khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các trường mầm non khu vực tp hồ chí minh - Pdf 13

Khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp Hồ Chí Minh
Trang 1

CHƯƠNG : MỞ ĐẦU

1. Đặt vấn đề
Trong xu thế phát triển kinh tế xã hội hiện nay, sự phát triển vượt bậc về
khoa học kỹ thuật. Chất lượng cuộc sống ngày càng cao, nhu cầu xã hội ngày
càng tăng và công nghiệp hóa – đô thị hóa đang diễn ra hết sức mạnh mẽ trong
cả nước và Thành Phố Hồ Chí Minh là một trung tâm phát triển kinh tế mạnh
của đất nước. Cùng với xu hướng phát triển kinh tế thì vấn đề về môi trường và
bảo vệ môi trường thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng và điển hình tại
Thành Phố Hồ Chí Minh đang là vấn đề nóng bỏng và cần được quan tâm.
Bảo vệ môi trường hơn bao giờ hết đã trở thành nhiệm vụ cấp bách không
của riêng ai. Việt Nam hứng chịu hậu quả nặng nề từ biến đổi khí hậu gây ra.
Do đó, chúng ta cần phải có những hành động cụ thể để chung tay với thế giới
góp phần bảo vệ trái đất, môi trường sống của chúng ta.
Ngoài việc đưa ra Hiến pháp, Luật môi trường, các quy định, tiêu
chuẩn…thì việc giáo dục môi trường là một trong những biện pháp lâu dài và
rất quan trọng.
Trong khi đó nhận thức của người dân nói chung, học sinh nói riêng về bảo
vệ môi trường còn nhiều hạn chế.
Vì vậy cần phải giáo dục các em ngay từ nhỏ, từ khi trẻ bắt đầu đi học để
sau này khi lớn lên thì sẽ giúp trẻ hiểu được về môi trường, biết yêu môi
trường và hành động đúng đắn để bảo vệ môi trường và điều quan trọng nhất là
giúp trẻ hình thành một ý thức tốt đối với môi trường.
Giáo dục bảo vệ môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo
dục chính quy và không chính quy, giáo dục trong nhà trường và ngoài nhà trường
làm cho con người có được sự hiểu biết về môi trường, kỹ năng và giá trị về nhân
cách trong ứng xử với môi trường, tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển

Vì vậy những hiểu biết cơ bản của các em được bồi dưỡng qua giáo dục
môi trường sẽ để lại dấu ấn sâu sắc trong toàn bộ cuộc đời sau này của các em.
Đồng thời các em ở lứa tuổi này có tính tích cực cao, dễ hưng phấn, hiếu động
Khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp Hồ Chí Minh
Trang 3

nghịch ngợm nếu không được giáo dục sẽ dẫn tới những hành động làm tổn hại
môi trường một cách vô ý thức hoặc có ý thức.
Do đó để nâng cao hiệu quả giáo dục môi trường cho học sinh ở các trường
mầm non là phải hình thành cho học sinh những hiểu biết về môi trường, bảo vệ
môi trường. Xây dựng cho học sinh thái độ, hành vi cư xử đúng với môi trường là
vấn đề cần thiết hiện nay.
Xuất phát từ những vấn đề trên thì em chọn đề tài “Khảo sát nhận thức về
GDMT của CB - GV và định hướng GDMT cho học sinh ở một số trường Mầm
Non khu vực Tp Hồ Chí Minh” để mong muốn góp phần vào việc giáo dục tuyên
truyền ý thức bảo vệ môi trường cho các em sau này.
3. Mục tiêu của đề tài
Đánh giá nhận thức và công tác lồng ghép giáo dục môi trường tại một số
trường Mầm Non trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Xây dựng chương trình giáo dục môi trường cho học sinh Mầm Non điển
hình tại một số trường ở khu vực TP. Hồ Chí Minh.
4. Nội dung nghiên cứu
Khảo sát, đánh giá hiện trạng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp.Hồ Chí Minh và khảo sát ý kiến đóng góp từ các
thầy cô của các trường Mầm Non.
Đề xuất giải pháp nâng cao việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học
sinh các trường Mầm Non khu vực Tp.Hồ Chí Minh. Xây dựng các chủ đề giáo
dục môi trường cho các trường Mầm non và tổ chức dạy thí điểm ở một trường
Mầm non bất kỳ trong các trường khảo sát.

