Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Lời nói đầu.
Trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế Nhà nuớc ta luôn có những
chính sách nhằm phát huy hết hết khả năng của các cá nhân trong nền kinh tế
cũng nh việc thu hút các nguồn lực từ nớc ngoài. Việc xây dựng một chế độ tiền
lơng mới phù hợp với điều kiện kinh tế trong giai đoạn mới sẽ là động lực to lớn
thúc đẩy quá trình phát triển diễn ra nhanh chóng hơn. Tiền lơng thoả đáng sẽ
động lực giúp ngời lao động có trạng thái lao động tích cực hơn trong công việc
từ đó thúc đẩy năng suất lao động của các doanh nghiệp lên cao hơn, mang nhiều
ý nghĩa cho cả nền kinh tế nói chung.
Tuy nhiên đi cùng với những mặt tích cực của sự mở cửa trong phát triển
kinh tế thì những hạn chế của cơ chế thị trờng sẽ tạo nên những khó khăn nhất
định nh : Sự phân hoá giàu nghèo, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên, các tệ nạn xã hội
khác tăng lên Việc xây dựng chế độ tiền l ơng hợp lý sẽ bảo đảm cuộc sống cho
ngời lao động đồng thời có thể tránh đợc những khuyết tật của nền kinh tế thị tr-
ờng.
Chính vì thế em chọn đề tài nghiên cứu là Tiền lơng tối thiểu và xác
định tiền lơng tối thiểu tai Hà nội.
Em chân thành cám ơn sự giúp đỡ của thầy giáo Phạm Quí Thọ và các
cô, chú làm việc tai Viện Khoa học lao động đã giúp đỡ em hoàn thành đề tài
này.
Ngời thực hiện đề tài.
Sinh viên
Đoàn Mạnh Dũng
Đoàn Mạnh Dũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chơng1
cơ sở lý luận về tiền lơng tối thiểu
Tiền lơng luôn là vấn đề quan trọng và có ý nghĩa trong các mối quan hệ lao
động. Việc xác định đợc mức lơng thoả đáng cho ngời lao động không những
khuyến khích họ lao động đồng thời còn giải quyết những mô thuẫn trong mối
quá trình sản xuất. Trong nền kinh tế thị trờng tiền lơng là biểu hiện bằng tiền
của giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động biểu hiện bên ngoài nh là giá cả
của sức lao động và đợc qui định trên thị trờng. Tiền lơng chịu sự chi phối của cả
quy luật giá trị và các qui luật kinh tế khác hoạt động trong nền kinh tế thị trờng.
Nh thế khi cung lớn hơn cầu lao động thì tiền lơng sẽ giảm xuống ngợc lại nếu
cung nhỏ hơn cầu về lao động thì tiền lơng sẽ tăng lên.
W W
Trục giá trị
e
e1
W
0 Lao động 0 t
Mặt khác, theo Các Mác giá trị sức lao động bằng giá trị t liệu sinh hoạt
cần thiết để bù đắp lai sức lao động đã hao phí trong quá trình sản xuất, những
giá trị của những chi phí nuôi dỡng con truớc và sau khi đến tuổi lao động, những
giá trị của những chi phí trong việc học của ngời lao động. Vì thế khi những giá
cá sinh hoạt thay đổi thì tiền lơng đối với ngời lao động cũng phải thay đổi theo.
Nh vậy giá tiền công thờng xuyên biến động xoay quanh trục giá trị, nó phụ
thuộc vào quan hệ cung cầu và giá cả sinh hoạt.
Đứng trên giác độ kinh tế thì tiền lơng là giá cả sức lao động đợc hình thành
trên thị trờng sức lao động do 2 bên thoả thuận mà ngời sử dụng lao động trả cho
ngời lao động để họ hoàn thành một công việc hoặc khối lợng công việc đợc
Đoàn Mạnh Dũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
giao. Tuy nhiên trong nền kinh tế nhiều thành phần nh nớc ta hiện nay, phạm trù
tiền lơng đợc thể hiện cụ thể trong từng thành phần và khu vực kinh tế.
