nâng cao chất lượng cho vay hộ nông dân tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện chí linh - tỉnh hải dương - Pdf 13

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau khi nước ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới -WTO, từng bước hòa
nhập vào nền kinh tế sôi động của thế giới thì thị trường tài chính nói chung và các
ngân hàng nói riêng có những cơ hội thuận lợi cũng như phải đối mặt với những
khó khăn, thách thức lớn, cơ hội được tiếp xúc với khoa học, công nghệ tiên tiến,
hiện đại và thị trường rộng lớn, đa dạng; đồng thời theo nó cũng là thách thức của
sự cạnh tranh quyết liệt, đòi hỏi các ngân hàng phải vươn lên, tự khẳng định mình
với vị thế sân nhà và lớn hơn nữa là với thị trường quốc tế. Tất cả những doanh
nghiệp, dù là trong lĩnh vực nào nếu không đáp ứng được những đòi hỏi trên thì
việc sẽ khó khăn trong hoạt động kinh doanh là khó tránh khỏi. Các ngân hàng
nước ta hầu hết đều khá lạc hậu so với các nước tiên tiến trên thế giới, lạc hậu về
công nghệ, về trình độ, vì vậy mà việc cạnh tranh cũng không phải là dễ dàng.
NHNo Chí Linh đã và đang phải cạnh tranh với các ngân hàng khác nhau
trên địa bàn, có cả chi nhánh ngân hàng trong nước và cả chi nhánh của ngân hàng
nước ngoài, vì vậy việc phải từng bước hoàn thiện công tác tổ chức cũng như
nghiệp vụ phục vụ khách hàng để phát huy và tăng cường lợi thế của chi nhánh là
một việc hết sức quan trọng và cần thiết. Ở một địa bàn có hơn 95% số vốn xin vay
là để sản xuất kinh doanh của kinh tế hộ thì chứng tỏ kinh tế hộ nông dân là một
mảng hết sức quan trọng với ngân hàng, việc phục vụ phát triển kinh tế nông
nghiệp chiếm vị trí quan trọng hàng đầu, vì vậy việc nâng cao chất lượng cho vay
hộ nông dân là một trong những vấn đề được đặc biệt chú ý.
Trên địa bàn huyện Chí Linh có 9 Quỹ Tín dụng nhân dân, 5 Ngân hàng
Thương mại Quốc doanh (Ngân hàng Đầu tư & Phát triển - BIDV, Ngân hàng Nhà
Đồng bằng sông Cửu Long, Ngân hàng công thương - Incombank, Ngân hàng
Ngoại thương - Vietcombank và Ngân hàng No&PTNT Chí Linh), 2 chi nhánh
Ngân hàng Cổ phần (Sacombank, Ocean Bank), cần phải lưu ý rằng một số ngân
1
hàng đã lắp đặt máy rút tiền tự động – ATM để phục vụ khách hàng của mình trong
khi NHNo Chí Linh lại chưa trang bị phương tiện này, ngoài ra còn có Ngân hàng
chính sách xã hội. Đây thực sự là khó khăn lớn đối với NHNo Chí Linh nên đòi hỏi

hạn đã thỏa thuận.
Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại là tài trợ cho khách hàng dựa
trên cơ sở tín nhiệm gọi là hoạt động tín dụng.
Hoạt động tín dụng của ngân hàng được phân chia thành nhiều loại khác
nhau, theo những cách khác nhau tùy theo nhu cầu của khách hàng hay mục tiêu
quản lý của ngân hàng. Có những cách phân loại thường dùng như sau:
1.1.1. Phân loại theo thời gian (thời hạn tín dụng)
Phân chia theo thời gian là cách ngân hàng hay sử dụng, nó liên quan trực
tiếp đến hoạt động của ngân hàng, tính sinh lời hay rủi ro, khả năng hoàn trả của
khách hàng cũng như khả năng thanh khoản của ngân hàng. Vì vậy mà phân chia
theo thời hạn tín dụng cần phải tuân thủ quy tắc rất nghiêm túc và chặt chẽ. Theo
thời gian, tín dụng được phân chia thành tín dụng ngắn, trung và dài hạn như sau:
• Tín dụng ngắn hạn: các khoản tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống
• Tín dụng trung hạn: các khoản tín dụng có thời hạn từ trên 1 năm đến 5
năm
• Tín dụng dài hạn: các khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm
Các khoản tín dụng có thời hạn khác nhau sẽ được áp dụng các mức lãi suất
khác nhau, theo nguyên tắc thời gian càng dài thì rủi ro càng cao nên lãi suất vì thế
3
cũng tăng theo, áp dụng đối với cả hoạt động huy động vốn cũng như hoạt động
cho vay. Thông thường, ngân hàng sử dụng một nguồn nào đó để cho vay các
khoản có thời hạn tín dụng tương ứng với nó, ví dụ nguồn trung và dài hạn thường
cấp cho các khoản vay trung, dài hạn, trong trường hợp thiếu hụt nguồn tương ứng,
ngân hàng sẽ chuyển một phần từ nguồn khác sang nhưng với một tỷ lệ quy định
cho phép để đảm bảo khả năng thanh khoản cho ngân hàng.