 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Sưu tầm, thu thập, tổng quan tài liệu.
Nghiên cứu những công trình nghiên cứu trước có những vấn đề liên quan
và định hướng để bổ sung làm mới từ những đề tài trước đó.
 Phương pháp khảo sát thực địa
Mục đích là để điều tra công tác giáo dục môi cho học sinh ở các trường
Mầm Non. Và khảo sát ý kiến về việc lồng ghép giáo dục môi trường cho các em
trong quá trình học tập trong trường.
Số phiếu khảo sát : 150 phiếu.
Khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp Hồ Chí Minh
Trang 5

Nội dung của phiếu khảo sát:
- Hiện trạng môi trường ở các trường Mầm Non
- Hiện trạng giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ
- Ý thức của các cán bộ và giáo viên của một số trường Mầm Non
- Ý kiến đóng góp từ cán bộ và giáo viên về việc lồng ghép giáo dục trẻ
ý thức bảo vệ môi trường trong quá trình học tập.
 Phương pháp đánh giá tổng hợp
Thống kê, tổng hợp số liệu thu thập và phân tích. Xử lý số liệu và đánh giá dựa
và kết quả thống kê.
 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Tham khảo ý kiến chuyên gia và các cán bộ, giáo viên để đưa ra các giải pháp
thích hợp để giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho trẻ một cách có hiệu quả.
6. Giới hạn của đề tài
Giới hạn về đối tượng nghên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số
vấn đề về môi trường và ý thức giáo dục cho trẻ của các cán bộ và giáo viên ở các
trường Mầm Non.
Giới hạn về phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ nghiên cứu một số trường tại


Khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp Hồ Chí Minh
Trang 7

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Lịch sử giáo dục môi trường
1.1.1. Sự phát triển về GDMT trên thế giới
1.1.1.1. Sự phát triển về GDMT trên thế giới
Môi trường là một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của toàn thế giới.
Trong mấy chục năm trở lại đây, sự phát triển kinh tế ồ ạt dưới tác động của cách
mạng khoa học kỹ thuật và sự gia tăng dân số quá nhanh đã làm cho môi trường
bị biến đổi chưa từng thấy. Nhiều nguồn tài nguyên bị vắt kiệt, nhiều hệ sinh thái
bị tàn phá mạnh, nhiều cân bằng trong tự nhiên bị rối loạn. Môi trường lâm vào
khủng hoảng với quy mô toàn cầu, trở thành nguy cơ thực sự đối với cuộc sống
hiện đại và sự tồn vong của xã hội trong tương lai.
Để bảo vệ cái nôi sinh thành của mình, con người phải thực hiện hàng loạt
các các vấn đề phức tạp, trong đó có vấn đề GDMT. GDMT là một trong những
biện pháp có hiệu quả nhất, giúp con người có nhận thức đúng trong việc khai
thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường.
Lần đầu tiên trong lịch sử, vào năm 1984, tại cuộc họp Liên hiệp quốc về
BVMT và tài nguyên thiên nhiên (TNTN) ở Pari, thuật ngữ “Giáo dục môi
trường” được sử dụng. Tiếp sau đó, có rất nhiều cố gắng để định nghĩa thuật ngữ