Trong thành phần kinh tế Nhà nớc và khu vực hành chính sự nghiệp, tiền lơng
là số tiền mà các doanh nghiệp quốc doanh, các cơ quan, tổ chức của Nhà nớc trả
cho ngời lao động theo cơ chế và chính sách của Nhà nớc đợc qui định cụ thể
kinh tế.
2. Những lý luận chung về tiền lơng tối thiểu.
Trong lĩnh vực trả công trả lơng cho ngời lao động, mức long nào đánh giá
giá trị sức lao động đơn giản nhất, thấp nhất để họ có mức sống tối thiểu. Đó
chính là vấn đề tiền lơng tối thiểu, ngời ta quan tâm đến vấn đề lơng tối thiểu bởi
nó ảnh hơng trực tiếp đến cả hai phía trong môí quan hệ lao động. Tiìen lơng tối
thiểu có thể thoả mãn những nhu cầu cá nhân và xã hội của con ngời ở mức thấp
nhất có thể. Tiền lơng tối thiểu không tuân theo những thơng lợng giữa 2 bên mà
tuân theo những đạo luật do Nhà nớc qui định. Sự tồn tại tiền lơng tối thiểu đem
lại tâm lý mới cho ngời làm công giúp họ an tâm trong vấn đề tiền lơng.
Theo tổ chức lao động quốc tế ILO thì : Tiền lơng tối thiểu là mức trả công
lao động thấp nhất trả cho ngời lao động làm các công việc đơn giản nhất để bảo
đảm cho họ một cuộc sống tối thiểu với t cách là ngời chủ gia đình, phù hợp với
điều kiện kinh tế xã hội. Với khái niệm này tất cả các quốc gia tham gia vào tổ
chức ILO đều phải tuân thủ. Năm 1951 ILO thông qua công ớc 99 có ghi rõ :
Mọi thành viên của ILO ấn định mức lơng tối thiểu cho ngời lao động làm việc
tại các doanh nghiệp nông nghiệp và các công việc có liên quan.
Nớc ta gia nhập ILO năm 1983, đến năm 1985 trong nghị định của Hội
đồng bộ trởng về cải tiến chế độ tiền lơng của cán bộ công nhân viên chức và các
lực lợng vũ trang tại điều 2 ghi rõ : Mức lơng tối thiểu là 220 đồng/ tháng.
Trong cải tiền lơng tháng 45/1993 vấn đề tiền lơng đã đợc đề cập, và đợc cụ thể
hoá trong văn bản pháp luật của Nhà nớc. Trong điều 198 của Bộ Luật Lao động
1-1994, tại điều 56 đã qui định khái niệm tiền lơng tối thiểu nh sau : Mức tiền
Đoàn Mạnh Dũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
lơng tối thiểu đợc ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho ngời lam công việc
giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thờng bù đắp sức lao động giản đơn
và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động giản đơn và một phần tái sản xuất
sức lao động mở rộng và đợc dùng làm căn cứ để tính các mức lơng cho các loại
lao động khác. Tuy nhiên trong mỗi công việc thì việc xác định tích chất giản
định tiền lơng tối thiểu hạn chế sự hoạt động của những đơn vị này.
Việc qui định tiền lơng tối thiểu tạo nên sự công bằng cho ngời lao động làm
việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. Việc qui định này không chỉ
khuyến khích ngời lao động mà còn ohù hợp với công việc mà họ làm trong các
công ty liên doanh. Vì cùng khối lợng công việc đó thì tại nớc ngoài tiền lơng cao
hơn.