1.1.2. Phân loại theo tài sản bảo đảm
Theo tài sản bảo đảm, tín dụng được phân chia thành tín dụng có bảo đảm
bằng tài sản và tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản.
Tài sản bảo đảm là một hình thức đảm bảo cho ngân hàng có thể thu được
nợ, theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng vay được cam kết bảo đảm bằng tài sản

12 năm 2007, trong đó tại điều 2 có giao quyền lựa chon, quyết định việc cho vay
có bảo đảm hay không có bảo đảm bằng tài sản cho Giám đốc chi nhánh. Nói
chung khách hàng muốn vay vốn không cần bảo đảm bằng tài sản thì phải đáp ứng
đủ các điều kiện sau đây:
• Sử dụng vốn vay có hiệu quả và trả nợ gốc, lãi vốn vay đúng hạn trong quan
hệ vay vốn với tổ chức tín dụng cho vay hoặc các tổ chức tín dụng khác.
• Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, có hiệu
quả, hoặc có dự án đầu tư phương án phục vụ đời sống khả thi, phù hợp với quy
định của pháp luật.
• Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
• Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của tổ chức
tín dụng nếu sử dụng vốn vay không đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng, cam
kết trả nợ trước hạn nếu không thực hiện được các biện pháp đảm bảo bằng tài sản
quy định tại điểm này.
5
Như vậy, ta có thể nhận thấy rằng những khách hàng được vay theo hình
thức không có tài sản bảo đảm phải tuân thủ những quy định rất chặt chẽ và cụ thể,
vì hình thức này tiềm ẩn rủi ro rất cao. Đối với những khoản cho vay theo chỉ thị
của chính phủ thì không cần có tài sản bảo đảm, hay những khoản vay với các tổ
chức tài chính, các công ty lớn uy tín cao cũng vậy. Nói chung phần lớn những
khách hàng này là những khách hàng có uy tín cao với ngân hàng nên nếu số khách
hàng vay với hình thức này càng nhiều thì càng chứng tỏ hoạt động hiệu quả của
ngân hàng, trong thẩm định cũng như trong quan hệ với khách hàng.
1.1.3. Phân loại theo rủi ro
Các ngân hàng phân chia các mức độ rủi ro khác nhau từ thấp đến cao và căn
cứ vào đó để phân loại tín dụng. Cách phân loại này tuy khó khăn cho ngân hàng
trong công tác thực hiện, vì phải phân loại lại sau mỗi kỳ kinh doanh, theo đó mà
tính điều chỉnh lãi suất, nhưng cũng lại rất dễ dàng cho ngân hàng trong việc đánh
giá tính an toàn của các khoản cho vay, từ đó mà có phương án và thực hiện việc
trích lập dự phòng cũng như xử lý các khoản tín dụng rủi ro một cách kịp thời.

• Phương thức cho vay (từng lần, hạn mức, thấu chi…)
• Theo số lượng các bên tham gia (trực tiếp, gián tiếp, đồng tài trợ…)
• Theo mục đích sử dụng (tiêu dùng, kinh doanh, tài trợ dự án,…).
Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng của ngân hàng, càng phân chia
thành nhiều nhóm nhỏ thì càng chứng tỏ đối tượng của ngân hàng là đa dạng, hay
cũng có những ngân hàng chỉ chú tâm vào một đối tượng khách hàng, ví dụ như
khách hàng nhỏ (ngân hàng bán lẻ), …trường hợp này thì lại chứng tỏ được tính
chuyên môn hóa cao của ngân hàng.
1.2. Vai trò của hoạt động cho vay của NHTM
Cho vay là một hoạt động có vai trò vô cùng quan trọng đối với cả ngân
hàng và với nền kinh tế nói chung.
1.2.1. Đối với Ngân hàng
Cho vay là hoạt động đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng thương mại.
Để đảm bảo NHTM có thể duy trì và phát triển bền vững thì đòi hỏi hoạt động cho
vay của ngân hàng phải an toàn và hiệu quả.
Thông qua cho vay, ngân hàng có thể mở rộng các mối quan hệ và vị thế của
mình để có thể thu hút nhiều khách hàng hơn, nhằm thu được nhiều lợi nhuận hơn.
Một khách hàng được ngân hàng phục vụ, vị khách đó hài lòng, giới thiệu cho bạn
bè, người thân, thì chắc chắn ngân hàng sẽ có lợi thế hơn so với các ngân hàng
khác.
7
1.2.2. Đối với nền kinh tế
Hoạt động cho vay của ngân hàng giúp điều tiết vốn trong nền kinh tế, luân
chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ những người có vốn đến những
người có nhu cầu sử dụng vốn để phục vụ sản xuất kinh doanh và đời sống. Vì vậy
mà cho vay là hoạt động có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế.
NHTM giữ vai trò thu hút vốn từ nguồn nhàn rỗi và dùng nó để tài trợ cho
các hoạt động khác. Nhờ đó mà những người có vốn nhàn rỗi vừa được an toàn cho
tiền của mình lại vừa có thêm một khoản lợi nhuận từ phần lãi thu được. Hoạt động
này làm nền tảng cho hoạt động cho vay, những người có nhu cầu sử dụng thì có

trái với pháp luật.
2. Khách hàng phải đảm bảo hoàn trả cả gốc và lãi đúng hạn. Bởi ngân
hàng cũng là người đi vay của dân cư hay một chủ thể nào khác và phải hoàn trả
cho họ khi đến hạn. Khi ngân hàng cho vay, họ phải tính toán xem sử dụng nguồn
nào là hợp lý để có thể thu được hiệu quả tốt nhất, thường là kỳ hạn của món vay
giống với kỳ hạn của nguồn thì sẽ là tốt nhất. Vì vậy mà khi món vay đến hạn, nếu
khách hàng không trả được nợ hoặc trả không đủ thì chắc rằng hoạt động của ngân
hàng sẽ ít nhiều bị ảnh hưởng, nếu số lượng các món vay như vậy là nhiều và lượng
vốn lại lớn thì chắc chắn ngân hàng sẽ gặp rắc rối.
1.3.2. Điều kiện vay vốn
Điều kiện vay vốn là những quy định cụ thể của ngân hàng đối với khách
hàng có nhu cầu vay vốn và ngân hàng chỉ cho vay đối với những khách hàng đáp
ứng được các điều kiện này. Thông thường, điều kiện vay vốn bao gồm:
1. Địa vị pháp lý của khách hàng: Khách hàng vay vốn phải có năng lực
pháp luật, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của
pháp luật.
9
Khách hàng của ngân hàng là đa dạng và có địa vị pháp lý khác nhau nên
tùy từng khách hàng cụ thể mà ngân hàng lại có những quy định riêng phù hợp với
quy định chung của pháp luật.
2. Có khả năng tài chính và đảm bảo trả nợ đúng hạn (cả gốc và lãi) theo
hợp đồng tín dụng đã ký kết với ngân hàng.
3. Mục đích sử dụng vốn vay là hợp pháp: Khách hàng không được vay
vốn ngân hàng để sử dụng cho các mục đích mà pháp luật cấm như: mua sắm tài
sản mà pháp luật cấm chuyển nhượng, tiến hành các giao dịch bị pháp luật cấm.
4. Có tài liệu đủ để chứng minh khả năng sử dụng vốn vay phù hợp với
quy định của pháp luật (phương án kinh doanh, …) và khả năng hoàn trả vốn vay
cho ngân hàng.
