PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay chúng ta đang chứng kiến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước
nhà từ một nền kinh tế dựa vào nông nghiệp là chủ yếu sang một nền kinh tế
có tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ cao. Chính sự chuyển dịch này đã tạo cơ
hội và điều kiện thuận lợi cho nhiều ngành kinh tế phát triển. Song cũng làm
phát sinh nhiều vấn đề phức tạp đặt ra cho các doanh nghiệp những yêu cầu
và thách thức mới, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự vận động, vươn lên để
vượt qua những thử thách, tránh nguy cơ bị đào thải bởi quy luật cạnh tranh
khắc nghiệt của cơ chế thị trường.
Trong bối cảnh kinh tế như thế, các doanh nghiệp muốn đứng vững trên
thương trường cần phải nhanh chóng đổi mới, trong đó đổi mới về quản lý
tài chính là một trong các vấn đề được quan tâm hàng đầu và có ảnh hưởng
trực tiếp đến sự sống còn đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Bởi lẽ, để
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả thì nhà quản lý cần
phải nhanh chóng nắm bắt những tín hiệu của thị trường, xác định đúng nhu
cầu về vốn, tìm kiếm và huy động nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu kịp thời,
sử dụng vốn hợp lý, đạt hiệu quả cao nhất. Muốn vậy, các doanh nghiệp cần
nắm được những nhân tố ảnh hưởng, mức độ và xu hướng tác động của từng
nhân tố đến tình hình tài chính doanh nghiệp. Vì vậy các doanh nghiệp cần
thực hiện phân tích tài chính.
Việc thường xuyên phân tích tình hình tài chính sẽ giúp nhà quản lý
doanh nghiệp thấy rõ thực trạng hoạt động tài chính, từ đó có thể nhận ra
những mặt mạnh, mặt yếu của doanh nghiệp nhằm làm căn cứ để hoạch định
phương án hành động phù hợp cho tương lai và đồng thời đề xuất những giải
1
pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính giúp nâng cao
chất lượng doanh nghiệp.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên nên “Đề tài: Phân tích
tài chính và các giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính tại công ty TNHH
quảng cáo Sông Xanh” đã được chọn.
• Kết cấu của chuyên đề:
cao hiệu quả sử dụng vốn, giúp doanh nghiệp cũng cố tốt hơn hoạt động tài
chính của mình.
3
Phân tích tình hình tài chính là cụng cụ không thể thiếu phục vụ cho
công tác quản lý của ban quản lý doanh nghiệp, các cơ quan cấp trên, cơ
quan tài chính, ngân hàng như: đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, tình
hình thực hiện các chế độ, chính sách về tài chính của nhà nước, xem xét
việc cho vay vốn…
1.1.3 Mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính có thể được hiểu như quá trình kiểm tra, xem xét
các số liệu tài chính hiện hành và quá khứ, nhằm mục đích đánh giá, dự tính
các rủi ro tiềm ẩn trong tương lai phục vụ cho các quyết định tài chính của
doanh nghiệp. Mặt khác phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp là để
đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của nhiều đối tượng quan tâm đến những
khía cạnh khác nhau về tài chính của doanh nghiệp để phục vụ cho những
mục đích của mình.
Đối với nhà quản trị doanh nghiệp: Phân tích tình hình tài chính nhằm mục
tiêu:
Một là: đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
tiến hành cân đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả
nợ, rủi ro tài chính của doanh nghiệp… Từ đó xác định được điểm mạnh,
điểm yếu của doanh nghiệp.
Hai là: định hướng các quyết định của ban giám đốc như: quyết định đầu
tư, tài trợ, phân chia lợi tức, cổ phần,…
Ba là: cơ sở cho các dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư, ngân quỹ…
Bốn là: công cụ để kiểm soát các hoạt động quản lý.
