LỜI MỞ ĐẦU
Chính sách tiền lương là một bộ phận quan trọng hệ thống chính sách
kinh tế- xã hội, là động lực trong việc tăng trưởng kinh tế và giải quyết công
bằng xã hội, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước,khai thác khả năng
của người lao động. Cải cách chính sách tiền lương năm 1993 đến nay chúng ta
đã đạt được một mục tiêu nhất định. Tuy nhiên đến nay chính sách tiền lương
vẫn còn nhiều tồn tại, diễn biến phức tạp và hết sức bức xúc. Vì vậy cần thiết
phải phân tích, đánh giá đúng thực trạng chính sách, chế độ tiền lương hiện
hành, các hình thức tiền lương và tổ chức hạch toán lao động - tiền lương nay
trong các doanh nghiệp, từ đó đề ra phương hướng, giải pháp cải cách chính
sách tiền lương
Chính vì những lý do trên đề án bàn về “Công tác tính lương và tổ chức
hạch toán lao động tiền lương hiện nay trong các doanh nghiệp " góp phần
làm sáng tỏ mục đích trên.
Đề án được chia làm hai phần chính sau.
PhầnI: Những vấn đề lý luận cơ bản về hạch toán lao - động tiền lương
trong các doanh nghiệp hiện nay.
Phần II: Giải pháp hoàn thiện chế độ tiền lương, hình thức trả lương
và quản lý lao động trong các doanh nghiệp hoạt động theo cơ chế thị trường.
Đề án được hoàn thành dưới sự giúp đỡ của thầy, cô giáo đã giúp em hoàn
thành đề án này. Do hạn chế vì trình độ và thời gian đề án chắc chắn sẽ không
tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định. Em rất mong nhận được những ý kiến
đóng góp của cô và các bạn để những lần viết sau được tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
PHẦN I: NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HẠCH TOÁN LAO
ĐỘNG - TIỀN LƯƠNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY
I. KHÁI NIỆM, Ý NGHĨA VÀ NHIỆM VỤ HẠCH TOÁN LAO
ĐỘNG TIỀN LƯƠNG
1. Khái niệm và bản chất kinh tế của tiền lương
nguyên tắc phân phối lao động.
Tổ chức công tác hạch toán lao động và tiền lương giúp cho doanh nghiệp
quản lý tốt quỹ tiền lương, đảm bảo việc trả lương và trợ cấp bảo hiểm xã hội
đúng nguyên tắc, đúng chế độ, kích thích người lao động hoàn thành nhiệm vụ
được giao đồng thời cũng tạo cơ sở cho việc phân bổ chi phí nhân công vào giá
thành sản phẩm được chính xác.
3. Nhiệm vụ hạch toán
Nhiệm vụ của hạch toán lao động và tiền lương trong doanh nghiệp là:
- Kế toán ghi chép theo dõi tình hình biến động về số lượng lao động, thời
gian lao động, kết quả lao động của từng người, từng bộ phận.
- Tính toán đầy đủ chính xác kịp thời các chỉ tiêu về số lượng thời gian và
kết quả lao động để làm cơ sở tính tiền lương phải thanh toán cho từng người
từng bộ phận.
- Trích các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ theo đúng chế độ quy định.
- Có kế hoạch trích trước tiền lương nghỉ phép và nghỉ theo thời vụ của
từng người, từng bộ phận đảm bảo sự ổn định về chi phí và quỹ tiền lương,
- Có kế hoạch về quỹ tiền mặt đáp ứng các nhu cầu về tiền lương, tiền
thưởng và bảo hiểm cho cán bộ công nhân viên.
- Thường xuyên phân tích tình hình sự biến động về quỹ tiền lương của
doanh nghiệp từ đó góp phần nâng cao về quỹ tiền lương để tăng năng suất lao
động.
- Tiến hành lập các bảng phân bổ về tiền lương, bảo hiểm theo đúng đối
tượng để hạch toán đúng chi phí.