Trên cơ sở các điều kiện chung trên, căn cứ vào tính chất, quy mô, đối tượng
vay vốn mà ngân hàng sẽ quy định cụ thể điều kiện vay vốn đối với từng đối tượng.

1.3.5. Hợp đồng
Hợp đồng tín dụng là văn bản pháp lý thể hiện mối quan hệ tín dụng giữa
ngân hàng và người vay, là cơ sở để ngân hàng thực hiện việc cho vay, quản lý các
khoản vay, thu hồi nợ và xử lý các tranh chấp nếu xảy ra. Vì vậy mà hợp đồng phải
quy định cụ thể, rõ ràng các nội dung chính như sau:
1. Điều kiện vay
2. Mục đích sử dụng tiền vay
3. Hình thức vay
4. Số tiền vay
5. Lãi suất
6. Thời hạn vay
7. Hình thức bảo đảm
8. Giá trị tài sản bảo đảm
9. Phương thức trả nợ
11
Và các cam kết khác được các bên thoả thuận.
Nội dung của hợp đồng phải logic, thống nhất, phản ánh đầy đủ điều khoản
và điều kiện tín dụng, quyền và nghĩa vụ giữa các bên, cam kết giữa các bên và
phải tuân thủ tuyệt đối các quy định pháp lý đã được quy định.
Hợp đồng chỉ có hiệu lực thi hành khi được ngân hàng va khách hàng ký tên
chấp thuận.
1.3.6. Xét duyệt cho vay, kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn vay
Đây là khâu quan trọng để đảm bảo hiệu quả của hoạt động cho vay, để thực
hiện tốt giai đoạn này có nhiều cách thức khác nhau nhưng nhìn chung các ngân
hàng hay sử dụng các biện pháp cơ bản như sau:
• Thực hiện kiểm soát và xem xét định kỳ tất cả các loại hình cho vay.
• Kiểm soát thường xuyên các khoản cho vay lớn.
• Tổ chức quá trình kiểm soát để đảm bảo xem xét và đánh giá được tất cả
những đặc tính quan trọng nhất của mỗi khoản cho vay.
• Theo dõi thường xuyên các khoản vay có vấn đề

Thì việc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản được giới hạn như sau:
• Tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn
tự có của ngân hàng.
• Đối với hộ nông dân trang trại và hợp tác xã: Hộ nông dân được vay
vốn đến 10 triệu đồng, với những hộ là chủ trang trại có dự án khả thi hoặc đã được
ký hợp đồng tiêu thụ sản phẩm sản xuất ra thì được vay đến 30 triệu đồng mà
không phải áp dụng các biện pháp bảo đảm bằng tài sản.
Hợp tác xã làm dịch vụ cung ứng vật tư, cây, con giống có dự án đầu tư,
phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hợp đồng tiêu thụ sản phẩm, NHNo xem
xét cho vay đến 100 triệu đồng không phải bảo đảm bằng tài sản.
HTX sản xuất hàng xuất khẩu, làm nghề truyền thống có dự án đầu tư,
phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hợp đồng xuất khẩu hoặc đơn đặt hàng
13
khả thi thì NHNo xem xét cho vay đến 500 triệu đồng không phải thế chấp bàng tài
sản.
2.2.2. Chỉ tiêu doanh số cho vay
Doanh số cho vay là tổng lượng tiền cho vay trong kỳ, doanh số này càng
lớn tức là vòng quay của vốn tín dụng càng lớn, có nhiều người tham gia sản xuất
trong xã hội, nhờ đó mà số người có việc làm trong xã hội cũng tăng lên, việc sản
xuất diễn ra thuận lợi đảm bảo khả năng trả nợ của khách hàng.
2.2.3. Chỉ tiêu tổng dư nợ cho vay
Dư nợ cho vay bao gồm cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, Tổng dư nợ
thấp cho thấy quy mô tín dụng của ngân hàng là nhỏ, càng chứng tỏ rằng ngân hàng
không có khả năng mở rộng hoạt động cho vay của mình, có thể là khả năng tiếp
thị kém, trình độ của nhân viên còn chưa tốt, … Tuy nhiên, chỉ tiêu này cao cũng
chưa hẳn là tốt đối với ngân hàng, chưa hoàn toàn phản ánh được chất lượng tín
dụng của ngân hàng là có tốt hay không, nếu trong đó còn có nhiều nợ xấu, vì vậy
mà ta phải sử dụng chỉ tiêu nợ xấu để phản ánh rõ hơn chất lượng tín dụng.