Việc qui định tiền lơng tối thiểu khuyến khích các nhà đầu t nớc ngoài tham
gia đầu t vào thị trờng Việt Nam. Trong những năm qua Nhà nớc ta luôn có
những chính sách kinh tế nhằm thu hút vốn đầu t và cải cách tiền lơng là một
trong những chính sách đó. Sự cải cách về tiền lơng tạo động lực về lợi nhuận cho
các nhà đầu t khi sử dụng đợc nguồn nhân công với giá rẻ có chất lợng tơng đối
cao trong khu vực Đông Nam á.Hiện nay tiền lơng tối thiểu đợc áp dụng là 35
USD/tháng. Đây là số tiền lơng khi đem tiêu dùng trong nên kinh tế Việt Nam
nhng nó sẽ không giúp ngời lao động có cuộc sống tối thiểu tại thị trờng khác.Vì
thế giá nhân công rẻ là u thế lớn của nớc ta trong việc thu hút vốn đầu t nớc
ngoài.
Việc qui định tiền lơng tối thiểu khuyến khích khả năng mua bán hàng hoá
của ngời lao động. Thực tế hiện nay trong, số lợng ngời hoạt động các cơ quan
hành chính sự nghiệp là rất lớn vì thế quỹ tiền lơng hành chính sự nghiệp là rất
lớn.Trong xu thế hiện nay, càng ngày tiền lơng tối thiểu đợc nâng cao trong khi
giá cả tơng đốỉ ổn định thì tạo động lực cho các doanh nghiệp từ đó thúc đẩy nền
Đoàn Mạnh Dũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
kinh tế phát triển. Tại hội nghị quốc tế ILO năm 1992 tại Thái Lan đã khẳng định
vai trò của tiền lơng tối thiểu trong việc thúc đẩy nền kinh tế :
- Bảo vệ sức mua cho các mức tiền lơng trớc sự gia tăng của lạm phát và
giảm phát và các yếu tố kinh tế khác bởi mức sống đợc bảo đảm bằng tiền lơng
thực tế. Vì thế tiền lơng tối thiểu phải dựa vào điều kiện kinh tế xã hội để biến
đổi cho phù hợp với mức sống tối thiểu thực tế của ngời lao động.
- Loại bỏ sự cạnh tranh không công bằng, vì tiền lơng là một yếu tố cấu
động nếu không có luật thì ngời sử dụng lao động có thể lợi dụng nhằm trả công
theo ý muốn. Điều này rất dễ xảy ra trong thời điểm hiện nay khi dòng ngời di
dân từ nông thôn ra thành thị ngày càng lớn họ chấp nhận làm những công việc
với những đồng lơng thấp hơn. Dẫn tới tình trạng đời sống củ những ngời lao
động thành thị nói riêng và ngời lao động nói chung không bảo đảm. Hiện nay
cùng với sự phát triển chung thì xu hớng hợp tác quốc tế ngày càng phát triển. Vì
vậy chúng ta có lợi thế sức lao động, nhân công dồi dào chúng ta có nhng chơng
trình nhằm đa lao động sang các nớc khác. Chúng ta xây dựng mức tiền lơng tối
thiểu nhằm bảo vệ quyền lợi cho ngời lao động ngoài lãnh thổ Việt Nam. Tránh
bị đối xử không công bằng và bị trả công không xứng đáng với công việc mà họ
làm.
Chính sách tiền lơng tối thiểu nhằm đảm bảo cho ngời lao động tái sản
xuất sức lao động, điều tiết cung cầu lao động. Chỉ khi đó ngời lao động mới có
đủ khả năng cống hiến và lao động trong tơng lai. Đồng thời tránh tình trạng bị
thất nghiệp do tác động bởi thị trờng lao động.
Chính sách tiền lơng tối thiểu có vai trò quan trọng đối với nhà nớc trong
giai đoạn nền kinh tế bị đình đốn, trì trệ. Tiền lơng tối thiểu sẽ bảo đảm cho ngời
lao động một cuộc sống tối thiểu.