II. HÌNH THỨC THANH TOÁN TIỀN LƯƠNG
3
1. Nguyên tắc tính lương
Việc thực hiện hình thức trả lương thích hợp trong các doanh nghiệp
nhằm quán triệt nguyên tắc phân phối theo lao động, kết hợp chặt chẽ giữa lợi
ích chung của xã hội với lợi ích của doanh nghiệp và người lao động. Lựa chọn
hình thức trả lương đúng đắn còn tác dụng đòn bẩy kinh tế, khuyến khích người
lương thời gian, tính lương cho người lao động trong những ngày hội họp học
tập hoặc làm nghĩa vụ khác và làm căn cứ để tính trợ cấp bảo hiểm xã hội.
Tiền lương phải trả = mức lương x số ngày làm việc
trong tháng một ngày thực tế trong tháng
Mức lương ngày =
Mức lương giờ =
Lương giờ thường được áp dụng để trả lương cho lao động trực tiếp trong
thời gian làm việc không hưởng theo sản phẩm.
Tiền lương thời gian làm việc được chia thành tiền lương tính theo thời
gian giản đơn và tiền lương tính theo thời gian có thưởng.
- Tiền lương tính theo thời gian giản đơn căn cứ vào số thời gian làm việc
thực tế nhân với mức tiền lương của một đơn vị thời gian. Tiền lương tính theo
thời gian giản đơn không phát huy được đầy đủ nguyên tắc phân phối theo lao
động vì nó chưa chú ý đến kết quả và chất lượng công tác thực tế của công nhân
viên chức.
- Tiền lương tính theo thời gian có thưởng là tiền lương tính theo thời
gian giản đơn kết hợp với chế độ tiền thửơng trong sản xuất. Tiền lương theo
thời gian có thưởng có tác dụng thúc đẩy người lao động tăng năng suất lao
động, tiết kiệm vật tư và đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Nhìn chung hình thức trả lương theo thời gian có mặt hạn chế là tiền
lương còn mang tính chất bình quân, nhiều khi không phù hợp với kết quả lao
động thực tế của người lao động. Vì vậy chỉ những trường hợp chưa đủ điều
kiện thực hiện chế độ trả lương theo sản phẩm mới phải áp dụng chế độ trả
lương theo thời gian
2.2. Hình thức trả lương theo sản phẩm.
5
Hình thức trả lương theo sản phẩm là hình thức trả lương theo số lượng và
chất lượng công việc đã hoàn thành. Theo hình thức này căn cứ vào các sản
phẩm, công việc đã được nghiệm thu để xác định mức tiền lương phải thanh
toán cho từng người từng vụ việc, từng hợp đồng. Hình thức này thường được
khoản tiền phạt.
- Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến: Theo hình thức này ngoài tiền lương
theo sản phẩm trực tiếp còn căn cứ vào mức độ hoàn thành vượt định mức lao
động để tính thêm một số tiền lương theo tỷ lệ luỹ tiến. Tỷ lệ hoàn thành vượt
mức càng cao thì suất luỹ tiến càng nhiều. Lương trả theo sản phẩm luỹ tiến có
tác dụng kích thích mạnh mẽ việc tăng nhanh năng suất lao động nên được áp
dụng ở những khâu quan trọng cần thiết để đẩy nhanh tốc độ sản xuất đảm bảo
cho sản xuất cân đối, đồng bộ hoặc áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp
phải thực hiện gấp một đơn đặt hàng nào đó. Sử dụng hình thức trả lương này sẽ
làm tăng khoản mục chi phí nhân công trong giá thành sản phẩm của doanh
nghiệp vì vậy trường hợp không cần thiết thì không nên sử dụng hình thức trả
lương này.