2.2.4. Chỉ tiêu nợ xấu
Dư nợ xấu là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số nợ xấu mà khách hàng chưa

và kiểm tra, tổ chức lại.
2.2.7. Chỉ tiêu tỷ lệ thu lãi
Tổng số lãi thu được
Tỷ lệ thu lãi = x 100
Tổng số lãi phải thu
Tỷ lệ này càng cao thì càng phản ánh rằng hoạt động kinh doanh của ngân
hàng là tương đối tốt và chất lượng tín dụng cao, bởi việc cho khách hàng vay để
sản xuất mà họ hoạt động có hiệu quả thì mới trả được lãi ngân hàng đúng thời hạn
đã thoả thuận.
2.2.8. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng
15
Doanh số thu nợ trong kỳ
Vòng quay vốn tín dụng =
Dư nợ bình quân trong kỳ
Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng trong điều kiên ngân hàng hoạt
động bình thường, không có những biến đổi lớn, chỉ tiêu này chứng tỏ rằng ngân
hàng đã thu nợ được bao nhiêu so với số vốn cho vay ra, tỷ lệ này cao thì chứng tỏ
ngân hàng có khả năng tiếp tục cho vay được nhiều hơn nữa., đồng thời cũng phản
ánh mức độ rủi ro về lãi suất của ngân hàng là thấp. Tuy nhiên, chỉ tiêu này cao thì
cũng có khả năng là hoạt động cho vay của ngân hàng đã bị thu nhỏ quy mô. Vì
vậy đòi hỏi ngân hàng phải có sự xem xét và kiểm tra hoạt động cho vay của mình.
2.2.9. Chỉ tiêu về quy trình cho vay, thời hạn cho vay
Quy trình cho vay bao gồm ở các giai đoạn trước, trong và sau khi cho vay,
quy trình cho vay được thực hiện đúng và nhanh chóng, thuận tiện cho khách hàng
thì chứng tỏ chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng là cao và ngược lại.
2.2.10. Chỉ tiêu về sự phát triển kinh tế của khách hàng
Ngân hàng cho vay khách hàng của mình, nếu người đó không có được sự
phát triển kinh tế, hoàn trả được nợ cho ngân hàng mà phải sử dụng đến tài sản đảm
bảo để trả nợ thì chất lượng hoạt động cho vay của ngân hàng vẫn chưa được cao.
Ngân hàng không phải chỉ cho vay xong là xong, mà còn phải giám sát việc

toàn ngân hàng. Việc kiểm tra giúp ngân hàng phát hiện được những sai sót của
cán bộ tín dụng cũng như của khách hàng để có các biện pháp xử lý thích hợp và
kịp thời, tránh được những rủi ro do phát hiện chậm mà đem lại hậu quả xấu cho
ngân hàng
• Hệ thống thông tin
Trong cho vay, việc thu thập thông tin về khách hàng là rất quan trọng,
nguồn thông tin lại rất phong phú, như: gặp phỏng vấn trực tiếp, qua hồ sơ cho vay,
17
qua các ngân hàng khác, qua các cơ quan quản lý địa phương, …Nếu ngân hàng có
được thông tin kịp thời, đầy đủ và chính xác về khách hàng thì việc phân tích đánh
giá họ sẽ có hiệu quả cao hơn, nhờ đó mà chất lượng hoạt động tín dụng cũng được
nâng cao.
• Trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của cán bộ tín dụng
Cán bộ tín dụng ở đây bao gồm cả cán bộ điều hành và cán bộ trực tiếp thực
hiện hoạt động cho vay. Năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức, mà ta gọi chung là
chất lượng, ngày càng được đòi hỏi cao hơn trong mọi lĩnh vực, nhất là trong lĩnh
vực ngân hàng, vì hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh loại hàng hoá đặc
biệt là tiền tệ có tính cạnh tranh cao và ngày càng quyết liệt.