Tiền lơng tối thiểu nói chung đợc coi nh là nhân tố cơ bản của toàn bộ hệ thống
tiền lơng, là yếu tố bảo đảm cho ngời lao động có thể sống và tồn tại ở mức tối
thiểu. Đó là mức tiền lơng thấp nhất đợc chấp nhập của cả hai bên trong mối
Đoàn Mạnh Dũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
quan hệ lao động. Nh vậy mục tiêu cuối cùng của tiền lơng tối thiểu là bảo vệ ng-
ời lao động có thể sông ở mức thấp nhất có thể.
Nhng việc xác định tiêng lơng tối thiểu là rất khó do trong nền kinh tế thị
trờng, mọi hoạt động đều do thị trờng quyết định, Nhà nớc chỉ có thể điều tiết ở
tầm vĩ mô. Trong khi đó nhu cầu của con ngời luôn có xu thế tăng cao vì thế khi
yếu tố tiền lơng tối thiêủ thay đổi thì những yếu tố khác cũng phải thay đổi theo.
II. Những nhân tố tác động đến tiền lơng tối thiểu.
tăng lên thì họ lai tiếp tục tham gia thị trờng lao động. Thông thờng những lao
động loại này là những lao động có chuyên môn và đã qua đào tạo.
W
SS
E
Eo DD
0
Lao động(Q)
Nh vậy, chỉ khi nào tiền lơng đợc đẩy lên khỏi mức Eo đồng thời thoả mãn
những nhu cầu tiền lơng thì họ tiếp tục tham gia vào thị trờng lao động.
2. Sự phụ thuộc của tiền lơng tối thiểu vào các ngành nghề:
Đoàn Mạnh Dũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Trong từng nghề, mức lơng tối thiểu đồng nghĩa với mức lơng bậc 1 và
ythờng bị chi phối bởi các yếu tố đặc trng cho nghề nh vị trí xã hội, điều kiện lao
động và mức năng suất lao động đạt đợc.
Trong từng ngành, mức tiền lơng tối thiểu theo ngành nhằm bảo đảm khả
năng tái sản xuất sức lao động giản đơn cho lao động và gia đình họ với yếu cầu
mức độ phức tạp và trình độ tay nghề thấp nhất trong một ngành mà các yếu tố
này cha thể hiện ở mức tiền lơng tối thiểu chung. Giữa các ngành có những mức
tiền lơng tối thiểu khác nhau. So sánh giữa tiền lơng tối thiểu giữa các ngành ta sẽ
có mức tiền lơng thấp nhất, mức này sẽ tiến tới mức tiền lơng tối thiểu chung của
toàn xã hội.
Thực tế tại nớc ta, mức lơng tối thiểu ngành trùng với mức lơng bậc 1 của
ngành, nghề bởi về mặt lý luận ta cha chọn đối tợng nghiên cứu để xác định mức
lơng tối thiểu ngành. Chính vì thế mức lơng tối thiểu chung là rất quan trọng và
quyết định đến độ lớn của mức lơng bậc 1.
Nh vậy, mức lơng tối thiểu trong từng ngành nghề không thể thấp hơn mức
lơng tối thiểu chung. Hay : Tli = TLm( 1 + Ki )
Trong đó Ki là các yếu tố chi phối độ lớn tiền lơng tối thiểu.
kinh tế ngoài quốc doanh, do hoạt động kinh doanh chịu sự chi phối của các quy
luật thị trơng nên yếu tó năng suất lao động đợc đánh giá rất cao. Thông thờng
năng suất lao động của khu vực ngoài quốc doanh cao gấp 4 lần khu vực kinh tế
Nhà nớc.