2.3. Trả lương theo hình thức khoán công việc:
Hình thức này áp dụng cho những công việc lao động giản đơn, có tính
chất đột xuất như bốc dỡ nguyên vật liệu, thành phẩm, sửa chữa nhà cửa
Trong trường hợp này, doanh nghiệp xác định mức tiền lương trả theo từng công
việc mà người lao động phải hoàn thành.
- Hình thức khoán quỹ lương: là một dạng đặc biệt của tiền lương trả theo
sản phẩm được sử dụng để trả lương cho những người làm việc tại các phòng
ban của doanh nghiệp. Theo hình thức này, căn cứ vào khối lượng công việc của
từng phòng ban doanh nghiệp tiến hành khoán quỹ lương. Quỹ lương thực tế
phụ thuộc vào mức độ hoàn thành công việc được giao cho từng phòng ban.
Tiền lương thực tế của từng nhân viên ngoài việc phụ thuộc vào quỹ lương thực
tế của từng phòng ban mình còn phụ thuộc vào số lượng nhân viên của phòng
ban đó.
7
Tóm lại hình thức trả công theo sản phẩm có nhiều ưu điểm hơn so với
hình thức trả công theo thời gian vì nó quán triệt được nguyệt tắc phân phối theo
lao động: trả lương theo số lượng và chất lượng lao động. Nó gắn thu nhập với
kết quả sản xuất của mỗi người. Do đó kích thích nâng cao năng súât lao động.
động hiện có của doanh nghiệp bao gồm cả lao động dài hạn và lao động tạm
thời, cả lực lượng lao động trực tiếp và gián tiếp. Sổ danh sách lao động không
chỉ lập chung cho toàn doanh nghiệp mà còn được lập riêng cho từng bộ phận
sản xuất trong doanh nghiệp nhằm thường xuyên nắm chắc được số lượng lao
động hiện có của từng đơn vị.
Cơ sở để ghi sổ danh sách lao động là chứng từ ban đầu về tuyển dụng,
thuyên chuyển công tác, thôi việc, nâng bậc
Mọi biến động đều được ghi chép kịp thời vào sổ danh sách lao động để
trên cơ sở đó làm căn cứ cho việc tính lương phải trả và chế độ khác cho người
lao động được kịp thời.
2. Hạch toán sử dụng thời gian lao động
Hạch toán sử dụng lao động phải đảm bảo ghi chép, phản ánh kịp thời,
chính xác số ngày công, giờ công làm việc thực tế hoặc ngừng sản xuất, nghỉ
việc của từng người lao động, từng đơn vị sản xuất, từng phòng ban trong doanh
nghiệp.Hạch toán sử dụng thời gian lao động có ý nghĩa rất lớn trong việc quản
lý lao động, kiểm tra việc chấp hành kỷ luật lao động, làm căn cứ tính lương,
tính thưởng chính xác cho ngườ lao động.
Chứng từ ban đầu quan trọng nhất để hạch toán thời gian lao động trong
các doanh nghiệp là bảng chấm công (mẫu 02- LĐTL chế độ chứng từ kế toán).
mọi thời gian thực tế làm việc, nghỉ việc, vắng mặt của người lao động đều phải
được ghi chép hàng ngày vào bảng chấm công. Bảng chấm công phải lập riêng
cho từng bộ phận (tổ sản xuất phòng ban ) và dùng trong một tháng. Tổ trưởng
sản xuất hoặc trưởng các phòng ban là người trực tiếp ghi bảng chấm công căn
cứ vào số lao động có mặt, vắng mặt. Bảng chấm công là căn cứ để tính lương
thưởng và tổng hợp thời gian lao động sử dụng trong doanh nghiệp ở mỗi bộ
phận.