Đối với đơn vị chủ sở hữu: Họ cũng quan tâm đến lợi nhuận và khả năng trả
nợ, sự an toàn của tiền vốn bỏ ra, thông qua phân tích tình hình tài chính
giúp họ đánh giá hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, khả năng điều
4
tiêu của dự đoán tài chính. Từ những thông tin nội bộ đến những thông tin
bên ngoài, thông tin số lượng đến thông tin giá trị đều giúp cho nhà phân
tích có thể đưa ra nhận xét, kết luận sát thực. Tuy nhiên, thông tin kế toán là
nguồn thông tin đặc biệt cần thiết. Nó được phản ánh đầy đủ trong các báo
cáo kế toán của doanh nghiệp. Phân tích tài chính được thực hiện trên cơ sở
các báo cáo tài chính được hình thành thông qua việc xử lý các báo cáo kế
toán.
Các báo cáo tài chính gồm có:
1.3.1. Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính mô tả tình trạng tài chính
của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đấy là một báo
cáo tài chính phản ánh tổng quát tình hình tài sản của doanh nghiệp tại một
thời điểm nhất định, dưới hình thái tiền tệ theo giá trị tài sản và nguồn hình
thành tài sản. Xét về bản chất, bảng cân đối kế toán là một bảng cân đối tổng
hợp giữa tài sản với vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả( nguồn vốn).
Để phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp, tài liệu chủ yếu là
bản cân đối kế toán.Thông qua nó cho phép ta nghiên cứu, đánh giá một
cách tổng quát tình hình tài chính và kết quả sản xuất kinh doanh, trình độ sử
dụng vốn và những triển vọng kinh tế, tài chính của doanh nghiệp.
Bảng cân đối kế toán có hai hình thức trình bày:
Hình thức cân đối hai bên: Bên trái là phần tài sản, bên phải là
phần nguồn vốn.
6
Hình thức cân đối hai phần liên tiếp: phần trên là phần tài sản,
phần dưới là phần nguồn vốn.
Mỗi phần đều có số tổng cộng và số tổng cộng của hai phần luôn
luôn bằng nhau.
Tài sản = Nguồn vốn
Hay Tài sản = Vốn chủ sở hữu+ Nợ phải trả
• Phần tài sản: Bao gồm có tài sản lưu động và tài sản cố định.
doanh. Khác với bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh
cho biết sự dịch chuyển của vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp; nó cho phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiẹp
trong tương lai. Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh đồng thời cũng giúp
cho nhà phân tích so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng
hoá, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận hành
doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, có thể xác định được kết quả sản xuất kinh
doanh : lãi hay lỗ trong năm. Như vậy, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh
kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của một
doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Nó cung cấp những thông tin tổng
hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật
và trình độ quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Biểu mẫu “Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh” có 3 phần:
8
Phần I: Lãi, lỗ.
Phần II: Tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước.
Phần III: Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ, được hoàn lại, được
miễn giảm.
Tác dụng của việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh:
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phản ánh các chỉ tiêu về doanh
thu, lợi nhuận và tình hình thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước của
doanh nghiệp. Do đó, phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh cũng
cho ta đánh giá khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp, biết được trong
kỳ doanh nghiệp kinh doanh có lãi hay bị lỗ, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu
và vốn là bao nhiêu. Từ đó tính được tốc độ tăng trưởng của kỳ này so với
kỳ trước và dự đoán tốc độ tăng trong tương lai.
Ngoài ra, qua việc phân tích tình hình thực hiện nghĩa vụ đối với nhà
nước, ta biết được doanh nghiệp có nộp thuế đủ và đúng thời hạn không.
Như vậy, việc phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh sẽ giúp ta
có những nhận định sâu sắc và đầy đủ hơn về tình hình tài chính của doanh
thống nhất trong cả niên độ kế toán đối với các báo cáo quý. Nếu có
sự thay đổi phải trình bày rõ ràng những lý do thay đổi.
10
• Trong các biểu số liệu, cột “số kế hoạch” thể hiện số liệu kế hoạch của
kỳ báo cáo, cột” số thực tế kỳ trước” thể hiện số liệu của kỳ ngay
trước kỳ báo cáo.
• Các chỉ tiêu đánh giá khái quát tình hình hoạt động của doanh nghiệp
chỉ sử dụng trong thuyết minh báo cáo tài chính năm.
