LỜI MỞ ĐẦU
Trong cơ chế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt về mọi mặt, đòi hỏi các
chủ thể kinh tế ngoài nguồn vốn tự có phải biết huy động vốn để đáp ứng các
yêu cầu của quá trình sản xuất - kinh doanh, đồng thời quan trọng hơn nữa là
việc phân phối, quản lý và sử dụng nguồn vốn kinh doanh một cách hợp lý, đạt
được hiệu quả cao nhất trên cơ sở chấp hành các chế độ, chính sách Pháp luật
hiện hành. Hoạt động tài chính doanh nghiệp là hoạt động xuyên xuốt tất cả các
khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, từ khâu huy động vốn cho tớ khâu cuối
cùng là phân phối lãi thu được từ các hoạt động đó. Kết quả cuối cùng của hoạt
động sản xuất kinh doanh cũng đồng thời là kết quả tài chính của doanh nghiệp.
Do vậy mà hoạt động tài chính có vai trò to lớn đôi với hoạt động sản xuất kinh
doanh của mỗi doanh nghiệp, đồng thời nó cũng là một chỉ tiêu chủ yếu để đánh
giá kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp.
Ngày nay, trong điều kiện các quan hệ kinh tế dược mở rộng, tình hình tài
chính của mỗi doanh nghiệp không những được quan tâm bởi các nhà quản lý
doanh nghiệp mà các đối tượng khác có quan tâm tới như các cổ đông, các nhà
đầu tư, các đối tác, các cơ quan quản lý Nhà nước cũng rất quan tâm tới tình
hình tài chính doanh nghiệp. Chính vì vậy mà việc thường xuyên tiến hành phân
tích tình hình tài chính tài chính doanh nghiệp sẽ giúp cho các đối tượng sử dụng
thông tin tài chính của doanh nghiệp nắm bắt được thực trạng tài chính doanh
nghiệp, xác điịnh được các nguyên nhân vàmức độ ảnh hưởng của từng nhân tố
đến tình hình tài chính cũng như các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
Quá trình phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp chủ yéu dựa trên các
Báo cáo tài chính định kỳ, bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh
doanh, Bảng báo các lưu chuyển tiền tệ và các bảng phụ chú khác.Thông qua
việc phân tích các Báo cáo tài chính cho phép đấnh giá được thực trạng tài
chính, kết quả cũng như trình độ sử dụng, quản lý vốn của doanh nghiệp và triẻn
vọng Kinh tế - Tài chính trong thời gian tới. Từ đó có cơ sở để đưa ra các giải
1
pháp nhằm phát huy khả năng của doanh nghiệp, hạn chế những mặt còn yếu
tài chính trong doanh nghiệp.
Đi đôi với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của
doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thức giá trị, hay nối
cách khác đó chính là các quan hệ tài chính đối với doanh nghiệp, cụ thể là:
-Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước:
Quan hệ này phát sinh thông qua việc Nhà nước cung cấp vốn (hàng hoá
hay dịch vụ) cho doanh nghiệp hoạt động (đối với trường hợp là doanh nghiệp
nhà nước) và thông qua việc doanh nghiệp phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính
đối với nhà nước như việc nộp các khoản thuế, phí, lệ phí theo luật định.
-Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính:
Qua việc doanh nghiệp thực hiện quá trình trao đổi, mua bán các sản
phẩm tài chính nhằm thoả mãn các nhu cầu về vốn. Trong quá trình này doanh
nghiệp phải luôn tiếp xúc, trao đổi với thị trường tài chính chủ yếu là thị trường
tiền tệ với phương pháp huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn mà các
ngân hàng, các doanh nghiệp có thể huy động được nguồn vốn để phục vụ cho
3
qúa trình hoạt động của mình. Còn với thị trường vốn các doanh nghiệp cũng có
thể tạo được nguồn vốn thích hợp bằng cách phát hành các giấy tờ có giá như
chứng khoán, cổ phiếu hoặc trái phiếu. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể tiến hành
kinh doanh các mặt hàng này trên thị trường để có thể thu lợi nhuận, thoả mãn
nhu cầu về vốn.
-Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác:
Đây là các quan hệ về mặt thanh toán trong việc vay hoặc cho vay vốn,
đầu tư vốn (như quan hệ liên doanh - liên kết, quan hệ giữa doanh nghiệp với
các chủ đầu tư, các ngân hàng ) hoặc các quan hệ về mua bán tài sản, vật tư
hàng hoá và các dịch vụ khác (quan hệ giữa doanh nghiệp với các đối tác kinh
doanh, quan hệ giữa doanh nghiệp với các ngân hàng ).
-Quan hệ tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp:
Các quan hệ này được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp phải có nghĩa
vụ thanh toán các khoản tiền công, tiền lương, các khoản tiền thưởng, tiền phạt
sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục
tiêu của doanh nghiệp. Các hoạt động có liên quan tới việc tạo lập, phân phối và
sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc các hoạt động tài chính tạo nên các quan hệ kinh tế
- tài chính của doanh nghiệp. Nếu như các quan hệ này được tổ chức tốt thì cũng
là nhằm đạt tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp.
Có thể nói Tài chính chính là các quan hệ tiền tệ và quỹ tiền tệ. Tuy
nhiên, nếu xét về mặt thực chất thì các quan hệ tiền tệ và các quỹ tiền tệ chỉ là
hình thức biểu hiện bên ngoài, mà ẩn đằng sau nó là những quan hệ kinh tế phức
tạp, những luồng chuyển dịch giá trị gắn liền với việc tạo lập và sử dụng các quỹ
tiền tệ. Sự vận động này không chỉ bó hẹp trong một chu kỳ sản xuất kinh doanh
mà nó còn được thể hiện trực tiếp hay gián tiếp có liên quan đến tất cả các khâu
của quá trình tái sản xuất giữa doanh nghiệp với các đối tác trong nền kinh tế thị
trường. Những quan hệ đó tuy chứa đựng những nội dung kinh tế khác nhau
nhưng chúng đều có những đặc trưng giống nhau như quan hệ tài chính giữa
doanh nghiệp với Nhà nước, với các thị trường (thị trường tiền tệ, thị trường
vốn, thị trường các yếu tố đầu vào, thị trường các yếu tố đầu ra ), các quan hệ
5
tài chính phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, các quan hệ tài chính giữa doanh
nghiệp với các đối tác hay với các chủ thể khác trong xã hội
Như vậy, các quan hệ tài chính được xem như là kết quả của hoạt động
phân phối, trao đổi (mua - bán) và nó bao quát mọi khía cạnh trong vòng kinh
doanh của doanh nghiệp. Do vậy mà các nhóm quan hệ này đều mang những
đặc trưng nhất định và nó cũng là những đặc trưng cơ bản của tài chính doanh
nghiệp:
+Thứ nhất: Tài chính doanh nghiệp phản ánh những luồng chuyển dịch
giá thị trong nền kinh tế. Những luồng chuyển dịch đó chính là sự vận động của
quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Và rõ ràng các quan hệ tài
chính đã cho ta thấy sự vận động của các nguồn tài chính đều nảy sinh trong quá
trình hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp.
+Thứ hai: Sự vận động của các nguồn tài chính không phải diễn ra một
Thông qua mối quan hệ với thị trường tài chính (thị trường vốn, thị trường tiền
tệ ) mà doanh nghiệp có thể chủ động vay vốn từ thị trường. Mặt khác, thông
qua mối quan hệ tài chính với các đối tác mà doanh nghiệp có thể phân tích cụ
thể tình hình nội tại và kêu gọi vốn đầu tư hay tham gia liên doanh liên kết, thuê
tài chính
-Thứ ba: Lợi nhuận của doanh nghiệp được sử dụng như thế nào ?
Đây là một vấn đề rất nhạy cảm và có tầm quan trọng lớn. Phân phối lợi
nhuận không phải là việc phân chia số tiền lãi một cách đơn thuần mà là việc
giải quyết tổng hợp các mối quan hệ kinh tế diễn ra đối với doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần phải giải quyết hài hoà các mối quan hệ về lợi ích giữa Nhà
nước, doanh nghiệp và CB CNV nhưng trước hết cần thực hiện nghĩa vụ và
hoàn thành trách nhiệm đối với Nhà nước theo Pháp luật quy định. Một vấn đề
quan trọng khác là doanh nghiệp cần phải dành phần lợi nhuận để lại thích đáng
để giải quyết các nhu cầu kinh doanh của mình, đồng thời chú trọng đảm bảo lợi
ích của các thành viên trong đơn vị. Cụ thể, nội dung phân phối lợi nhuận được
tóm tắt theo sơ đồ sau:
7
Việc phân phối lợi nhuận đúng đắn sẽ trở thành động lực thúc đẩy sản
xuất kinh doanh phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp tục
công việc sản xuất kinh doanh của mình.