9
Đối với trường hợp ngừng việc xảy ra do bất cứ nguyên nhân gì đều phải
được phản ánh vào biên bản ngừng việc, trong đó ghi rõ thời gian ngừng việc
thực tế của mỗi người có mặt, nguyên nhân xảy ra ngừng việc và người chịu
quả tính lương cho từng người. Trên bảng tính lương cần ghi rõ từng khoản tiền
lương (lương sản phẩm, lương thời gian. ), các khoản phụ cấp, trợ cấp, các
khoản khấu trừ và số tiền người lao động còn được lĩnh. Sau khi kế toán trưởng
kiểm tra xác nhận và ký, giám đốc phê duyệt "Bảng thanh toán tiền lương và
BHXH" sẽ được làm căn cứ để thanh toán lương BHXH cho người lao động.
2. Tài khoản hạch toán
a, Tài khoản sử dụng 334 "Phải trả công nhân viên".
Bên nợ:
- Các khoản đã thanh toán cho cán bộ công nhân viên.
- Khấu trừ các khoản của cán bộ công nhân viên.
- Tiền lương của một số cá nhân chưa nhận kế toán kết chuyển TK 3388
để thanh toán sau.
Bên có: Tiền lương tiền công và các khoản khác còn phải trả công nhân
viên chức.
Dư có: Tiền lương và các khoản khác còn phải trả công nhân viên chức.
TK 334 được chi tiết thành hai TK:
334.1: Tiền lương chính.
334.2: Tiền lương phụ.
b, Nghiệp vụ hạch toán.
- Hàng tháng tính ra tổng số tiền lương và các khoản phụ cấp phải trả cho
từng người , từng bộ phận:
Nợ TK 622,627, 641, 642, 2412.
Có TK 334.1.
- Xác định số BHXH phải thanh toán cho từng người, từng bộ phận.
Nợ TK 3383
Có TK 334.2
11
- Tính các khoản tiền thưởng được trích từ quỹ khen thưởng quỹ phúc lợi
để thưởng cho cán bộ công nhân viên.
Nợ TK 431.1, 431.2
Khi báo cáo quyết toán tài chính được người có thẩm quyền phê duyệt,
kết toán xác định tiền lương thực tế phải trả cho người lao động và so sánh với
số tiền lương đã trả theo kế hoạch của năm trước để xác định số tiền lương phải
trả thêm cho người lao động hoặc số đã trả thừa. Nếu phải trả thêm cho người
lao động, kế toán ghi: Nợ TK 4211 - Lợi nhuận năm trước
Có TK 334
Nếu đã trả thừa cho người lao động kế toán ghi: Nợ TK 334
Có TK 4211
Khái quát nội dung hạch toán tiền lương bằng sơ đồ sau:
13
14
TK 622
TK 627
TK 641,642
TK 335
TK 3383
TK 421
TK 111
TK 141, 3384
TK 138, 3337
TK 334
Trả lương, BHXH
và khác cho công nhân viên
Thanh toán tạm ứng
và các khoản khác
Các khoản khấu
trừ vào lương của CNV
Tiền lương phải trả
cho CNV sản xuất
Tiền lươngtrả
cơ sở trình độ chuyên môn nghiệp vụ và thâm niên công tác của cán bộ công
nhân với mức lương tối thiểu được Nhà nước quy định và điều chỉnh. Vấn đề đặt
ra là mức trả lương như hiện nay của chúng ta cao hay thấp và cách trả lương đã
hợp lý chưa? so với mức đóng vào thu nhập của người dân trong cơ chế thị
trường và so với chế độ tiền lương của một số nước trong khu vực thì chế độ
tiền lương đã phù hợp chưa cần phải được cải cách như thế nào? đó là những
vấn đề cấp bách cần được giải quyết và một số giải pháp nhằm hòan thiện hơn
nữa trong chính sách tiền lương sẽ được trình bày trong phần tiếp theo của bài
viết này.
