Đây
là nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực.
1.4.5. Mặt hàng mũ bảo hiểm
Qua bảng phân tích ta thấy, mặt hàng mũ bảo hiểm ở kỳ nghiên cứu giảm
13,34% so với kỳ gốc, tương đương với 1.633.704.000đ, ảnh hưởng tới tổng
giá trị sản xuất là 1,91%.
Biến động trên có thể do các nguyên nhân sau:
1) Trên thị trường xuất hiện ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh.
2) Doanh nghiệp không chú trọng đào tạo nâng cao tay nghề công nhân.
3) Năng suất lao động thấp.
4) Doanh nghiệp chưa nắm bắt được thị hiếu của người tiêu dùng.
5) Nhu cầu thị trường trong nước giảm.
Trong các nguyên nhân kể trên, giả định rằng doanh thu của mặt hàng mũ
bảo hiểm trong kỳ nghiên cứu giảm đi so với kỳ gốc do hai nguyên nhân
chính là nguyên nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai.
16
Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
Xét nguyên nhân thứ nhất: Vào kì gốc, doanh nghiệp không có nhiều đối thủ
cạnh tranh và nhu cầu của người tiêu dùng đột nhiên tăng cao. Đến đầu kì
nghiên cứu, nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm mới đang bắt đầu
giảm. Trên thị trường xuất hiện nhiều đối thủ cạnh tranh. Vì vậy sự cạnh
tranh càng khốc liệt. Các đối thủ cạnh tranh đưa ra những sản phẩm có chất
lượng cao, giá cả phải chăng đồng thời áp dụng chính sách khuyến mại,
kích thích người tiêu dùng. Đứng trước tình thế đó, doanh nghiệp cũng đưa
ra chính sách khuyến mại vào đầu kì nghiên cứu nhưng không mang lại
nhiều hiệu quả. Cuối cùng giá trị sản xuất mặt hàng mũ bảo hiểm của doanh
nghiệp ở kỳ nghiên cứu vẫn giảm đi so với kỳ gốc. Đây là nguyên nhân
khách quan tiêu cực làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm lợi nhuận
- Cũng có thể mở các buổi học để những người thợ lành nghề, bậc cao
truyền đạt kinh nghiệm cách sử dụng máy móc cho người công nhân.
1.4.6. Mặt hàng mũ vải
Qua bảng phân tích ta thấy, mặt hàng mũ vải ở kỳ nghiên cứu tăng 11,65%
so với kỳ gốc, tương đương với 1.256.628.000đ, ảnh hưởng tới tổng giá trị
sản xuất là 1,47%.
Biến động trên có thể do các nguyên nhân sau:
1) Công tác phân chia công việc, bố trí lao động hợp lý đó tạo được năng
suất cao.
2) Số đơn đặt hàng doanh nghiệp nhận về tăng lên.
3) Chiến lược tiếp thị đạt hiệu quả.
4) Chất lượng sản phẩm được nâng cao.
5) Doanh nghiệp tạo được mối quan hệ làm ăn lâu dài, ổn định với khách
hàng
Trong các nguyên nhân trên ta giả định hai nguyên nhân chính là nguyên
nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai.
18
Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
Xét nguyên nhân thứ nhất: công tác phân chia công việc, bố trí lao động của
doanh nghiệp được thực hiện hợp lý. Trong kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp đã
làm tốt công tác lao động, bố trí công nhân làm việc ở các bộ phận phù hợp
với khả năng của họ hay nói cách khác là sử dụng đúng người, đúng việc.
Tùy vào năng lực mà phân chia công việc cho từng bộ phận, mỗi bộ phận
chịu trách nhiệm các công việc như: Nghiên cứu, tìm kiếm thị trường cung
cấp, đặt hàng nhận hàng và làm thủ tục thông quan lượng nguyên liệu nhập
về Mặt khác vừa là doanh nghiệp sản xuất đồng thời cũng là doanh nghiệp
kinh doanh nên doanh nghiệp thực hiện phân chia công việc, bố trí lao động
sản xuất theo dây chuyền, mỗi dây chuyền khoảng 20 lao động xen kẽ giữa
nam và nữ, thợ lành nghề và thợ mới để họ có thể hỗ trợ nhau. Tạo không
khí làm việc hăng say, đem lại kết quả làm việc cao, chất lượng sản phẩm
xuất là 0,64%.
Biến động trên có thể do các nguyên nhân sau:
1) Số đơn đặt hàng doanh nghiệp nhận về tăng lên.
2) Công tác nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
3) Doanh nghiệp lắp đặt thêm dây chuyền, máy móc hiện đại vào sản xuất.
4) Việc thay đổi cơ cấu tổ chức đem lại hiệu quả cao.
5) Uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng ngày càng tăng cao nên tình
hình tiêu thụ được tiến triển nhanh hơn.
Trong các nguyên nhân kể trên, giả định rằng việc tăng giá trị sản xuất của
mặt hàng giầy vải trong kỳ nghiên cứu do hai nguyên nhân chính là nguyên
nhân thứ nhất và nguyên nhân thứ hai.
Xét nguyên nhân thứ nhất: Doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng
hơn. Tại kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp đã nhận được một số đơn đặt hàng
mới với các công ty đối tác. Đây là những hợp đồng với số lượng lớn,cung
20
Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
cấp trong thời hạn dài. Doanh nghiệp phải tăng sản lượng sản xuất và đã đáp
ứng được một cách nhanh chóng, đầy đủ các nhu cầu trong và ngoài nước,
góp phần làm tăng uy tín, đồng thời doanh thu, lợi nhuận thu về cũng khá
lớn. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực làm tăng doanh thu mặt hàng
phôi thép của doanh nghiệp.
