Luận văn tốt nghiệp
Một số giải pháp nhằm hoàn thiện bộ máy quản lý
của Công ty Điện lực Hà Nội
3.1. Quan điểm, phơng hớng và căn cứ hoàn thiện bộ máy quản
lý.
3.1.1. Các quan điểm hoàn thiện.
Vấn đề tổ chức bộ máy quản lý là một vấn đề phức tạp và có liên quan chặt chẽ đến hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đặt vấn đề hoàn thiện bộ máy quản lý có nghĩa là
đề cập đến vấn đề hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cũng nh cơ cấu tổ chức của
bộ máy đó. Do vậy, nó có liên quan chặt chẽ tới con ngời, cụ thể ở đây là những cán bộ hoặc
gọi là các nhà quản trị chủ thể điều hành và quản lý hoạt động của các doanh nghiệp. Đây
cũng là vấn đề vừa nóng bỏng, vừa cấp bách trong thực tiễn quản lý và điều hành đất nớc theo
tinh thần Nghị quyết của Đảng. Trên tinh thần đó, việc hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý các
doanh nghiệp nhất thiết phải quán triệt đợc các quan điểm sau:
3.1.1.1. Quan điểm gọn nhẹ và hiệu quả cao.
Quá trình chuyển hẳn sang nền kinh tế thị trờng của nền kinh tế quốc dân nói
chung và của ngành công nghiệp nói riêng đã và đang đặt ra nhiều vấn đề phải
tiếp tục đổi mới, hoàn thiện. Do vậy, hoàn thiện bộ máy quản lý các doanh nghiệp
phải đợc thực hiện theo hớng xây dựng đợc bộ máy gọn nhẹ, tập trung đầu mối
những có hiệu lực quản lý và hiệu quả cao.
Quan điểm gọn nhẹ, có nghĩa là bộ máy quản lý doanh nghiệp phải giảm bớt
đầu mối, tập trung sự chỉ đạo và điều hành, không chồng chéo, và cũng không bỏ
sót chức năng, nhiệm vụ nào.
Quan điểm hiệu quả cao đồng thời khẳng định việc hoàn thiện bộ máy quản
lý của doanh nghiệp, sẽ bảo đảm sự vận hành của bộ máy dần đạt tới mức tối u,
làm cho quyết định quản lý có hiệu lực và khả thi. Cơ chế thị trờng ngày càng đòi
hỏi doanh nghiệp phải có tính độc lập và tự chủ cao, không thể có một sự can
thiệp nào bên ngoài vào hoạt động bình thờng của doanh nghiệp, ngoại trừ việc
tạo lập môi trờng kinh tế vĩ mô và một hành lang pháp lý lành mạnh, công bằng.
1
1
2
2
Luận văn tốt nghiệp
- Cơ chế chủ quản tạo ra các khoảng trống trong quản lý. Bất kỳ một đơn
vị quản lý nào trong xã hội, bên cạnh việc tuân thủ thể chế chung còn phải chịu sự
quản lý theo ngành hoặc theo lãnh thổ theo cơ chế chủ quản. Chính sự thiết kế
cơ chế quản lý này theo nội dung chủ quản đã tạo ra những khoảng trống (kẽ
hở) mà pháp luật không với tới đợc. Đó là những kẽ hở nằm giữa những phạm vi
hoạt động và quyền lực của các cơ quan chủ quản khác nhau. Đó chính là những
khoảng trống vô chính phủ là môi trờng thuận lợi cho các hoạt động phi pháp
nh tham nhũng, lãng phí, Do đó hạn chế quyền lực và hiệu quả của bộ máy
quản lý Nhà nớc.
- Cơ chế chủ quản làm thoái hoá bộ máy quản lý Nhà nớc và hạn chế sự
năng động của các doanh nghiệp.
Chính vì vậy, đã làm cho các cán bộ với t cách là cơ quan chủ quản, vừa
không thực hiện tốt đợc nhiệm vụ chính trị cơ bản của nó, vừa không hoàn thành
đợc nhiệm vụ quản lý kinh doanh theo chức năng.
3.1.1.3. Quan điểm xây dựng đội ngũ các nhà quản trị có đủ trình độ,
năng lực và phẩm chất để thực thi nhiệm vụ quản lý điều hành các doanh
nghiệp Nhà nớc.