15
PHẦN II: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNG, HÌNH
THỨC TRẢ LƯƠNG VÀ QUẢN LÝ LAO ĐỘNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP HOẠT ĐỘNG THEO CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
I. THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNG VÀ THU NHẬP Ở
NƯỚC TA HIỆN NAY
1. Những ưu điểm cần kế thừa của chính sách tiền lương
Chính sách tiền lương hiện hành đối với công chức hành chính, sự nghiệp
được thực hiện theo nghị định 25/CP từ năm 1993 đến nay có những ưu điểm
cơ bản cần kế thừa như: Đã hình thành hệ thống quan điểm, nguyên tắc làm cơ
sở cho việc hoạch định chính sách tiền lương. Việc tiền tệ hoá và thay đổi cơ
cấu tiền lương đã cơ bản xoá bỏ chế độ bao cấp, bảo đảm sự công bằng hơn
trong phân phối. Quan hệ tiền lương được mở rộng 1 - 3,5 lên 1 - 10 đã khắc
phục một bước tính bình quân trong chế độ tiền lương. Cơ chế quản lý tiền
lương đã có bước thay đổi phù hợp hơn. Bước đầu gắn tiền lương với hiệu quả
sản xuất, kinh doanh và tiêu chuẩn chức danh công chức, viên chức, tiêu chuẩn
chuyên môn nghiệp vụ. Mối quan hệ giữa tiền lương với năng suất lao động, lợi
nhuận được giải quyết hợp lý hơn. Yếu tố BHXH và ưu đãi đã được tách khỏi
chính sách tiền lương, hình thành hệ thống chính sách BHXH và chính sách đối
với người có công.
2. Những bất hợp lý trong chính sách tiền lương
Hiện nay có một thực tế thật phi lý khi chi phí cho một sinh viên ăn học trung
bình với mức giá hiện nay là 400-500 ngàn đồng/ tháng nhưng khi ra trường sau
một năm tập sự trở thành cán bộ công chức hưởng lương chuyên viên bậc 1 là
390 ngàn đồng (1,86x210.000) và 374 ngàn đồng nếu làm việc ở khu vực sản
xuất kinh doanh (1,74x210.000).
Lương không đủ tái sản xuất sức lao động đã buộc cán bộ công chức tìm
mọi cách tăng thu nhập ngoài lương. Phần thu nhập này nhiều khi quan trọng
hơn phần lương cơ bản vì nó đảm bảo cho cuộc sống của cán bộ công chức vì
vậy không ít cán bộ công chức đã dành nhiều thời gian và tâm trí để tăng thu
nhập ngoài lương. Khoản thu nhập ngoài lương lại không được kiểm soát. Đây
17
cũng chính là nguyên nhân của tệ nạn tham nhũng cửa quyền và sách nhiễu mà
chúng ta đang cố gắng đấu tranh bài trừ nó.
b, Thứ hai: Thang bảng lương công chức còn bất hợp lý. Trong thang
bảng lương hiện nay không có quy định về lương và hệ số lương cho các học vị
sau đại học như thạc sỹ, phó giáo sư, giáo sư. Hiện nay những người có học vị
sau đại học đều hưởng lương theo ngạch bậc dành cho kỹ sư nếu làm việc trong
khu vực HCSN, hưởng lương nghiên cứu viên nếu làm việc trong các viện
nghiên cứu.
Thật phi lý khi cùng là sinh viên tốt nghiệp ĐH ra trường, những người
học xuất sắc nhất được đề nghị chuyển tiếp học các học vị cao hơn như thạc sỹ,
tiến sĩ sau 3-5 năm học tập và nghiên cứu khi ra làm việc thạc sỹ và tiến sĩ cũng
được hưởng lương như sinh viên mới ra trường. Như vậy nếu lấy mốc thời gian
tốt nghiệp đại học để tính thì những người học xuất sắc học càng nhiều, học vị
càng cao thì lương càng thấp so với các đồng nghiệp khác tốt nghiệp cùng khoá
vì việc tăng lương chỉ dựa trên yếu tố thời gian.