-Thứ tư: Phân tích, đánh giá và kiểm tra các hoạt động như thế nào để
thường xuyên đảm bảo trạng thái tài chính có hiệu quả ?
-Thứ năm: Quản lý các hoạt động tài chính như thế nào để đưa ra các
quyết định thu - chi cho phù hợp ?
Đây là một vấn đề khó đối với doanh nghiệp vì các nguồn vốn ngắn hạn
chủ yếu là vốn lưu động đều được đầu tư vào quá trình sản xuất phục vụ cho
mục đích kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố có liên quan đến doanh thu
của doanh nghiệp không phải chỉ do doanh nghiệp quyết định mà nó còn phụ
thuộc vào thị trường và vấn đề thị hiếu tiêu dùng. Tuy nhiên các quyết định của
8
4. Chức năng của tài chính doanh nghiệp
Xuất phát từ nội dung hoạt động tài chính mà tài chính doanh nghiệp có
các chức năng sau:
-Chức năng phân phối:
Chức năng phân phối là thuộc tính vốn có, khách quan của tài chính
doanh nghiệp, là công cụ kinh tế của phạm trù tài chính. Phân phối tài chính
dưới hình thức giá trị diễn ra giữa hai chủ thể và hai chủ thể này có thể ở hai
hình thức sở hữu khác nhau. Nhờ có chức năng phân phối mà doanh nghiệp có
khả năng khai thác, thu hút các nguồn tài chính trong nền kinh tế để hình thành
vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua chức năng phân phối mà vốn kinh
doanh được đầu tư, sử dụng vào mục đích kinh doanh để tạo ra thu nhập và tích
luỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Hay nói khác đi, nhờ có chức năng phân phối mà
các quỹ được tạo lập và sử dụng. Đồng thời vốn kinh doanh của doanh nghiệp
được tuần hoàn và chu chuyển tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp. Đây là yếu tố
quan trọng nhất quyết định phương hướng và cách thức phân phối tài chính của
doanh nghiệp.
-Chức năng giám đốc:
Cũng như chức năng phân phối, chức năng giám đốc là thuộc tính khách
quan của tài chính doanh nghiệp, là công cụ kinh tế của phạm trù tài chính. Biểu
hiện tập trung nhất của chức năng này là giám đốc các quá trình hình thành và
sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Trong quá trình phân phối, hàng loạt
các quỹ tiền tệ được hình thành và sử dụng, song việc hình thành không phải do
ngẫu nhiên hay tự phát. Với khả năng giám đốc của tài chính, các quỹ tiền tệ
được hình thành từ các nguồn tài chính hợp lý, tức là có tính chất luật pháp và
có hiệu quả. Thông qua chức năng giám đốc, tài chính doanh nghiệp đảm bảo
cho các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp được sử dụng đúng mục đích, từ đó nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn.
9
Chức năng giám đốc là sự giám sát, dự báo tính hiệu quả của các quá trình
phân phối. Nhà quản lý có thể thấy được yếu điểm trong quá trình kinh doanh để
xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Báo cáo tài chính là phương tiện để
doanh nghiệp trình bày khả năng sinh lời và thực trạng tài chính của doanh
nghiệp cho các đối tượng quan tâm.
Thông qua quá trình hoạt động của doanh nghiệp gắn với việc tạo lập,
phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ mà Báo cáo tài chính được hình thành. Hay
nói khác đi, chính do sự vận động (ra khỏi hay đi vào) của các luồng tiền tệ mà
Báo cáo tài chính được sử dụng để theo dõi, sử dụng hay điều chỉnh nguồn tài
chính của doanh nghiệp cho phù hợp. Các đối tượng sử dụng Báo cáo tài chính
tài chính doanh nghiệp có thể là các doanh nghiệp, Nhà nước hoặc cũng có thể
là các đối tác kinh doanh, các nhà đầu tư tuỳ theo mức trách nhiệm và sự cần
thiết của thông tin trên Báo cáo tài chính.
