vai trò của lợi nhuận trong nền kttt. thực trạng và giải pháp của vấn đề - Pdf 13

PHẦN MỞ ĐẦU
Mac đã cống hiến cả cuộc đời của mình vào một xã hội tốt đẹp, một xã
hội công bằng văn minh đó chính là chủ nghĩa xã hội. Ông đã để lại cho nhân
loại rất nhiều tác phẩm. Hai phát kiến vĩ đại nhất của Mac là học thuyết giá trị
thặng dư và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Hai phát kiến này đã làm thay đổi nhận
thức của toàn nhân loại. Với hai phát kiến này, Mac đã biến chủ nghĩa xã hội
không tưởng thành chủ nghĩa xã hội khoa học. Cho tới nay gần hai thế kỷ đã trải
qua nhưng hai phát kiến vĩ đại này vẫn giữ nguyên giá trị của nó.
Đối với nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội thì vấn đề
nhận thức và vận dụng các học thuyết của Mac - đặc biệt là học thuyết giáo dục
thể chất, để làm kim chỉ nam cho các hoạt động để đi đến đích cuối cùng là một
vấn đề cực kỳ quan trọng. Xuất phát từ nhận thức trên với nền kinh tế nước ta
đang chuyển từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường
(KTTT) thì không ai khác, không quốc gia nào khác mà chính chúng ta phải tự
tìm ra đường lối phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện tình hình hiện nay. Yêu
cầu đặt ra là chúng ta phải hiểu rõ nguồn gốc, bản chất của các yếu tố bên trong
của nền kinh tế đặc biệt là những yếu tố chính thúc đẩy sự phát triển của nền
kinh tế thị trường. Một trong những yếu tố đó chính là lợi nhuận. Vậy thế nào là
lợi nhuận? và nó đóng vai trò như thế nào trong sự phát triển của nền kinh tế thị
trường Đây cũng chính là những vấn đề cấp thiết, tất yếu đòi hỏi phải có lời
giải đáp nhanh chóng, chính xác phù hợp với tình hình để đáp ứng được yêu cầu
phát triển hiện này. Và đây cũng chính là lý do vì sao em chọn đề tài này.
Đây là một vấn đề có tầm quan trọng rất lớn. Quá trình nghiên cứu nó đòi
hỏi phải xuất phát từ các quan điểm của các nhà kinh tế học trước Mác kết hợp
với quan điểm của Mác và thực tiễn.
1
PHẦN NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: LỢI NHUẬN
I. Các quan điểm kinh tế chính trị về lợi nhuận
1. Các quan điểm trước C.Mac về lợi nhuận
Quan điểm của trường phái Trọng Thương

Mặc dù ủng hộ quan điểm sản phẩm thuần tuý chỉ tạo ra trong nông
nghiệp, song A.R.J.Turgot đã đặt cơ sở phân tích lợi nhuận trong công nghiệp.
Theo ông, giả sử trong công nghiệp tư bản là 100.000. Nếu tư bản này mua một
mảnh ruộng, thì anh ta sẽ thu được địa tô là 1.000. Đó là sản phẩm thuần tuý do
tư bản của anh ta thu được. Ngoài ra, ông còn đặt mầm mống về tư tưởng lợi
nhuận bình quân và xu hướng giảm sút tỷ suất lợi nhuận.
1.1.2. Quan điểm của trường phái cổ điển Anh
Theo Adam.Smith, giá trị là do lao động mà người ta có thể mua được
bằng hàng hoá quyết định. Từ đây, ông suy ra giá trị lao động tạo ra chỉ đúng
trong nền kinh tế hàng hóa giản đơn. Còn trong nền kinh tế TBCN, giá trị do các
nguồn thu nhập hình thành, nó bằng tiền lương cộng với lợi nhuận và địa tô.
Ông viết “ tiền lương, lợi nhuận, địa tô là 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập
cũng như là của bất kỳ giá trị trao đổi nào”.
Công lao của Adam.Smith là đã dựa vào sở hữu để phân chia xã hội thành
ba giai cấp: giai cấp địa chủ là người chiếm hữu ruộng đất, các nhà tư bản công
nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp và giai cấp công nhân làm thuê. Mỗi giai
cấp sẽ nhận được một bộ phận thu nhập tương ứng từ trong tổng thu nhập của xã
hội. Giai cấp chiếm hữu ruộng đất được địa tô, giai cấp các nhà tư bản nhận
được lợi nhuận, công nhân nhận được tiền lương. Và nếu như địa tô là khoản
khấu trừ đầu tiên vào sản phẩm lao động, thì lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai
vào sản phẩm của người lao động, chúng đều có chung nguồn gốc là lao động
không được trả công của công nhân. Ông chỉ ra lợi tức là một phần của lợi
nhuận mà nhà tư bản hoạt động bằng tiền đi vay phải trả cho chủ nó để được sở
3
hữu tư bản. Ông đã nhìn thấy xu hướng bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận và xu
hướng tỷ suất lợi nhuận giảm sút do khối lượng tư bản đầu tư tăng lên.
D.Ricardo đã phát triển quan điểm Adam.Smith về những thu nhập lần
đầu của ba giai cấp cơ bản trong xã hội. Về lợi nhuận, D.Ricardo thấy rằng, lợi
nhuận là số còn lại ngoài tiền lương mà nhà tư bản trả cho công nhân. Ông đã
thấy xu hướng giảm sút tỉ suất lợi nhuận và giải thích nguyên nhân của sự giảm