Ngoài ra, còn có sự khác biệt giữa các mức tiền lơng tối thiểu của các tổ
chức kinh tế trong nớc và trong các công ty đầu t nớc ngoài sử dụng lao động
Việt Nam. Do việc đầu t các trang thiết bị, các chính sách đầu t phát triển với các
tổ chức kinh tế đối với nguồn vốn đầu t nớc ngoài thì yêu cầu về mức tiền lơng
tối thiểu ở mỗi khu vực là khác nhau cho dù ngời lao động có thực hiện các công
việc có nội dung nh nhau. Điều này sẽ khuyến khích ngời lao động tham gia tích
cực trong hoạt động lao động. Tuy nhiên khi xây dựng mức tiền lơng trong nhng
Đoàn Mạnh Dũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
khu vực này cũng phải tính đến những quyền lợi của các bên tham gia. Nó không
chỉ giúp cho mối quan hệ kinh tế phát triển mà con là yếu tố khuyến khích các
nhà đầu t khác tham gia vào thị trờng kinh tế Việt Nam.
Trong thời đại kinh tế hiện nay hàng loạt các công ty t nhân phát triển mạnh
mẽ đã đem lại nhiều lợi ích cho xã hội đồng thời giải quyết một khối lợng lớn
công ăn việc làm cho ngời lao động. Hầu hết nhng công ty t nhân ngày nay đều
trả lơng theo thoả thuận giữa ngời sử dụng và ngời lao động, không có nhng số
liệu chính xác của bất kỳ công ty nào, hay hình thức trả lơng cụ thể nào. Tuy
nhiên số lơng tiền lơng này đợc trả dựa trên năng suất lao động và hiệu quả làm
việc của ngời lao động cũng nh loại hinh công việc họ phải thực hiện. Việc qui
định chung về mức tiền lơng tối thiểu cho khu vực này là rất khó khăn.
4. Mức tiền lơng tối thiểu phụ thuộc vào yếu tố lãnh thổ, sự chênh lệch
giá cả của từng vùng lãnh thổ.
Tiền lơng tối thiểu và mức sống tối thiểu và giá cả có mối quan hệ nhất
định. Tiền lơng tối thiêu đợc hiểu nh là giá trị của tổng khối lợng vật phẩm tiêu
dùng và t liệu sinh hoạt đủ để ngời lao động đáp ứng nhu cầu vật chát và tinh
thần trong hoàn cảnh thấp nhất có thể. Mức sống chi phối tiền lơng ở khía cạnh là
phải có chi phí đầu t cho việc nuôi dỡng con cái cao hơn nhng gia đình khác.
Nh thế, khi tính toán tiền lơng tối thiểu cần phải tính đến các yếu tố: hệ
thống nhu cầu cá nhân và gia đình họ, chi phí và sự biến động giá trong từng
vùng, năng suất lao động Vì những yếu tố này tác động trực tiếp đến tiền l ơng
tối thiểu thực tế, tiền lơng tối thiểu danh nghĩa, sự điều tiết tiền lơng tối thiểu của
Nhà nớc.
Đoàn Mạnh Dũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Chơng 2
Thực trạng tiền lơng tối thiểu tại Việt Nam.
I. Quá trình hình thành và phát triển của tiền lơng tối thiểu ở
nớc ta.
Quá trình hình thành và phát triển hệ thống tiền lơng tối thiểu của nớc ta
có thể chia thành các giai đoạn chủ yếu sau :