Việc hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý suy cho cùng chỉ có thể mang lại
hiệu quả thực sự khi có một đội ngũ quản lý có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất
để thực thi các nhiệm vụ đặt ra trong quá trình điều hành doanh nghiệp. Khi
chuyển sang nền kinh tế thị trờng, đây là một trong những vấn đề còn nhiều bất
cập. Do vậy phải từng bớc làm trong sạch và nâng cao chất lợng cán bộ quản lý
doanh nghiệp, gắn liền với công tác đào tạo, bồi dỡng kiến thức, nâng cao phẩm
chất chính trị cho các nhà quản trị doanh nghiệp.
3.1.2. Căn cứ hoàn thiện.
Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý các doanh nghiệp nhà nớc hiện nay là một
vấn đề lớn và cấp bách, đồng thời cũng nằm trong quá trình cải cách một bớc nền hành
EVN sẽ từng bớc đổi mới cơ cấu tổ chức và quản lý, chuyển đổi tính chất sở
hữu, cải cách cơ chế hạch toán để tạo t cách pháp nhân đầy đủ và tính chủ động
cho các đơn vị thành viên.
4
4
Luận văn tốt nghiệp
Trong giai đoạn 2003-2005, EVN đề nghị với Chính phủ cho phép hạch toán
riêng phần công ích và đề nghị Nhà nớc có cơ chế xử lý tài chính cho phần phục
vụ công ích. Việc này đợc coi la bớc đột phá để tạo điều kiện cho EVN chủ động
kinh doanh và tự cân đối tài chính. Sản phẩm công ích của EVN gồm: điện năng
bán buôn cho sinh hoạt nông thôn, điện năng sinh hoạt cho 100kwh đầu tiên trong
bậc thang giá điện sinh hoạt, điện năng cung cấp cho bơm tới tiêu, điện năng cung
cấp bằng các cụm diesel cho các huyện đảo.
Về tiến trình sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nớc, EVN dự định:
-
Đối với khối các nhà máy điện:
EVN dự kiến sẽ tiến hành cổ phần hoá Nhà máy điện Vĩnh Sơn Sông
Hinh, Nhà máy điện Bà Rịa; chuyển các Nhà máy điện Ninh Bình, Nhà máy điện
Uông Bí, Nhà máy điện Thủ Đức và Nhà máy điện Cần Thơ thành các công ty
TNHH 1 thành viên theo mô hình Chủ tịch kiêm Giám đốc công ty. Sau khi thực
hiện bớc này, EVN sẽ xem xét và trình Chính phủ tiếp tục cho phép chuyển đổi
sang hình thức công ty TNHH 1 thành viên và cổ phần hoá một số Nhà máy điện
khác. Trớc khi hình thành thị trờng điện cạnh tranh, các CTCP, công ty TNHH 1
thành viên phát điện bán điện cho EVN theo giá thoả thuận giữa 2 bên, trên cơ sở
bảo đảm bù đắp đợc các chi phí và có lãi.
-
Đối với các công ty truyền tải điện:
Các công ty truyền tải điện sẽ thực hiện giao khoán chi phí, nâng cao hiệu quả
sản xuất và chuẩn bị điều kiện hợp nhất thành công ty truyền tải điện quốc gia.
-
Với cấu trúc công ty mẹ nh trên, Tập đoàn điện lực sẽ vừa là tập đoàn đầu t
tài chính, vừa trực tiếp thực hiện chức năng kinh doanh.
Các công ty con sẽ đợc tổ chức theo các hình thức: công ty trách nhiệm hữu
hạn 1 thành viên, công ty con hoạt động theo Luật DNNN, công ty TNHH 2 thành
viên trở lên, công ty cổ phần do EVN nắm giữ cổ phần chi phối, công ty liên
doanh.
Trong khâu phát điện, các công ty con thuộc Tập đoàn bao gồm: công ty
TNHH 1 thành viên đợc hình thành do chuyển đổi các Nhà máy điện hiện có của
EVN; các công ty cổ phần do EVN chiếm cổ phần đa số - là các công ty đợc hình
thành từ cổ phần hoá các Nhà máy điện hiện có của EVN, và các công ty do EVN
6
6
Luận văn tốt nghiệp
tham gia làm cổ đông sáng lập (công ty cổ phần nhiệt điện Hải Phòng, Quảng
Ninh, các công ty cổ phần thủy điện Sê-San 4, Serepok 3, Kanak An Khê).
Các công ty Điện lực, điện lực tỉnh và các công ty t vấn sẽ đợc lựa chọn và tổ
chức theo 2 hình thức chính: công ty TNHH 1 thành viên và công ty cổ phần.