+ Chỉ tiêu 3: “Chi tiết một số chỉ tiêu trong báo cáo tài chính” bao gồm:
3.1. Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố: phản ánh toàn bộ chi
phí sản xuất kinh doanh phát sinh trong kỳ của doanh nghiệp, được phân
chia theo các yếu tố chi phí như sau:
Chi phí nguyên vật liệu.
Chi phí nhân công.
Chi phí khấu hao tài sản cố định.
Chi phí dịch vụ mua ngoài.
Chi phí khác bằng tiền.
3.2. Tình hình tăng giảm tài sản cố định: phản ánh tổng số tăng
giảm của tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định thuê tài chính, tài sản cố
định vô hình theo từng nhóm tài sản trong kỳ báo cáo như nhà cửa, máy
móc, thiết bị cả về nguyên giá, giá trị hao mòn, giá trị còn lại và lý do tăng,
giảm chủ yếu.
3.3.Tình hình thu nhập của công nhân viên: phản ánh tổng số thu
nhập bình quân của công nhân viên từ tiền lương và các khoản tiền thưởng,
các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất lương và các khoản tiền thưởng
trước khi trừ các khoản giảm trừ trong kỳ báo cáo.
3.4.Tình hình tăng giảm vốn chủ sở hữu: phản ánh tổng số tăng
giảm các nguồn vốn chủ sở hữu trong kỳ báo cáo như nguồn vốn kinh
11
doanh, quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính theo từng loại nguồn
Phân tích chỉ tiêu “Chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố”
sẽ cho ta biết tình hình biến động của chi phí trong kỳ theo
từng yếu tố chi phí: nguyên vật liệu, nhân công, khấu hao.
Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình tăng giảm tài sản cố định” sẽ
cho ta biết được tình hình biến động của tài sản cố định trong
kỳ theo từng loại. Qua đó, đánh giá được tình hình đầu tư,
trang bị tài sản cố định của doanh nghiệp và xây dựng được
kế hoạch đầu tư.
Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình thu nhập của công nhân viên”
sẽ giúp ta có những đánh giá chính xác hơn về sự phát triển
của doanh nghiệp bởi vì không thể nói một doanh nghiệp kinh
doanh có hiệu quả nếu thu nhập của người lao đông có xu
hướng giảm theo thời gian và thấp so với mặt bằng chung
được. Thu nhập của công nhân viên phải gắn liền với kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình tăng giảm nguồn vốn chủ sở
hữu” để thấy được tình hình biến động của tổng số nguồn vốn
chủ sở hữu cũng như từng loại nguồn vốn chủ sở hữu của
13
doanh nghiệp. Qua đó, đánh giá được tính hợp lý của việc
hình thành và sử dụng từng nguồn vốn chủ sở hữu.
Phân tích chỉ tiêu: “Tình hình tăng giảm các khoản đầu tư vào
các đơn vị khác” để nắm được tình hình đầu tư và hiệu quả
đầu tư vào các đơn vị khác.
Phân tích chỉ tiêu “Các khoản phải thu và nợ phải trả” sẽ nắm
được tình hình thanh toán các khoản phải thu và các khoản nợ
phải trả trong kỳ của doanh nghiệp.
Tình hình thanh toán các khoản phải thu và các khoản phải trả là
một trong những chỉ tiêu phản ánh khá sát thực chất lượng hoạt
động tài chính. Nếu hoạt động tài chính tốt, lành mạnh doanh
hướng biến đổi của chỉ tiêu phân tích.
Có nhiều phương thức so sánh và sử dụng phương thức nào là tuỳ
thuộc vào mục đích và yêu cầu của việc phân tích.
So sánh chỉ tiêu thực tế với các chỉ tiêu kế hoạch, dự kiến hoặc định
mức. Đây là phương thức quan trọng nhất để đánh giá mức độ thực hiện chỉ
tiêu kế hoạch, định mức và kiểm tra tính có căn cứ của nhiệm vụ kế hoạch
được đề ra.