1. Giai đoạn trớc năm 1993.
1.1 Trong giai đoạn 1946 1959 .
Trong giai đoạn này nhà nớc và nhân dân ta đang trai qua cuộc kháng
chiến chống Pháp, thực tế nền kinh tế trong nớc còn rất yếu kém, cuộc sống của
ngời dân nói chung là rất khổ cực. Vì thế trong giai đoạn này Nhà nớc ta tập
trung chủ yếu giải quyết vấn đề mức sống tối thiểu cho nhng ngời nghèo chiếm
đa số trong xã hội lúc đó. Năm 1946, Nhà nớc đã định ra chế độ mức lơng tối
thiểu là 180 đồng/tháng, tuy nhiên do những biến động giá cả nên năm 1947 đã
có những chính sách phụ cấp đắt đỏ để giúp đỡ cuộc sống khó khăn cho ngời lao
động. Những chính sách phụ cấp này không mang ý nghĩa tăng tiền lơng tối thiểu
nhng về bản chất thì tiền lơng tối thiểu đã đợc tăng lên. Có thể nói nh vậy vì thực
tế, trong giai đoạn này hầu hết ngời lao động đều làm trong khu vực nhà nớc họ
đợc trả lơng theo qui định và đợc hỗ trợ bởi các chính sách đó. Năm 1948 do giá
cả tiếp tục tăbg vì thế tiền lơng tối thiể đã đợc tăng lên 220 đồng/ tháng. Đồng
thời còn có chế độ phụ cấp cho gia đình nh sau : cho vợ 50đông/tháng, con 1 là
30 đồng, con 2 là 40, con thứ 3 là 50, con thứ 4 là 60 đồng. Nếu trong 1 gia đinh
của ngời dân đã đợc cải thiện nhiều do sự hớng dẫn và giúp đỡ từ các nớc xã hội
chủ nghĩa nh Liên xô và các nớc Đông âu.
Trong giai đoạn này Nhà nớc ta áp dụng các chính sách tiền lơng của các
nớc Xã hội chủ nghĩa đi trơc, do các chuyên gia Liên xô hớng dẫn. Nhà nớc ta đã
có những chính sách cải cách tiền lơng năm 1960 theo hơng xã hội chủ nghĩa tập
Đoàn Mạnh Dũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
trung có tính đến nhu cầu tối thiểu trong đó tập trung chính cho nhu cầu ăn và
mặc. Tiền lơng tối thiểu trong giai đoạn này là 27 đông/ tháng trong dó nhu cầu
ăn là 17,93 đồng chiếm đến 66% trong khi đó nhu cầu mặc chiếm 5,733 đồng.
Trong thời kỳ này thì vấn đề nhà ở đang đợc nhà ncs bao cấp ở mức tối thiểu. Và
các hoạt động chữa bệnh của các công nhân viên chức không phải trả tiền viện
phí, trẻ em đến trơng không mất tiền. Đồng thời, những gia đình có con thứ 3 đợc
hởng trợ cấp 5 đông/ tháng tơng đơn với 12,5 kg gạo. Mức lơng tối thiểu đó bảo
đảm cho gia đình họ một cuộc sống tối thiểu từ khi thiết kế. Nhng mấy năm sau,
khi giá cả hàng hoá luôn biến động với tốc độ cao thì Nhà nớc đã phải bổ sung
bằng chế độ phụ cấp hiện vật. Chế độ tem phiếu ngày càng đợc mở rộng nhằm
bảo đảm cho ngời lao động một mức sống tối thiểu. Tuy nhiên chế độ này tỏ ra
không thành công, mức cung cấp của Nhà nớc giảm dần. Trong khi đó sức mua
của thị trơng ngày càng tăng cao trong khi sức mua của đồng tiền giảm sút nhanh
chóng đòi hỏi phải có những thay đổi tích cực và kịp thời trong cải cách chế độ
tiền lơng.