quần chúng về mối liên quan thiết yếu giữa đặc trưng môi trường và sự tiếp tục
thoả mãn các nhu cầu của con người được thức tỉnh. Hoạt động của con người
phụ thuộc vào động cơ, mà động cơ phụ thuộc vào sự hiểu biết của chúng”. Vì
thế chúng ta hiểu được tầm quan trọng tại sao mỗi người phải nhận thức môi
trường đúng đắn thông qua GDMT.
Cũng trong năm 1987, Uỷ ban thế giới về môi trường và sự phát triển đã có
báo cáo “Tương lai của chúng ta” (WCED 1987). Bản báo cáo đã đưa ra một
công bố chính “chương trình nghị sự toàn cầu” để nhất trí vấn đề môi trường với
sự phát triển, và vì thế đã tăng cường và mở rộng thực chất cuộc bảo tồn thế giới
1980. Giáo dục được coi là phần trọng tâm của chương trình này “Sự thay đổi
trong thái độ mà chúng ta cố gắng làm phụ thuộc các chiến dịch giáo dục lớn,
các cuộc thảo luận và sự tham gia của quần chúng” (WCED 1987).
Khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp Hồ Chí Minh
Trang 9

Hội nghị thượng đỉnh diễn ra tại Rio de Janero năm 1992, hội thảo trên
một phạm vi rộng về các đề tài và vấn đề môi trường. Có nhiều công bố dành cho
GDMT thông qua suốt văn kiện. Một trong những kết quả chính của hội nghị là
sự nhất trí rằng phát triển và giáo dục và môi trường phải là một bộ phận thống
nhất của quá trình học tập ở cả hai dạng chính thức và không chính thức. Và một
dự kiến được đưa ra là mọi chính phủ phải nổ lực phấn đấu để cập nhập hóa hoặc
chuẩn bị các chiến lược nhằm mục đích kết hợp môi trường và phát triển thành
vấn đề trung tâm để đưa vào tất cả các cấp giáo dục.
1.1.1.2. Một số thành tựu về GDMT trên thế giới
Ở Đức, có chương trình “Tìm hiểu đất nước” trong bậc tiểu học. Các cấp
học từ trung học trở lên thì nội dung GDMT được gắn hữu cơ vào chương trình
Sinh học và Địa lí.
Ở Bungari, cấu tạo chương trình khoa học ở cấp 1 và học sinh ở cấp 2 và 3
theo tư tưởng chủ đạo “Con người và Môi trường”.

Rio Janeiro (Braxin) năm 1992 đã xác định chiến lược hành động cho loài người
về môi trường và phát triển môi trường ở thế kỷ 21, trong đó có hành động xem
xét lại tình hình GDMT và đưa GDMT vào chương trình giáo dục cho tất cả mọi
lớp và ở các cấp học. Đây cũng là một trong những mục tiêu chủ yếu của chương
trình GDMT quốc tế (IEEP) của UNESCO và UNEP. Sau hội nghị này tất cả các
nước xem lại tình hình GDMT ở quốc gia mình vả xây dựng những mô hình giáo
dục mới phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả.
1.1.2. Sự phát triển về GDMT ở Việt Nam
1.1.2.1. Tình hình GDMT ở Việt Nam
Ở Việt Nam, từ năm 1966 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào
Tết trồng cây để giữ gìn và làm đẹp môi trường sống. Cho đến nay phong trào
này vẫn được duy trì và phát triển mạnh mẽ.
Năm 1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có chương trình trồng cây phát triển
giáo dục – đào tạo và BVMT (1991 – 1995).
Trong kế hoạch hành động quốc gia về môi trường và phát triển bền vững
của Việt Nam giai đoạn 1996 – 2000, GDMT được ghi nhận như một bộ phận
cấu thành.
Khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp Hồ Chí Minh
Trang 11

Từ năm 1995, Dự án GDMT trong nhà trường phổ thông Viêt Nam (VIE
95/041) của Bộ Giáo dục và Đào tạo do UNDP tài trợ đã nhắm vào mục tiêu cơ
bản:
 Hổ trợ xây dựng một chính sách và chiến lược thực hiện quốc gia về
GDMT tại Việt Nam.
 Tăng cường năng lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc truyền đạt
những nội dung và phương pháp GDMT vào các chương trình đào tạo giáo viên.
 Xây dựng các hoạt động GDMT cụ thể để thực hiện ở cấp Tiểu học và
Trung học.