Báo cáo tài chính được Nhà nước quản lý rất chặt chẽ theo cấp và được
quy định thống nhất về phương pháp lập, phương pháp tính, thời hạn lập và
gửi Các thông tin kế toán trên Báo cáo tài chính phải có tính chất xác thực và
có cơ sở. Nếu xét riêng biệt về ý nghĩa của từng chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính
thì chỉ có tính chất thống kê đơn thuần, nhưng nếu xết về mối quan hệ giữa các
chỉ tiêu thì các chỉ tiêu mang lại một thông tin mới có ý nghĩa chung và mang
tính chất điển hình của doanh nghiệp. Ví dụ như chỉ tiêu Tỷ suất thanh toán
ngắn hạn của doanh nghiệp được xác định bằng thương số giữa chỉ tiêu TSLĐ &
ĐTNH với chỉ tiêu Tổng nợ ngắn hạn. Nếu như chỉ tiêu này được xét riêng biệt,
tách rời thì số liệu thống kê chỉ có tính chất quy mô. Ngược lại, khi xem xét tổng
hợp hai chỉ tiêu thì kết quả giữa TSLĐ & ĐTNH với Tổng nợ ngắn hạn lại nói
lên khả năng tài chính của doanh nghiệp có thể trang trải cho các khoản nợ ngắn
hạn.
Một ví dụ khác như chỉ tiêu Doanh lợi doanh thu được xác định bằng
thương số giữa Lợi nhuận thuần với Doanh thu thuần trong kỳ của doanh nghiệp
(thường là 1 năm, 1quý hay 1 tháng ). Nếu chỉ xem xét từng chỉ tiêu: chỉ tiêu
LNT cho chúng ta biết về khả năng kinh doanh cũng như nghĩa vụ phải nộp thuế
11
thu nhập của doanh nghiệp đối với Nhà nước, chỉ tiêu DTT nói lên quy mô kinh
quản lý vĩ mô, thông qua cac chỉ tiêu trên Báo cáo tài chính của các doanh
nghiệp sẽ thực hiện trách nhiệm quản lý và doanh nghiệp cũng có trách nhiệm
thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước theo luật định.
2. Những nội dung cơ bản của Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính là báo cáo tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các
chỉ tiêu kinh tế - tài chính nhất định để phản ánh tình hình tài sản của đơn vị tại
một thời điểm, kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình sử dụng
vốn trong một thời kỳ nhất định của đơn vị, giúp cho các đối tượng sử dụng
thông tin kế toán nhận biết được tình hình kinh tế - tài chính trong quá trình sản
xuất - kinh doanh của đơn vị và đề ra các quyết định cần thiết. Đồng thời, Báo
cáo tài chính còn là phương tiện để doanh nghiệp trình bày khả năng sinh lời và
thực trạng tài chính doanh nghiệp cho các đối tượng quan tâm. Theo chế độ hiện
hành thì nội dung Báo cáo tài chính bao gồm hai loại hình là báo cáo bắt buộc và
báo cáo hướng dẫn.
*.Báo cáo tài chính bắt buộc: Là những báo cáo mà mọi doanh nghiệp đều
phải lập và gửi theo định kỳ, không phân biệt hình thức sở hữu và quy mô của
doanh nghiệp.