Rõ ràng chính sách lương hiện nay đã không khuyến khích nhân tài,
người tài, học giỏi được đào tạo cơ bản đầu tư nhiều cho phát triển trí tuệ và
chất xám lại hưởng lương thấp hơn những người không có tài và ít đầu tư. Đó
chính là nguyên nhân tại sao những người có tài, có khả năng, trình độ không
phần từ tiền lương chỉ bằng 1/3 đến 1/4 thu nhập, còn từ hoạt động làm thêm
mang lại 2/3 đến 3/4 thu nhập của công chức. Đó là chưa kể đến thu nhập do
công chức dựa vào chuyên môn và trách nhiệm của mình làm thêm cho cơ quan,
đơn vị, tổ chức và cá nhân khác mà Nhà nước chưa nắm được. Ví dụ bác sỹ mở
phòng khám riêng, giáo viên các trường công lập giảng cho các trường khác
hoặc mở các lớp luyện thi, nghệ sỹ biểu diễn ngoài giờ, công chức hành chính
làm tư vấn cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu.
3. Hậu quả của tình trạng tiền lương và thu nhập hiện nay
Tình trạng tiền lương và thu nhập hiện nay có thể nói đã ảnh hưởng
nghiêm trọng đến tình hình kinh tế - xã hội của đất nước. Có thể khái quát
những hậu quả của tình trạng này như sau
Một là, chất lượng công việc của công chức Nhà nước không được đảm
bảo. Do tiền lương chỉ bằng 1/3 đến 1/4 thu nhập của công chức, họ phải làm
thêm để có thu nhập nuôi bản thân và gia đình. Hậu quả là hiệu lực và chất
lượng của bộ máy công quyền rất thấp. Đối với khu vực sự nghiệp, công tác
đảng, đoàn thể do tiền lương thấp công chức phải làm thêm nên tình trạng "chân
19
ngoài dài hơn chân trong" khá phổ biến. Thời gian sức làm cho Nhà nước thì ít,
còn để dành làm ngoài. Điều đó giải thích cho câu hỏi tại sao chất lượng công
việc của khu vực sự nghiệp và hoạt động xã hội chưa cao.
Hai là, hệ thống phân phối bị rối loạn. Ngoài phân phối theo tiền lương
còn có phân phối từ quỹ tự có của đơn vị, phân phối trực tiếp giữa công chức
với các tổ chức hoặc cá nhân, phân phối theo "phong bì" qua hội nghị hội thảo
những khoản phân phối này không theo một quy định nào, nó được biến dạng rất
nhiều ở mỗi cơ quan, đơn vị khác nhau. Xuất hiện tình trạng lương cao thu nhập
thấp, lương thấp thu nhập cao.
Ba là, làm tăng sự phân hoá và bất bình đẳng trong xã hội. Do tiền lương
của ta thấp, Nhà nước chưa áp dụng luật thuế TNCN mặc dù đã có thuế, luỹ tiến
nhưng với mức lương thấp thì không một công chức nào phải nộp thuế thu nhập
luỹ tiến trong thực tế như đã nêu ở trên, thu nhập của công chức không phải chỉ
II. ĐÁNH GIÁ CHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNG VÀ QUAN ĐIỂM CỦA CÁ
NHÂN VỀ CHẾ ĐỘ TIỀN LƯƠNG THEO CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG, VÀ
MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ TIỀN
LƯƠNG HIỆN NAY
1. Đánh giá
Mức tiền lương tối thiểu hiện nay là 210.000đ/tháng là quá thấp so với
mức lương tối thiểu ở các nước khác nhất là ở các nước phát triển thì đúng là rất
thấp. Mức lương tối thiểu hiện nay của CCNN được các tổ chức tài chính quốc
tế coi là thuộc diện đói nghèo. Theo ngân hàng phát triển Châu Á, ở các nước
đang phát triển phát triển nếu có mức thu nhập bình quân đầu người dưới
39USD/1tháng là thuộc diện sống dưới mức nghèo khổ. Vậy tối thiểu CCNN
cũng phải nhận được mức lương 39USD/1tháng tức khoảng 570.000đ/tháng.