So sánh chỉ tiêu thực hiện giữa các kỳ trong năm và giữa các năm
cho thấy sự biến đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
15
So sánh các chỉ tiêu của doanh nghiệp với các chỉ tiêu tương ứng của
doanh nghiệp cùng loại hoặc của doanh nghiệp cạnh tranh.
So sánh các thông số kinh tế- kỹ thuật của các phương án sản xuất
kinh doanh khác nhau của doanh nghiệp.
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện có
thể so sánh được của các chỉ tiêu:
Khi so sánh các chỉ tiêu số lượng phải thống nhất về mặt chất lượng.
Khi so sánh các chỉ tiêu chất lượng phải thống nhất về mặt số lượng.
Khi so sánh các chỉ tiêu tổng hợp, phức tạp phải thống nhất về nội
dung, cơ cấu của các chỉ tiêu.
Khi so sánh các chỉ tiêu hiện vật khác nhau phải tính ra các chỉ tiêu
này bằng những đơn vị tính đổi nhất định.
Khi không so sánh được bằng các chỉ tiêu tuyệt đối thì có thể so
sánh bằng các chỉ tiêu tương đôí. Bởi vì, trong thực tế phân tích, có một số
trường hợp, việc so sánh các chỉ tiêu tuyệt đối không thể thực hiện được
hoặc không mang một ý nghĩa kinh tế nào cả, nhưng nếu so sánh bằng các
chỉ tiêu tương đối thì hoàn toàn cho phép và phản ánh đầy đủ, đúng đắn hiện
tượng nghiên cứu.
Trong phân tích so sánh có thể sử dụng số bình quân, số tuyệt đối và
số tương đối.
ROA = x = (1)
Doanh thu Tổng tài sản Tổng tài sản
Tỷ ROA cho thấy tỷ suất sinh lợi của tài sản phụ thuộc vào hai yếu tố:
17
Một là: Thu nhập ròng của doanh nghiệp trên một đồng doanh thu
Hai là : Một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu
Tiếp theo, ta xem xét tỷ số doanh lợi vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
(ROE):
Lợi nhuận sau thuế
ROE =
Vốn chủ sở hữu
Chỉ tiêu doanh lợi vốn chủ sở hữu phản ánh khả năng sinh lợi của vốn chủ
sở hữu.
Nếu tài sản của doanh nghiệp chỉ được tài trợ bằng vốn chủ sở hữu thì
doanh lợi vốn và doanh lợi vốn chủ sở hữu sẽ bằng nhau vì khi đó tổng tài
sản = tổng nguồn vốn.
Lợi nhuận sau thuế Lợi nhuận sau thuế
ROA = = = ROE(2)
Tổng tài sản Vốn chủ sở hữu
Nếu doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ cho các tài sản của mình thì ta có
mối liên hệ giữa ROA và ROE:
Tổng tài sản
ROE = x ROA (3)
Vốn chủ sở hữu
Kết hợp (1) & (3) ta có:
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Tổng tài sản
ROE = x x
Doanh thu Tổng tài sản Vốn CSH
18
Lợi nhuận sau thuế Doanh thu Tổng tài sản
nghĩa khi xem xét nó trong mối quan hệ với các chỉ tiêu khác. Do vậy,
phương pháp phân tích hữu hiệu cần đi từ tổng quát đánh giá chung cho đến
các phần chi tiết, hay nói cách khác là lúc đầu ta nhìn nhận tình hình tài
chính trên một bình diện rộng, sau đó đi vào phân tích đánh giá các chỉ số
tổng quát về tình hình tài chính và để hiểu rõ hơn ta sẽ phân tích các chỉ tiêu
tài chính đặc trưng của doanh nghiệp, so sánh với những năm trước đó, đồng
thời so sánh với tỷ lệ tham chiếu để cho thấy được xu hướng biến động cũng
như khả năng hoạt động của doanh nghiệp so với mức trung bình ngành ra
sao.
1.5. Quan niệm hiệu quả tài chính và sự cần thiết nâng cao hiệu quả tài
chính trong hoạt động của doanh nghiệp.