Ngoài ra, Tập đoàn điện lực Việt Nam còn có Công ty cổ phần xây lắp điện,
Ngân hàng cổ phần điện lực, Công ty cổ phần bảo hiểm và một số công ty con
hoạt động trong các lĩnh vực khác.
Cũng trong đề án này, công ty điện lực Hà nội dự kiến đợc tổ chức theo hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên.
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện bộ máy quản lý của Công
ty Điện lực Hà Nội.
3.2.1.
Về phía Nhà nớc và Tổng công ty.
* Nhà nớc cần nhanh chóng tạo khuôn khổ pháp lý, các điều kiện làm cơ
sở trớc khi Việt nam mở cửa hội nhập hẳn với khu vực và thế giới.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu những định hớng về cơ chế
chính sách và các giải pháp chủ yếu thực hiện nhiệm vụ kế hoạch 5 năm (2001-
cụ thể là cha có một đạo luật để đảm bảo cho hoạt động đầu t vào điện lực. Cũng
nh vậy, đối với một số nhà máy đã cổ phẩn hoá (ví dụ nh Khánh Hoà ), cũng có
ít ngời dám mua cổ phiếu của công ty. Không phải chỉ riêng trong ngành điện mà
tình hình này mang tính phổ biến đối với nền kinh tế nớc ta hiện nay. Công ty sau
khi đã tiến hành cổ phần không khác mấy so với trớc khi cổ phần, thành phần lãnh
đạo vẫn giống nh trớc đây, hầu hết Giám đốc cũ chuyển sang làm Chủ tịch Hội
đồng quản trị, rất ít các công ty thuê Giám đốc ngoài mà cũng là những nhà quản
lý cũ chuyển sang. Điều này làm cho công ty mới không có gì mới, vẫn bộ máy
đIều hành cũ, vẫn con ngời cũ. Đối với mô hình công ty mẹ con cũng vây. Đến
nay, các công ty này đã ra đời (đã có 35 DNNN chuyển sang hoạt động theo mô
hình công ty mẹ công ty con), nhng khuôn khổ pháp lý cho mô hình này hoạt
động lại cha có. Những hình thức chuyển đổi này mới chỉ mang tính chất hành
chính, mang tính chất áp dụng thí đIểm và chỉ có giá trị trong nội bộ các doanh
nghiệp Nhà nớc với nhau (chỉ nói đến phạm vi các DNNN).
8
8
Luận văn tốt nghiệp
Vậy, để công cuộc cải cách các DNNN thực sự có hiệu quả, cũng nh để
chuẩn bị tốt cho quá trình hội nhập của nớc ta với khu vực và thế giới, Nhà nớc cần
nhanh chóng tạo khuôn khổ pháp lý, hành lang pháp lý, các điều kiện làm cơ sở để
hoạt động kinh tế của nền kinh tế thực sự mang tính hiệu quả.
* Cần có kế hoạch lâu dài cho ngành điện, và từ đó có kế hoạch cho các
Công ty điện lực. Nhất quán trong việc quản lý và điều hành. Không nên để tình
trạng có quá nhiều văn bản, chính sách thay đổi làm cho công ty khó thay đổi
kịp.
* Cần phân cấp mạnh hơn giữa Tổng công ty và công ty.
Sự phân cấp của Tổng công ty cho các công ty Điện lực nh hiện nay vẫn
còn mang tính bao cấp, mang dáng dấp của cơ chế xin cho, không phát
huy tính tự chủ cho doanh nghiệp. Bất kể một lĩnh vực nào (kế hoạch, đầu t , tiền
lơng, .) công ty vẫn phải trình duyệt lên Tổng công ty. Điều này làm cho công
chéo, bộ máy quản lý phải đợc tinh giản, gọn nhẹ đến mức tối đa có thể. Công ty
Điện lực Hà nội cha thực sự có một mô hình tổ chức hoàn hảo, nhất là sự phân
công thành các phòng ban chức năng còn rải rác (16 phòng ban), cần phân chia lại
một số bộ phận nh sau:
- Ghép phòng vật t vào phòng Kế hoạch : Hay nói cách khác, giao thêm cho
phòng Kế hoạch công việc nữa là công tác vật t, bao gồm:
Lập kế hoạch mua sắm vật t, thiết bị phục vụ sản xuất kinh doanh và
đầu t xây dựng.