Xét nguyên nhân thứ hai: Công tác nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp
hoạt động hiệu quả. Từ đầu kỳ nghiên cứu, nhận thức được tầm quan trọng
của việc nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp đã chủ động lập các kế hoạch,
tiến hành tìm kiếm các khách hàng mới, các thị trường mới chứ không chỉ
chú trọng đến những khách hàng truyền thống như ở kỳ gốc, hướng sản
phẩm của mình vào các thị trường tiềm năng để có thể tiêu thụ được số
lượng sản phẩm lớn hơn. Nhận thấy rằng thị hiếu của người châu Âu và
châu Mỹ rất phù hợp với sản phẩm của mình, hai thị trường này khá lớn, đòi
hỏi một lượng cung ổn định, khối lượng lớn lại không khó tính như một số
thể bán loại hàng này với nhiều mức giá khác nhau, giá nào họ cũng có thể
đáp ứng được. Vì thế mà một số thị trường tiềm năng, truyền thống của
doanh nghiệp cũng chuyển sang đặt hàng của quốc gia này. Điều này góp
phần làm giảm giá trị sản xuất của doanh nghiệp so với kỳ gốc. Đây là
nguyên nhân khách quan mang tính tiêu cực ảnh hưởng đến doanh nghiệp.
Xét nguyên nhân thứ hai: Do doanh nghiệp chỉ tập trung vào các mặt hàng
chủ lực. Từ đầu kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp chú trọng các công tác chiến
lược cho các mặt hàng vốn là thế mạnh của doanh nghiệp từ nhiêu năm nay
mà lơ là nhóm các hàng khác. Doanh nghiệp không quan tâm nhiều đến việc
thu mua, sản xuất, cũng như chất lượng sản phẩm tạo ra. Đồng thời cũng
không chủ động tiến hành tìm kiếm thị trường tiêu thụ mà chỉ đáp ứng đủ
một vài đơn hàng của những bạn hàng lâu năm. Đây là nguyên nhân chủ
quan tiêu cực làm giảm doanh thu nhóm mặt hàng khác so với kỳ gốc.
Doanh nghiệp cần phải lưu ý khắc phục trong kỳ tới bằng cách:
22
Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
- Không nên coi nhẹ các mặt hàng này, cần có biện pháp đầu tư phù
hợp để có hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt hơn như nâng cao chất
lượng sản phẩm.
- Lập kế hoạch tiêu thụ, nghiên cứu thị trường, tiến hành công tác
quảng bá sản phẩm và thương hiệu để nhiều khách hàng biết đến.
1.5. Tiểu kết chương
1.5.1. Kết luận
Tóm lại, ta thấy tổng giá trị sản xuất trong kỳ nghiên cứu (85.641.732.000đ)
giảm so với kỳ gốc (82.914.563.000đ) là 2.727.169.000đ tương đương với
3,18%. Sự giảm đi này là do sự thay đổi của các nhân tố cấu thành mức độ
ảnh hưởng tương đối như sau:
Với mặt hàng túi thể thao là một mặt hàng chủ lực của doanh nghiệp, được
chú trọng và quan tâm từ khâu sản xuất đến khâu tiếp thị sản phẩm nên độ
tăng về giá trị sản xuất là mạnh nhất và rất ấn tượng trong thời gian qua.
27,47%, chúng có mức độ ảnh hưởng đến tổng giá trị sản xuất của doanh
nghiệp lần lượt là 0,14%, 1,40% và 4,12%.
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra biến động của hiện tượng trên. Nhưng
trong đó những nguyên nhân gây ra biến động mang tính chủ quan, khách
quan, có tác dụng tích cực hay tiêu cực là những nguyên nhân trực tiếp gây
ra biến động. Sự biến động của chỉ tiêu này do các nguyên nhân cơ bản sau:
1. Nguyên nhân chủ quan:
a) Chủ quan tích cực:
(1) Doanh nghiệp đưa ra nhiều mẫu mã túi thể thao mới.
(2) Công tác phân chia công việc, bố trí lao động hợp lý đó tạo được năng
suất cao.
(3) Công tác nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp hoạt động hiệu quả.
24
Đồ án môn học Phân ch hoạt động kinh tế
b) Chủ quan tiêu cực:
(4) Không có sự thay đổi nhiều về tính năng, mẫu mã, chất lượng của sản
phẩm nên chưa kích thích được nhu cầu của người tiêu dùng.
(5) Doanh nghiệp đã quyết định giảm tỷ trọng mặt hàng này.
(6) Năng suất lao động suy giảm.
(7) Doanh nghiệp không chú trọng đào tạo nâng cao tay nghề công nhân.
(8) Do tập trung vào những mặt hàng chủ đạo khác nên lơ là nhóm mặt hàng
này.
2. Nguyên nhân khách quan:
a) Khách quan tích cực:
(9) Doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng từ khách hàng.
(10) Giá mặt hàng túi thể thao trên thị trường tăng.
b) Khách quan tiêu cực:
(11) Trong nước xuất hiện thêm nhiều đối thủ cạnh tranh với hàng giá rẻ.
(12) Nhu cầu về mặt hàng trên thị trường giảm.
(13) Trên thị trường xuất hiện ngày càng nhiều đối thủ cạnh tranh.