Hiện nay, theo quy định của Nhà nước các doanh nghiệp định kỳ phải lập
ba báo cáo bắt buộc sau:
-Bảng cân đối kế toán (Balance Sheet): Là một tài liệu mang tính chất bao
quát và quan trọng nhất để nghiên cứu, đánh giá tổng quát tình hình kinh doanh
cũng như kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử dụng vốn và những triển vọng
kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
Kết cấu của Báo cáo tài chính bao gồm hai phần: phần “Tài sản” và phần
“Nguồn vốn”. Phần Tài sản phản ánh giá trị của tài sản, phần Nguồn vốn phản
ánh nguồn hình thành của Tài sản trong doanh nghiệp.Trong đó phần Tài sản
gồm các chỉ tiêu như: Tiền, Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn. Các khoản nợ
phải thu phần Nguồn vốn gồm các chỉ tiêu như Nợ ngắn hạn, Nợ dài hạn, Các
khoản phải thu Xét theo góc độ kinh tế, phần “Tài sản” cho phép đánh giá tổng
quát về năng lực và trình độ sử dụng vốn của doanh nghiệp, phần “Nguồn vốn”
Phải thu nội bộ
Vốn KD ở các đơn vị phụ thuộc
110
111
112
113
120
121
128
129
130
131
132
133
134
135
14
Phải thu nội bộ khác
Các khoản phải thu khác
DP các khoản phải thu khó đòi (*)
IV. Hàng tồn kho
Hàng mua đang đi trên đường
Nguyên liệu, vật liệu tồn kho
Công cụ, dụng cụ tồn kho
Chi phí SXKD dở dang
Thành phẩm tồn kho
Hàng hoá tồn kho
Hàng gửi đi bán
DP giảm giá hàng tồn kho (*)
V. Tài sản lưu động khác
I. Tài sản cố định
TSCĐ hữu hình
Nguyên giá
Giá trị hao mòn luỹ kế (*)
TSCĐ thuê tài chính
Nguyên giá
Giá trị hao mòn luỹ kế
TSCĐ vô hình
210
211
212
213
214
215
216
217
15
Nguyên giá
Giá trị hao mòn luỹ kế (*)
II. Các khoản đầu tư TC dài hạn
Đầu tư chúng khoán dài hạn
Góp vốn liên doanh
Các khoản đầu tư TC dài hạn khác
DP giảm giá đầu tư dài hạn (*)
III. Chi phí XDCB dở dang
IV. Các khoản ký quỹ, kỹ cược DH
218
219
220
221
315
316
317
318
320
321
322
330
331
332
333
16
B. Nguồn vốn chủ sở hữu 400
Nguồn vốn – quỹ
1. Nguồn vốn kinh doanh
2.Chênh lệch đánh giá lại tài sản
Chênh lệch tỷ giá
Quỹ đầu tư phát triển
Quỹ dự phòng tài chính
Quỹ trợ cấp mất việc làm
Lợi nhuận chưa phân phối
Quỹ khen thưởng phúc lợi
Nguồn vốn đầu tư XDCB
Nguồn kinh phí
1.Quỹ quản lý của cấp trên
2.Nguồn kinh phí sự nghiệp
410
411
412
413
thức ghi trong ngoặc đơn hoặc ghi đỏ
-Báo cáo kết quả kinh doanh (Income Statement): Là một Báo cáo tài
chính phản ánh tóm lược các khoản doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh
của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Về mặt nội dung Báo cáo kết quả
kinh doanh gồm có ba phần:
+Phần 1: Lợi nhuận (lỗ)
Phản ánh kết quả kinh doanh của doanh nghiệp gồm kết quả hoạt động
sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động bất thường
+Phần 2: Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước
Phản ánh tình hình doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước về
thuế và các khoản phải nộp khác.
+Phần 3: Thuế GTGT được khấu trừ, thuế GTGT được hoàn lại, được
miễn giảm.
Phản ánh số thuế GTGT mà doanh nghiệp được khấu trừ, đã khấu trừ và
còn được khấu trừ cuối kỳ; số thuế GTGT mà doanh nghiệp được hoàn lại, đã
hoàn lại và còn được hoàn lại; số thuế GTGT mà doanh nghiệp được miễn giảm,
đã miễn giảm và còn được miễn giảm.