Chất lượng cán bộ tín dụng đòi hỏi ngày càng cao hơn để theo kịp với tốc độ
thay đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh. Việc bồi dưỡng và nâng cao chất
lượng cho cán bộ tín dụng cũng như phải sử dụng những người có thực tài, xoá bỏ
cơ chế “xin, cho” sẽ giúp ngân hàng hạn chế được những rủi ro, hoạt động kinh
doanh có hiệu quả và phát triển không ngừng.
2.3.2. Các nhân tố khách quan
1. Nhân tố thuộc về chính sách
Ngân hàng là một bộ phận của nền kinh tế nên kinh tế tăng trưởng hay suy
thoái đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng.
Các nhân tố kinh tế khác như thị trường tiêu thụ hàng hoá, các yếu tố đầu
vào, giá cả sản phẩm, …tác động trực tiếp đến khách hàng của ngân hàng nên qua
đó cũng ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.

địa phương để tuyên truyền về hoạt động của ngân hàng cũng như giúp người dân
có nhận thức và hiểu biết tốt hơn trong việc thực hiện quan hệ tín dụng với ngân
hàng.
19
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CHO VAY HỘ NÔNG DÂN TẠI
CHI NHÁNH NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP CHÍ LINH
1. Giới thiệu về ngân hàng
NHNo_CL là một trong 14 chi nhánh loại 3 ( trước là chi nhánh cấp 2) của
NHNo&PTNT tỉnh Hải Dương. Với trụ sở tại trung tâm của huyện, thuận lợi cho
nhân dân đến giao dịch cũng như mạng lưới phòng giao dịch, đại lý tại các xã, ngân
hàng có lợi thế chiếm được thị phần khá lớn, nhưng vẫn còn những thách thức
trước mắt khi ngày càng có nhiều tổ chức tín dụng khác mở chi nhánh tại đây, đòi
hỏi ngân hàng phải có sự nỗ lực và cố gắng hơn nữa.
NHNo_CL trước đây là Ngân hàng Nhà nước huyện Chí Linh, theo QĐ số
59/QĐ/NHNN ngày 26/3/1988 đã chuyển hệ thống ngân hàng Việt Nam từ một cấp
thành hai cấp và thành lập các ngân hàng thương mại quốc doanh nên ngân hàng
mới mang tên là NHNo_CL từ đó, thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tiền tệ và các
dịch vụ khác trên địa bàn huyện Chí Linh.
Huyện Chí Linh là một huyện miền núi của tỉnh Hải Dương, có 20 xã và 2
thị trấn. Dân số là hơn 160 ngàn người, khoảng 42120 hộ (trong đó hộ nghèo là
4770, hộ kinh doanh là 8150 hộ).
• Diện tích sản xuất nông nghiệp: 13686 ha
• Diện tích lâm nghiệp: 7544 ha
• Diện tích nuôi cá : 545 ha
• Diện tích cây ăn quả : 6500 ha
Qua số liệu thống kê, ta có thể dễ dàng nhận thấy diện tích sản xuất nông
nghiệp chiếm tỷ lệ rất lớn, NHNo lại là ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp,
nông thôn nên việc cho vay sản xuất nông nghiệp được chú trọng một cách thoả
đáng.

NHNo_CL là ngân hàng hoạt động tại một huyện miền núi, đa số nhân dân
hoạt động sản xuất nông nghiệp nên trình độ dân trí còn chưa cao, việc tiếp cận với
những tiến bộ công nghệ mới vấp phải nhiều khó khăn, công nghệ sản xuất còn khá
lạc hậu, hoạt động nông nghiệp lại chịu nhiều chi phối của thời tiết nên việc kinh
doanh của ngân hàng cũng còn rất nhiều thách thức phải vượt qua.
Với những thuận lợi và khó khăn như vậy nên NHNo_CL vừa tiến hành kinh
doanh vừa phải tự hoàn thiện mình để nâng cao chất lượng nghiệp vụ chuyên môn,
giữ vững lượng khách hàng đã có và tăng sức cạnh tranh mở rộng thị phần, khẳng
định vị trí hàng đầu của các ngân hàng tại địa phương.