soạn và thử nghiệm ở một số đại phương.
Ở bậc đại học:
 Ở các trường sư phạm: đã tiến hành thử nghiệm bước đầu đưa GDMT vào
nội dung đào tạo và bồi dưỡng với các phương pháp tiếp cận cơ bản như:
giáo dục vì sự phát triển bền vững, phương pháp tiếp cận tổng thể - nhà
trường, GDMT ngoài lớp học, GDMT thông qua việc giải quyết vấn đề
cùng cộng đồng ( Hoàng Đức Nhuận, 1998).
 Các tài liệu bồi dưỡng giáo viên các cấp đã được biên soạn như: “ GDMT
trong nhà trường phổ thông qua môn Địa lý”,“Bảo vệ môi trường ” cho
giáo viên sinh học.
 Các trường đại học: sinh viên đã được học giáo trình đại cương “Con người
và môi trường ”. Ngoài ra, tùy từng khoa, từng trường lại có các giáo trình
riêng. Hiện nay đã có chuyên nghành riêng về môi trường trong nhiều
trường đại học và cao đẳng.
Song song với việc giảng dạy trong nhà trường, nhiều đề tài nghiên cứu
khoa học về GDMT cấp nhà nước và cán bộ quản lý, nhiều đề tài luận án phó tiến
sĩ và thạc sĩ đã và đang được thực hiện, có tác dụng mở rộng nội dung và nâng
cao hiệu quả của việc GDMT.
1.1.2.3. Các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và ngành
Giáo dục – Đào tạo về BVMT và GDMT
a) NGHỊ QUYẾT 41 – NQ/TW CỦA BỘ CHÍNH TRỊ NGÀY 15/11/2004
VỀ “BVMT trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước”
Khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp Hồ Chí Minh
Trang 13

A-Một số nội dung quan trọng của Nghị quyết NQ/TW
Nghị quyết đã nêu ra 5 quan điểm
1. BVMT là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố

nghiêm trọng, phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái, từng bước nâng cao chất
lượng môi trường.
3- Xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hoà giữa
tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường;
mọi người đều có ý thức bảo vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên.
C - Nhiệm vụ
1 - Các nhiệm vụ chung
a) Phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường
b) Khắc phục các khu vực môi trường đã bị ô nhiễm, suy thoái
c) Điều tra nắm chắc các nguồn tài nguyên thiên nhiên và có kế hoạch bảo
vệ, khai thác hợp lý, bảo vệ đa dạng sinh học
d) Giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tôn tạo cảnh quan môi trường
đ) Đáp ứng yêu cầu về môi trường trong hội nhập kinh tế quốc tế
2 - Nhiệm vụ cụ thể
- Đối với vùng đô thị và vùng ven đô thị
- Đối với vùng nông thôn
D – Giải pháp
 “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách
nhiệm BVMT”. Đây là nội dung rất quan trọng, tăng cường đa dạng hoá các hình
thức tuyên truyền, phổ biến chính sách, chủ trương, pháp luật và các thông tin về
môi trường và PTBV cho mọi người, đặc biệt là trong thanh niên, thiếu niên; nhất
là: Đưa nội dung GDMT vào chương trình, sách giáo khoa của hệ thống giáo dục
quốc dân, tăng cường thời lượng và tiến tới hình thành môn học chính khoá đối
với các cấp học phổ thông.
 “Tăng cường công tác quản lý Nhà nước về BVMT” trong đó chú ý đến
việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về BVMT, tăng cường công tác thanh tra,
kiểm tra, giám sát, sớm xây dựng, ban hành quy định giải quyết bồi thường thiệt
hại về môi trường.
Khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp Hồ Chí Minh

hệ thống giáo dục quốc dân có hiểu biết về pháp luật và chủ trương chính
Khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp Hồ Chí Minh
Trang 16