1.3. Giai đoạn 1985 1992.
Năm 1985, Hội nghị Trung ơng Đảng cộng sản lần thứ 8 khóa 5 đã ra nghị
quyết sửa đổi chế độ tiền lơng, trong đó mức lơng tối thiểu phải đảm bảo 70%
tiêu dùng cho các chi phí ăn, còn lại tiêu dùng cho các chi phí khác. Việc cải tiến
tiền lơng lần này đi đôi với cải tiến giá cả, trong cuộc sống hàng ngày Nhà nớc
chỉ còn chỉ định giá gạo, ngoài ra còn cung cấp một số hiện vật ngoài lơng nh :
nhà ở, điện nớc, học hành. Theo những qui định thì tiền lơng đợc xem xét lại sau
3 tháng và có sự giúp đỡ của nhà nớc thông qua phụ cấp đắt đỏ. Mức lơng tuyệt
triển hơn các vùng khác. Vì thế tiền lơng tối thiểu ở các vùng này cần có sự khác
biệt để thể hiện sự khác biệt đó. Tuy nhiên hiện nay chúng ta chỉ xây dựng một
Đoàn Mạnh Dũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
mức tiền lơng tối thiểu chung nhất cho tất cả các vùng trên phạm vi cả nớc. Điều
này hạn chế sự phát triển của các vùng phát triển trong lĩnh vực thuê nhân công ở
những vùng kém phát triển hơn để đáp ứng đợc nhu cầu phát triển do cùng phải
trả một mức lơng nh nhau.
Thứ 3: Mâu thuẫn do tính bao cấp còn quá nặng nề không phù hợp với thị
trơng lao động tự do. Điều này xảy ra với những lao động làm việc trong khu vực
quôc doanh nói chung và đặc biệt trong khu vực hành chính sự nghiệp. Do những
chính sách u đãi của Nhà nớc trong lĩnh vực cung cấp các điều kiện về nhà ở,
điện, học hành Chính những chính sách cung cấp hiện vật này làm cản trở sự
lu thông sức lao động trái với các qui luật của thị trờng. Mặt khác còn tạo nên
tâm lý không tích cực của ngời lao động trong công việc, hạn chế sự năng động
do t tởng phụ thuộc. Ngời lao động chỉ có thể phát huy hết khả năng của mình
khi họ có những động lực lao động rõ ràng. Trong trờng hợp đợc bao cấp động
lực bị triệt tiêu gây ảnh hởng xấu đến năng suất lao động.
Thứ 4: Mâu thuẫn giữa tiền lơng mang tính cứu tế với những lao động có
năng suất và hiệu quả lao động cao. Những ngời lao động luôn mong muốn mình
có thể đạt đợc tiền lơng tơng xứng với sức lao động mà họ bỏ ra. Vì thế, với đồng
lơng thấp không đủ cho họ và gia đình có cuộc sống ổn định. Những ngời lao
động có trình độ và đã qua đào tạo luôn đòi hỏi một mức tiền lơng tơng xứng với
công việc của họ. Họ không thể chấp nhận mức tiền lơng nh vậy. Trong khi giá
cả hàng hóa luôn có những biến động, ngời lao động chỉ quan tâm đến sức mua
thực tế của tiền lơng, với mức tiền lơng đó họ có thể mua đợc các vật phẩm tiêu
dùng và hàng hoá phục vụ cho cuộc sống gia đình họ.
2. Giai đoạn sau năm 1993.
Tháng 4/ 1993 nhà nớc ta tiến hành cải cách tiền lơng, lần đầu tiên vấn đề
tiền lơng tối thiểu chung đợc qui định ở mức 120.000đồng/ tháng và đợc qui định
Đoàn Mạnh Dũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Tạo cơ sơ để tăng khả năng hoà nhập của lao động Việt Nam vào thị tr-
ờng lao động của khu vực và quốc tế. Đồng thơì đây cũng là yếu tố nhằm thu hút
các nguồn vốn đầu t nớc ngoài và thực hiện một bớc tự do hoá thị trơng lao động.