2. Thực trạng chất lượng cho vay hộ nông dân tại chi nhánh NHNo_CL
2.1. Vốn vay ngân hàng đối với sự phát triển sản xuất của hộ nông dân
2.1.1. Đặc điểm hộ nông dân tại địa phương
Xuất phát là một nước thuần nông, nông dân là lực lượng đông nhất và có
vai trò quan trọng nhất đối với đất nước ta, và Chí Linh cũng vậy, là một huyện
miền núi, những người làm nông nghiệp chiếm hơn 85% dân số. Trải qua quá trình
phát triển lâu dài, hiện nay cùng với sự phát triển của công nghệ hiện đại thì người
nông dân đang từng bước hoà mình vào sự phát triển chung của đất nước.
Chí Linh có diện tích tự nhiên 29 810 ha, diện tích gieo trồng cả năm 13 686
ha, tốc độ tăng trưởng mạnh cả về nông, lâm, thuỷ sản (trung bình là 5,1% năm),
diện tích cấy lúa là 9 278 ha, năng suất cả năm ước đạt 47 tạ/ha, sản lượng 44 240
tấn. Ngoài lúa, người nông dân còn gieo trồng thêm ngô, khoai, đậu, lạc và các loại
cây ăn quả, cây lâu năm năng suất của các loại cây này cũng khá cao do lựa chọn
được loại đất và hình thức trồng phù hợp.
Chăn nuôi cũng là hình thức phổ biến ở các hộ nông dân Chí Linh, ngoài
nuôi lợn, gà, … có hộ còn phát triển đàn trâu, bò, … vừa lấy sức kéo vừa tăng thêm
thu nhập cho gia đình, năm 2007, đàn trâu của huyện đã tăng thêm hơn 4000 con,
đàn bò là gần 9000 con. Do diện tích rừng, đồi còn nhiều nên việc chăn nuôi có
nhiều thuận lợi.
22
Nuôi cá cũng là hoạt động được các hộ nông dân phát triển mạnh trong

tượng nhàn rỗi, không có việc làm tại địa phương được chính quyền tổ chức dạy
nghề cho họ để họ có điều kiện làm việc cũng như có thể đi xuất khẩu lao động ở
nước ngoài.
Trình độ sản xuất của người nông dân đã được nâng cao nên việc làm kinh tế
đạt nhiều hiệu quả đáng mừng, ngày càng có nhiều “làng triệu phú” hay cánh đồng
“50 triệu/ha” xuất hiện.
Bản tính của người nông dân là thật thà, chất phác nên đa số họ khi đã vay
vốn ngân hàng đều rất có ý thức, cố gắng làm việc vừa để phát triển kinh tế của
mình, vừa lo trả nợ.
Tuy nhiên, trình độ của người nông dân còn có nhiều hạn chế nên đôi khi
việc giải thích cho họ hiểu về phương án, hình thức vay vốn còn khó khăn, đòi hỏi
nhiều thời gian và công sức của các cán bộ tín dụng.
Hoạt động kinh tế chủ yếu của người nông dân là sản xuất nông nghiệp mà
sản xuất nông nghiệp lại phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên nên nhìn chung
thì kết quả kinh tế của người nông dân vẫn không được chắc chắn và ổn định như
những ngành kinh tế khác.
2.1.2. Vai trò của vốn vay ngân hàng đối với sự phát triển sản xuất của hộ
nông dân
Người nông dân vay vốn ngân hàng chủ yếu là để chi phí về cây, con giống,
thức ăn cho vật nuôi, thuốc phòng, trị bệnh,… Ngoài ra có thể là chi phí để cải tạo
và chuyển đổi đất canh tác, xây dựng cơ sở vật chất để tiến hành nuôi trồng. Người
nông dân sản xuất nông nghiệp nên thường thì khi cần nguồn vốn lớn để cải tạo
hoặc đầu tư, chuyển đổi sản xuất thì họ không có, vì vậy mà họ phải đi vay. Trong
hoàn cảnh đó thì vốn vay ngân hàng là sự lựa chọn tốt nhất của họ. Với lãi suất hợp
lý, nhiều chế độ ưu tiên khác cho người nông dân thì vốn vay ngân hàng đã và đang
24
có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển nông nghiệp của nông thôn Việt Nam
nói chung cũng như của huyện Chí Linh nói riêng.
1. Vai trò điều tiết vốn
Ngân hàng No Chí Linh cũng như những ngân hàng thương mại khác, giữ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status