Cụ thể Báo cáo kết quả kinh doanh được quy định theo mẫu sau:
Mẫu số B02 - DN
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Quý năm
Phần 1. Lợi nhuận,lỗ Đơn vị tính
CHỈ TIÊU Mã
số
Kỳ
trước
Kỳ này Luỹ kế
từ ĐN
Tổng doanh thu
Trong đó: Doanh thu hàng xuất khẩu
10
11
20
21
22
30
31
32
40
41
42
50
60
70
80
Phần 2. Tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước
Đơn vị tính
CHỈ TIÊU
Mã
số
Số
còn
phả
i
nộp
ĐK
Số p.s
trong
kỳ
Luỹ kế
CHỈ TIÊU Mã
số
Số tiền
Kỳ Luỹ kế
này từ ĐN
1 2 3 4
I. Thuế GTGT được khấu trừ
1. Số thuế GTGT còn được khấu trừ, 10 *
20
còn được hoàn lại ĐK
2.Số thuế GTGT được khấu trừ phát sinh
3.Số thuế GTGT đã được khấu trừ,
được hoàn lại
Trong đó: a. Số thuế GTGT đã khấu trừ
b.Số thuế GTGT đã hoàn lại
c.Số thuế GTGT không được khấu
trừ
d.Số thuế GTGT còn được khấu
trừ, còn được hoàn lại CK (16 = 10+11-12)
II. Thuế GTGT được hoàn lại
1. Số thuế GTGT còn được hoàn lại ĐK
2. Số thuế GTGT được hoàn lại
3. Số thuế GTGT đã hoàn lại
4. Số thuế GTGT còn được hoàn lại CK
(23 = 20+21-22)
III. Số thuế GTGT được miễn giảm
1. Số thuế GTGT còn được miễn giảm ĐK
2. Số thuế GTGT được miễn giảm
3. Số thuế GTGT đã được miễm giảm
4. Số thuế GTGT theo phương pháp còn
+Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh kỳ báo cáo (Mẫu B02 – DN )
+Thuyết minh Báo cáo tài chính kỳ trước, năm trước (Mẫu B04 DN )
Khi lập báo cáo thuyết minh cần lưu ý:
.Phần trình bày bằng lời văn phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu. Phần trình
bày bằng số liệu phải thống nhất với các số liệu trên các báo cáo khác
.Đối với báo cáo quý, các chỉ tiêu thuộc phần chế độ kế toán áp dụng tại
doanh nghiệp phải thống nhất trong cả niên độ kế toán. Nếu có sự thay đổi phải
trình bày rõ ràng lý do thay đổi
.Trong các bảng số liệu, các cột kế toán thể hiện số liệu kế hoạch của kỳ
báo cáo, cột số liệu thực hiện kỳ trước thể hiện số liệu của kỳ ngay trước kỳ báo
cáo
.Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp chỉ
sử dụng trong thuyết minh báo cáo năm.
Về hình thức, Thuyết minh báo cáo được quy định như sau:
Đơn vị: Mẫu số B04 - DN
THUYẾT MINH BÁO CÁO TÀI CHÍNH
Quý năm
1. Đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp
1.1.Hình thức sở hữu vốn
1.2.Hình thức hoạt động
1.3.Lĩnh vực kinh doanh
1.4. Tổng số CB CNV
Trong đó: Nhân viên quản lý
1.5.Những ảnh hưởng quan trọng tới tình hình kinh doanh trong năm
báo cáo
2. Chế độ kế toán áo dụng tại doanh nghiệp
2.1.Niên độ kế toán (bắt đầu kết thúc )
2.2.Đơn vị tiền tệ sử dụng trong ghi chép kế toán và nguyên tắc,
phương pháp chuyển đổi các đồng tiền khác
2.3.Hình thức sổ kế toán áp dụng
.
T
ổng
cộng
I. Nguyên giá TSCĐ
1. Số dư đầu kỳ
23
2. Số tăng trong kỳ
Trong đó: -Mua sắm mới
-Xây dựng mới
3. Số giảm trong kỳ
Trong đó: -Thanh lý
-Nhượng bán
4. Số cuối kỳ
Trong đó: -Chưa sử dụng
-Đã khấu hao hết
-Chờ thanh lý
II. Giá trị hao mòn
1. Đầu kỳ
2.Tăng trong kỳ
3. Giảm trong kỳ
4. Số cuối kỳ
III. Giá trị còn lại
1. Đầu kỳ
2. Cuối kỳ
Lý do tăng, giảm
3.3.Tình hình thu nhập của CNV:
CHỈ TIÊU
Kế
3. Vốn liên doanh
4.Vốn cổ phần
II. Các quỹ
1. Quỹ đầu tư phát triển
2. Quỹ dự trữ
3. Quỹ khen thưởng
4. Quỹ phúc lợi
III. Nguồn vốn đầu tư XDCB
1. Ngân sách cấp
2. Nguồn khác
Tổng cộng
Lý do tăng giảm
3.5.Tình hình tăng, giảm các khoản đầu tư vào đơn vị khác:
CHỈ TIÊU
Số
đầu
kỳ
Tăng
trong
kỳ
Giảm
trong
kỳ
Số
cuối
kỳ
Kết
quả
đầu tư
I. Đầu tư ngắn hạn