2.2 Sự biến động của tiền lơng tối thiểu trong giai đoạn này.
Chính sách cải cách tiền lơng năm 1993 một mặt nhằm nâng cao đời sống
cho ngời lao động, nhng một mặt khác cũng nhằm để thúc đẩy nền kinh tế nớc ta
phát triển. Khi thu nhập của ngời dân tăng cao thì khả năng tiêu dùng của họ đợc
tăng lên. Điều này rất có ích cho việc phát triển nền kinh tế trong nớc. Tuy nhiên
trong giai đoạn kế tiếp nền kinh tế thế giới liên tiếp rơi vào 2 cuộc khủng hoảng
tài chính. Những tác động trực tiếp hay gián tiếp đều ảnh hởng đến nên kinh tế n-
ớc ta nói chung và thu nhập của ngời lao động nớc ta. Để đảm bảo cuộc sống cho
ngời dân, từ thàn 1 / 1997 tiền lơng tối thiểu đợc qui định ở mức 180.000/ tháng.
Tuy nhiên do khủng hoang kinh tế có ảnh hơng đến các nớc khác trong khu vực
dẫn tới tình trạng đầu t nớc ngoài vào nớc ta giảm sút gây nên sự giảm sút trong
tăng trởng kinh tế.
Cùng với sự suy giảm trong tăng trởng thì tình trạng lạm phát cũng tăng
cao. Điều đó thể hiện thông qua bảng sau :
Năm 1996 1997 1998
Tăng trởng 9,3 8,8 5,8
Lạm phát 4,5 3,7 9,3
Nhịp điệu tăng trởng kinh tế giảm dần trong khi đó lạm phát tăng nhanh
chóng điều này ảnh hởng nghiêm trọng đến vấn đề nguồn vốn đầu t trong nớc,
thể hiện thông qua các yếu tố nh :
Tích luỹ của nền kinh tế còn hạn hẹp, tỷ lệ tiết kiệm gần nh không tăng.
Trong khi đó để có đợc nguồn vốn đầu t trong khi nguồn vốn đầu t nớc ngoài
không còn nhiều thì việc thực hiện tiết kiệm trong nớc có ý nghĩa vô cùng to lớn.
Đây là nguồn nội lực giúp cho nền kinh tế nớc ta thoát khỏi cuộc khủng hoảng
kinh tế này.
Đoàn Mạnh Dũng
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Bơc2 : Xác định nhng nhu cầu xã hội cho ngời lao động. Đó chính là nhu
cầu học hành, giao tiếp, văn hóa nghệ thuật cho bản thân ngời lao động và gia
đình.
Bớc 3 : Xác định mức tối thiểu để bảo đảm duy trì sức lao động cho ngời
lao động nh là một bộ phận của sức lao động xã hội. Điều này giúp cho ngời lao
động có thể bảo đảm cuộc sống cho họ ở hiện tại và ngay cả khi họ nghỉ hu.
Bớc 4 : Xác định mức tiền lơng tối thiểu trêm cơ sở mức sống tối thiểu đạt
đợc.
Việc xác định tất cả các yếu tố trên đều dựa trên cở sở tất cả các yếu tố này
để đảm bảo cho họ cuộc sống tối thiểu.
3.2Xác định tiền lơng tối thiểu trên khả năng dự tính thu nhập quốc dân đạt đ-
ợc.
Phơng pháp này dựa trên việc tính toán các số liệu thu thập đợc về các yếu
tố nh :
1- Quỹ tiêu dùng cá nhân : a
2- Số ngời đang làm việc : b
3- Tỷ lệ dân số : - thành thị : c
- nông thôn : d
4- Lao động thành thị : e
5- Lao động nông thôn : f
6- Các hệ số mức sống thành thị so với nông thôn : k
7- Các hệ số để tính lơng tối thiểu so với mức tiêu dùng bình quân : h. Sự
biểu hiện của các hệ số biểu hiện sự khác biệt giữa các nhóm và dùng để so sánh
tiền lơng tối thiểu với mức tiêu dùng bình quân.
Sau khi có những số liệu kể trên thì công việc tiếp theo của phơng pháp này
đợc tiếp tục qua các bớc sau :
Bớc 1 : Tính lao động thành thị quy đổi ra lao động nông thôn : e*k.
Bớc 2 : Tổng lao động quy đổi : e*k + f.