Cũng qua những phân tích về thực trạng thu nhập và tiền lương ở trên cho
thấy rằng chính sách tiền lương của ta đã quá lạc hậu, tiền lương không đảm bảo
tái sản xuất sức lao động tối thiểu, không phản ánh đúng thực trạng thu nhập của
những người làm công ăn lương, làm mất động lực kích thích của tiền lương làm
cho hệ thống phân phối của nước ta bị rối loạn. Nhà nước không điều tiết được
21
thu nhập, làm tăng tình trạng phân hoá bất bình đẳng trong xã hội. Tiền lương đã
mất đi chức năng là công cụ khuyến khích lao động. Do vậy yêu cầu cấp thiết
hiện nay là phải đưa ra được những giải pháp đúng đắn về chính sách tiền lương,
chính sách xã hội để những chính sách đó khác, tránh sự tụt hậu quá xa của
chính sách tiền lương với sự phát triển chung của toàn xã hội.
2. Giải pháp
Thứ nhất, nâng mức lương tối thiểu 420.00đ/tháng khi đó sẽ gặp khó khăn
là nguồn nào cho ngân sách vì khi nâng mức lương tối thiểu lên 420.000đ/tháng
thì ngân sách phải chi thêm 25.000 tỷ đồng tức là gấp 3 lần với khả năng thêm
của ngân sách hiện nay. Vậy tôi xin đề đạt một số biện pháp liên quan đến tạo
nguồn cho ngân sách.
* Giảm biên chế: Giảm biên chế được xem là chủ trương đúng đắn và hợp
lượng công việc. Chất lượng lao động thể hiện ở mức độ phức tạp của công việc,
chất lượng công việc hoàn thành. Trong sản xuất kinh doanh việc đo đếm này
không có gì phức tạp. Nhưng trong khu vực hành chính sự nghiệp một số công
việc khong dễ gì đo đếm được nên chất lượng lao động được đánh giá dựa vào
trình độ của người lao động. Vì vậy việc xác lập thang bảng lương đối với các
học vị sau đại học là việc làm hết sức cần thiết và cấp bách trong đợt cải cách
tiền lương tới đây.
- Cải cách tiền lương phải thể hiện được sự ưu tiên đãi ngộ thoả đáng đối
với lao động khoa học công nghệ, bởi lẽ họ là lực lượng lao động quyết định sự
phát triển của xã hội.
Thứ ba, Hiện nay lương nói chung, lương trong khu vực HCSN nói riên
còn mang nặng tính bình quân chủ nghiã, cứ 3 năm lên một bậc, người làm tốt
cũng như người làm chưa tốt, điều này đã triệt tiêu tính tích cực, năng động và
sáng tạo vươn lên của con người. Vì vậy cải cách tiền lương cần phải khắc phục
một cách cơ bản những bất cập này để tiền lương thực sự trở thành chất kích
thích giải phóng mọi tiềm năng trong con người.
23
KẾT LUẬN
Tiền lương bao giờ cũng gắn chặt với sự phát triển kinh tế xã hội, trả
lương đúng cho cán bộ công chức là đầu tư quan trọng cho ổn định và phát triển
và cũng chính là đầu tư cho con người, không chỉ cho hiệu quả trước mắt mà
còn có ý nghĩa lâu dài, góp phần quan trọng làm lành mạnh, trong sạch bộ máy
làm cho mọi người yên tâm, chuyên cần với công việc toàn tâm, toàn ý phục vụ
nhân dân.
Trả lương đúng và đủ cũng chính là động lực thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần xây dựng xã hội công bằng dân chủ
văn minh. Hiện nay vấn đề tiền lương vẫn còn nhiều điều bất cập và cần được
quan tâm .Nhưng trong khuôn khổ một bài viết ngắn và thời gian hạn chế không
thể nào đề cập hết những vấn đề bức xúc đó em rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp của cô và bạn đọc để những lần viết sau được tốt hơn.