sách của Đảng, Nhà nước về BVMT, có kiến thức về môi trường để tự giác
thực hiện BVMT.
 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ giảng dạy, giáo viên, cán bộ nghiên cứu khoa
học – công nghệ và cán bộ quản lý về BVMT.
 Nội dung, phương thức giáo dục bảo vệ môi trường.
 Nội dung, phương thức giáo dục BVMT
 Nội dung giáo dục BVMT phải đảm bảo tính giáo dục toàn diện:
 Đối với giáo dục mầm non: cung cấp cho trẻ em hiểu biết ban đầu về môi
trường sống của bản thân nói riêng và của con người nói chung, biết cách
sống tích cực với môi trường, nhằm đảm bảo sự phát triển lành mạnh của
cơ thể và trí tuệ.
 Đối với giáo dục tiểu học: trang bị kiến thức cơ bản phù hợp với độ tuổi
và tâm lý của học sinh về các yếu tố của môi trường, vai trò của môi
trường đối với con người và tác động của con người đối với môi trường;
giáo dục học sinh có ý thức BVMT; phát triển kỹ năng bảo vệ và giữ gìn
môi trường.
 Đối với giáo dục trung học cơ sở và trung học phổ thông: trang bị
những kiến thức về sinh thái học, mối quan hệ giữa con người với thiên
nhiên; trang bị kỹ năng bảo vệ và giữ gìn môi trường, biết ứng xử tích cực
với môi trường sống xung quanh. Việc GDMT chủ yếu đựơc thực hiện
theo phương thức khai thác triệt để tri thức về môi trường hiện có ở các
môn học trong nhà trường.
 Nội dung, phương thức đào tạo cán bộ BVMT
 Nội dung chính của đào tạo cán bộ về BVMT bao gồm: những kiến thức cơ
bản liên quan đến môi trường, kỹ năng nắm bắt các vấn đề môi trường, kỹ

vững về sinh thái.
Để việc đưa giáo dục BVMT vào nhà trường đạt kết quả mong muốn, quá
trình triển khai sẽ thực hiện theo phương hướng được xác định và phải đảm bảo
nguyên tắc, mục tiêu, nội dung với những phương pháp thích hợp.
1.2.1. Định nghĩa về GDMT
Có nhiều định nghĩa về GDMT, điều này cho thấy GDMT không nhất thiết
là một khái niệm khoa học, mà nó mang đặc tính của một chương trình hành động.
Khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp Hồ Chí Minh
Trang 18

Dưới đây là một số khái niệm về GDMT:
 “GDMT giúp con người hiểu biết về thế giới tự nhiên và biết sống hòa hợp
với thiên nhiên” (Cứu lấy Trái Đất).
 “GDMT là một quá trình nhận ra các giá trị làm sáng tỏ các quan điểm để
phát triển các kỹ năng và thái độ cần thiết, nhằm hiểu và đánh giá đúng đắn mối
tương quan giữa con người, môi trường, văn hóa và môi trường xung quanh.
GDMT cũng đòi hỏi thực hành (áp dụng vào thực tiễn) trong việc đưa ra các quyết
định và tự xây dựng quy tắc hành vi về các vấn đề có liên quan đến chất lượng môi
trường” (Hội nghị Quốc tế về Giáo dục Môi trường ở trường học – Paris,
UNESCO,1970).
 “GDMT là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục. Nó nên được tập
trung vào những vấn đề thực tiễn và mang tính chất liên thông. Nó nên nhằm vào
xây dựng giá trị, đóng góp vào sự nghiệp phồn vinh của cộng đồng và liên quan
đến sự sống còn của nhân loại” (Hội nghị Giáo dục Môi trường ở Tbilisi,1977 ).
 Trong khuôn khổ của việc GDMT thông qua các môn học ở nhà trường,
có thể hiểu GDMT theo định nghĩa là một quá trình tạo dựng cho con người những
nhận thức và mối quan tâm đến môi trường và các vấn đề về môi trường. GDMT
gắn liền với việc học kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành thái độ và lòng nhiệt
tình để hoạt động một cách độc lập hoặc phối hợp nhằm tìm ra giải pháp cho