Tổ chức mua sắm vật t, trang thiết bị.
Quản lý, bảo quan kho tàng, tiếp nhận, cấp phát vật t và cập nhật sổ
sách chứng từ, kiểm kê đối chiếu theo quy định về quản lý vật t.
Tổ chức kinh doanh vật t, thiết bị điện, phụ kiện điện, đồ dùng dân
dụng.
Giúp Hội đồng thanh lý xử lý tài sản để xử lý thiết bị vật t tài sản tồn
động kém phẩm chất.
Sơ đồ chức năng mới của phòng Kế hoạch đợc thể hiện qua biểu 8.
Biểu 9: Sơ đồ chức năng mới của phòng Kế hoạch
Giám đốc
Trởng phòng Kế hoạch
KH tổng hợp
10
10
Luận văn tốt nghiệp
Điều độ vận hành lới điện
Công tác vật t
để làm đợc những công việc trên thì công ty không cần thiết phải có riêng 1 phòng,
công ty nên bố trí về 2 phòng: phòng Kế hoạch (bộ phận vật t) và phòng Quản lý
đấu thầu, mỗi phòng có 1 2 ngời phụ trách mảng này. Nh vậy sẽ giảm đợc số l-
ợng cán bộ chức danh.
-
Ghép phòng bảo vệ quân sự vào Văn phòng Công ty.
Tuy công tác bảo vệ là quan trong trong công ty ĐIện lực Hà nội, xong công
ty cũng không nên tách nhiệm vụ bảo vệ an ninh thành riêng 1 phòng, công ty nên
để công tác bảo vệ quân sự là một bộ phận do văn phòng công ty quản lý, nh vậy
thì sẽ hiệu quả hơn.
-
Bỏ phòng Thi đua tuyên truyền, nội dung của nó sẽ đ ợc phân chia cho phòng
Tổ chức lao động và Văn phòng công ty.
Có thể tóm tắt chức năng nhiệm vụ chủ yếu của phòng thi đua tuyên truyền
đợc thể hiện qua 2 mảng chính, là:
Tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thởng để phát động phong
trào trong toàn công ty.
Tổ chức thực hiện công tác tuyên truyền, là đầu mối giữa công ty và
cơ quan báo chí phát thanh truyền hình và các phóng viên.
Với hai nhiệm vụ này, công ty cũng không nên bố trí riêng 1 phòng để phụ
trách, bởi trên thực tế, phòng không làm việc hết năng suất, rất lãng phí cán bộ.
Công ty nên tách nhiệm vụ thứ nhất về phòng Tổ chức lao động và tách nhiệm
vụ thứ hai về Văn phòng công ty. Nh vậy, lúc này, nhiệm vụ chính của phòng tổ
chức lao động và của văn phòng công ty sẽ có thêm 1 mảng chính và đợc thể hiện
qua hai biểu sau:
Biểu 10: Sơ đồ chức năng mới của phòng Tổ chức lao động
Giám đốc
12
quan hệ và trách nhiệm của mỗi cơng vị, mối tơng quan của nó đối với toàn bộ cơ
cấu tổ chức, chúng giúp xác định đợc những nguồn tin cần đến để đạt đợc sự tán
thành, cung cấp cho những ngời sẽ giữ chức vụ có kiến thức về trách nhiệm,
quyền hạn, mối quan hệ và chức năng, đồng thời, chúng cũng có ích trong việc
lựa chọn ứng cử viên cho những chức vụ đó.
Các sơ đồ tổ chức của bộ phận sẽ cho thấy vị trí của từng nhân viên, trách
nhiệm, mối liên lạc và cấp báo cáo của họ. Sơ đồ này tạo cơ sở để phân loại năng
lực từng cá nhân, có thể xem xét xem học có theo kịp nhu cầu của công việc đến
mức nào. Khi các bộ phận đã có sơ đồ, tổ chức thì phụ trách bộ phận phải là ngời
có trách nhiệm giảng giải cho cấp dới vị trí của họ trong sơ đồ.
Ngoài cơ cấu lại tổ chức, phân công chức năng nhiệm vụ cho các bộ phân và
hớng dẫn mọi ngời hiểu đợc vị trí của mình trong sơ đồ tổ chức thì việc cụ thể hoá
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của từng bộ phận, từng chức danh
trong sơ đồ tổ chức là hết sức cần thiết. Thực hiện tốt việc này thì mỗi nhân viên
14
14