1.5.1. Quan niệm hiệu quả tài chính.
Trong nền kinh tế thị trường mỗi doanh nghiệp tùy từng thời kỳ kinh
doanh, có những mục tiêu kinh doanh khác nhau, đưa ra những chiến lược,
cách thức kinh doanh khác nhau nhằm nâng cao hiệu quả với những mục
tiêu bao trùm, lâu dài là tối đa hóa lợi nhuận.
20
Với doanh nghiệp, hiệu quả phải được xem xét dưới góc độ kinh tế,
tài chính. Hiệu quả tài chính là khía cạnh cốt lõi đánh giá hiệu quả của một
doanh nghiệp, thể hiện hiệu quả hoạt động về mặt tiền tệ.
Nói đến hiệu quả tức là muốn nói tới sự so sánh giữa cái bỏ ra và cái
thu được. Trong kinh doanh, hiệu quả chỉ mối quan hệ giữa chi phí đã bỏ ra
và những kết quả đạt được.
Mối quan hệ so sánh này thường được xem xét dưới hai góc độ: hiệu
quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối.
Hiệu quả tuyệt đối: là chỉ tiêu phản ánh mức chênh lệch giữa kết quả
và chi phí, nó cho chúng ta thấy qui mô của hiệu quả.
Công thức dùng để xác định hiệu quả tuyệt đối:
E = R – C (1)
Trong đó:
lũy, để doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất mở rộng, có như vậy mới đảm
bảo tồn tại và phát triển trong kinh doanh.
Kinh doanh phải có tích lũy, tích lũy không ngừng tạo ra một nguồn
vốn lớn đủ khả năng đổi mới công nghệ, tăng cường trang bị máy móc, thiết
bị, nâng cao khả năng cạnh tranh, đứng vững trong môi trường cạnh tranh
ngày càng quyết liệt.
Hiệu quả tài chính bù đắp chi phí cơ hội của doanh nghiệp.
Đầu tư cho sản xuất kinh doanh một ngành hàng, một lĩnh vực này với
mong muốn đạt hiệu quả, thu lợi nhuận nghĩa là doanh nghiệp chịu mất đi
những cơ hội thu được lợi nhuận từ những ngành kinh doanh khác. Kinh
22
doanh có hiệu quả là điều kiện cần thiết bù đắp những cơ hội bị mất đi của
doanh nghiệp.
23
Hiệu quả tài chính tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn ra gay gắt. Để tồn tại đòi
hỏi mỗi doanh nghiệp phải tạo cho mình có được ưu thế trong cạnh tranh, ưu
thế đó có thể là: chất lượng sp, giá bán, mẫu mã Trong giới hạn về nguồn
lực, doanh nghiệp cần tìm mọi cách huy động tối đa các nguồn lực cho cạnh
tranh. Nâng cao hiệu quả tài chính tạo nguồn vốn cho việc tăng cường sức
mạnh cạnh tranh.
Việc giành ưu thế trong cạnh tranh sẽ giúp cho doanh nghiệp mở rộng
thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Nâng cao khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường có mối quan hệ
tác động qua lại nhau. Nâng cao khả năng cạnh tranh giúp doanh nghiệp có
thể mở rộng thị trường, ngược lại mở rộng thị trường giúp các doanh nghiệp
tăng sản lượng tiêu thụ, tăng hệ số sử dụng các yếu tố sản xuất, tức là nâng
cao khả năng cạnh tranh.
Nâng cao hiệu quả tài chính tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững
lời của vốn.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn
=
Lợi nhuận trước thuế
x 100%
Tổng vốn kinh doanh
Chỉ tiêu này phản ánh việc sử dụng nguồn vốn kinh doanh đã hiệu quả
chưa. Nếu chỉ sô này là nhỏ chứng tỏ việc sủ dụng nguồn vốn kinh doanh là
chưa hiệu quả vì sử dụng quá nhiều vốn mà tạo ra ít lợi nhuân. Nếu chỉ số
này cao chứng tỏ công ty sử dụng vốn kinh doanh tốt, đạt hiệu quả cao vì sử
dụng ít vốn kinh doanh mà lợi nhuận tạo ra là lớn.
25