với thiên nhiên sinh động, tươi đẹp,…
Các thầy cô giáo cần nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục
BVMT cho học sinh, có trách nhiệm triển khai giáo dục BVMT phù hợp với điều
kiện của nhà trường và địa phương. Để đảm bảo hiệu quả giáo dục BVMT, những
người làm công tác giáo dục cần phải hiểu đươc sự cần thiết của việc giáo dục
BVMT, đồng thời cần có kỹ năng sâu trong việc thực hiện giáo dục BVMT cho
các em học sinh.
1.2.3. Định hướng giáo dục BVMT trong nhà trường
Giáo dục BVMT cần nhìn nhận môi trường trong tính toàn bộ của nó,
nghĩa là trong môi trường cần phải xem xét tất cả các mặt tự nhiên, sinh thái, chính
trị, kỹ thuật và xã hội, cần khám phá môi trường cả ở khía cạnh chất lượng vật chất
của mối quan hệ con người và môi trường lẫn khía cạnh tinh thần của mối quan hệ
này. Tuy nhiên, để xác định phạm vi và đối tượng giáo dục nhằm tăng hiệu quả
Khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp Hồ Chí Minh
Trang 20

của giáo dục BVMT trong nhà trường, cần thiết phải tập trung hơn vào nội dung
giáo dục BVMT tự nhiên và mối quan hệ tương hổ của nó với các hoạt động của
con người.
Giáo dục BVMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, vì nội dung giáo dục
có thể tìm thấy trong nhiều môn học và hoạt động. Trong các chương trình giáo
dục của nhà trường Việt Nam hiện nay, giáo dục BVMT hiện nay chưa phải là một
môn học riêng mà được triển khai bằng phương thức tích hợp vào các môn học và
theo tinh thần xuyên bộ môn. Điều đó có nghĩa là không thể thực hiện giáo dục
BVMT chỉ qua một môn học hoặc một hoạt động mà cần có sự liên kết giữa
chúng trong quá trình giáo dục mới có thể đảm bảo thực hiện được mục tiêu giáo
dục BVMT.
Giáo dục BVMT cần phải chú ý khai thác tình hình thực tế môi trường gần
gũi với học sinh, từ khuôn viên của nhà trường đến môi trường của địa phương,

cấp học, bậc học, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của giáo dục nói chung.
 Phải hướng việc giáo dục BVMT tới việc cung cấp cho học sinh những
kiến thức về môi trường và kỹ năng BVMT phù hợp với tâm, sinh lý từng lứa tuổi.
 Nội dung giáo dục BVMT phải chú trọng các vấn đề thực hành, trên cơ sở
đó hình thành các kỹ năng, phương pháp hành động cụ thể để học sinh có thể tham
gia có hiệu quả vào các hoạt động BVMT của địa phương, của đất nước phù hợp
với lứa tuổi.
 Phương pháp giáo dục BVMT nhằm tạo điều kiện cho người học chủ động
tham gia vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho học sinh phát hiện các vấn đề môi
trường và tìm ra hướng giải quyết vấn đề dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo
viên.
 Tận dụng các cơ hội để giáo dục BVMT nhưng phải đảm bảo kiến thức cơ
bản của môn học, tính logic của nội dung và không làm quá tải kiến thức và tăng
thời gian của bài học.
1.2.5. Yêu cầu của GDMT
 Kết hợp trang bị tri thức với giáo dục đạo đức môi trường.
 Đặt GDMT trong mối quan hệ đa ngành, giải quyết vấn đề dưới sự kết hợp
đa lĩnh vực.
Khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp Hồ Chí Minh
Trang 22

 Hình thức giáo dục phải đa dạng, phong phú, kết hợp chặt chẽ giữa lý
thuyết và minh họa thực tế, mô hình, hình thức phù hợp lứa tuổi, nhận thức, kết
hợp giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
 Đảm bảo giáo dục ứng xử môi trường theo quy định của pháp luật và các
công ước quốc tế về BVMT.
 Đảm bảo kết hợp các yếu tố kinh tế, xã hội và chính trị trong GDMT, xem
môi trường như một tổng thể tự nhiên và có một mối quan hệ chặt chẽ với các yếu
tố kinh tế và xã hội. Đặt sự phát triển của cá nhân và cộng đồng trong môi trường

 Xây dựng thái độ: Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn
đề môi trường như nguồn lực để sống, lao động, phát triển cá nhân, cộng đồng,
xã hội. Từ đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường,
có trách nhiệm đối với môi trường, có quan niệm đúng về các giá trị nhân cách
đối với môi trường.
 Trên nền tảng của tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động BVMT,
người học tự nâng cao khả năng lựa chọn cách sống phù hợp với việc sử dụng
hợp lý và khôn ngoan các nguồn TNTN, góp phần tham gia hiệu quả vào việc
phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường tại nơi ở và nơi làm việc của
mỗi cá nhân.
 Hình thành và phát triển năng lực phân tích đánh giá những vấn đề có liên
quan đến môi trường và khả năng giải quyết các vấn đề môi trường ở phạm vi
cá nhân, địa phương và cộng đồng.
 Giáo dục BVMT được đưa vào toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân. Ở
mỗi cấp, bậc học, tùy theo khả năng tiếp nhận tri thức và thực hiện các hành vi
BVMT của học sinh mà lựa chọn nội dung và phương pháp dạy học cho phù
hợp.
Mục tiêu giáo dục BVMT ở cấp trường Mầm Non:
 Việc tạo ra phản xạ, thói quen đầu tiên về việc bảo vệ MT sống của mỗi cá
nhân, từ đó xây dựng quan niệm, nhận thức, kiến thức và kỹ năng BVMT cho các
bậc học sau này là nội dung chủ yếu của GDBVMT trong GD Mầm Non.
 Hiểu biết về môi trường sống của bản thân nói riêng và con người nói
chung.
 Biết cách sống tích cực trong MT và thân thiện với MT.
Khảo sát nhận thức và định hướng giáo dục môi trường cho học sinh ở các
trường Mầm Non khu vực Tp Hồ Chí Minh
Trang 24

 Về kiến thức:
Dạy cho các bé nhận biết được các thành phần môi trường và mối quan hệ

Song đó mới chỉ là một mặt của mục tiêu giáo dục BVMT. Điều cần đạt là
học sinh từ sự hiểu biết đó, tùy theo độ tuổi và mức độ tham gia vào các hoạt động
tác động đến môi trường, cần có thái độ ứng xử thân thiện với môi trường, có kỹ
năng thực hành, phương pháp hành động độc lập, khả năng ra quyết định phù hợp,
ứng xử có hiệu quả vấn đề môi trường. Qua đó hình thành và phát triển giá trị nhân
cách, đạo đức trong thái độ ứng xử và hành động trước vấn đề môi trường.
1) Quan điểm lựa chọn và thiết kế nội dung khối kiến thức
Nội dung khối kiến thức được thiết kế theo hướng tích hợp lấy bản thân trẻ
làm trung tâm với các mối quan hệ với con người - hệ thống tự nhiên; con người
– văn hóa xã hội; con người - địa danh; con người - nguồn nhân lực tác động.
2) Nội dung khối kiến thức
 Hiểu biết về bản thân và gia đình.
- Cung cấp những kiến thức về cấu tại cơ thể và các nhu cầu cần thiết của
con người và gia đình.
- Giáo dục trẻ nhận biết tình cảm của bản thân và mọi người xunh quanh.
 Con người - địa danh
- Giúp trẻ làm quen với các địa danh gần gũi và quan trọng trong khu vực trẻ
ở.
- Hình thành kỹ năng giao tiếp, biểu cảm, hành vi ứng xử đúng đắn, phù hợp
với địa danh.
 Con người và thiên nhiên
Cung cấp kiến thức sơ đẳng về MT thiên nhiên, giáo dục trẻ có thái độ tốt
và biết bảo vệ môi trường.
 Con người – văn hóa xã hội
- Giáo dục về vị trí, vai trò của bản thân trong gia đình và trong môi trường
xã hội.
- Giáo dục trẻ kỹ năng sống trong nhóm bạn bè, tôn trọng người khác.
 Môi trường – con người – thời gian và sự thay đổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status