(20kg sợi)
Tiền mua bông là 20$ Giá trị của bông được chuyển vào
sợi 20$.
Hao mòn máy móc là 4$ Giá trị của máy móc được chuyển
vào sợi 4$.
Tiền mua sức lao động trong một
ngày là 3$
Giá trị do lao động của công nhân tạo
ra 12h lao động là 6$
Cộng: 27$ Cộng: 30$
Như vậy toàn bộ chi phí của nhà tư bản để mua tư liệu sản xuất và sức lao
động là 27$. Trong 12h lao động, công nhân tạo ra một sản phẩm mới (20kg sợi)
có giá trị bằng 30$. Vậy 27$ ứng trước chuyển hoá thành 30$, đã đem lại một
giá trị thặng dư là 3$. Do đó tiền đã biến thành tư bản. Phần giá trị mới dôi ra so
với giá trị sức lao động gọi là giá trị thặng dư.
Cũng qua sự nghiêm cứu về quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư, C.Mác
cũng đã nhận thấy các bộ phận khác nhau của tư bản có tác dụng khác nhau. Có
bộ phận tư bản được sử dụng trong nhiều quá trình sản xuất. Có bộ phận được
sử dụng vào sản xuất lại tiêu hao toàn bộ và chuyển biến giá trị của nó vào sản
phẩm trong một chu kỳ sản xuất. Qua đó, ông chia bộ phận tư bản biến thành tư
liệu sản xuất mà giá trị được bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức giá trị không
biến đổi về lượng trong quá trình sản xuất, gọi là tư bản bất biến, và ký hiệu là c.
Bộ phận tư bản biến thành sức lao động không tái hiện ra, nhưng thông qua lao
động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là biến đổi về lượng
được ông gọi là tư bản khả biến, và ký hiệu là v.
Như vậy tư bản bất biến là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất ra
giá trị thặng dư, còn tư bản khả biến có vai trò quyết định trong quá trình đó, vì
nó chính là bộ phận tư bản đã lớn lên. Và qua tất cả các sự phân tích trên, bản
5
chất bóc lột của CNTB đã trở nên rõ ràng, sự phân chia tư bản thành tư bản bất

cao hơn giá trị, thì khi đó m<p; nếu bán với giá cả nhỏ hơn giá trị hàng hoá, thì
khi đó m>p. Chính sự không nhất trí về lượng giữa m và p, nên càng che giấu
thực chất bóc lột của CNTB.
1.2.2. Tỷ suất lợi nhuận
Trên thực tế, các nhà tư bản không chỉ quan tâm đến lợi nhuận, mà còn
quan tâm đến tỷ suất lợi nhuận.
Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn
tư bản ứng trước.
Nếu ký hiệu tỷ suất lợi nhuận là p’ ta có:
m

P’ =
________ X 100%
c + v
Giữa m’ và p’ có sự khác nhau:
Về mặt lượng: p’ luôn luôn nhỏ hơn m’. Vì:
m

P’ =
________ X 100%
,
c + v
m

m’ =
________ X 100%
,
v
Về mặt chất: m’ phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công
nhân làm thuê. Còn p’ không thể phản ánh được điều đó, mà chỉ nói lên mức lãi

__
Nếu ký hiệu P’ là tỷ suất lợi nhuận bình quân thì:
__


m
P’ =
________ X 100%
,


(c + v)
8
Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân che giấu
hơn nữa thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Sự hình thành P’ vàP không
làm chấm dứt quá trình cạnh tranh trong xã hội tư bản, trái lại cạnh tranh vẫn
tiếp diễn.
3. Quan điểm của các nhà kinh tế tư sản hiện đại
1.3.1. Quan điểm
Lợi nhuận là lượng dôi ra của doanh thu so với chi phí
Qua đó nhận thấy các nhà tư sản hiện đại đã nhìn nhận vấn đè lợi nhuận
theo một cách nhìn mới. Doanh thu của một doanh nghiệp là sồ tiện mà nó kiếm
được trong việc bán hàng và dịch vụ . chi phí là tất cả các phí tổn cho các yếu tó
đầu vào và các khoản thuế
Lợi nhuận là mục tiêu cao nhất , là điều kiện tồn tại và phát triển của
doanh nghiệp. Họ muốn chi phí đầu vào là thấp nhất và bán ra với giá cao nhất .
Chỉ có như vậy mới có lợi nhuận và mới tiếp tục tái ssản xuất mở rộng
Để thu được lợi nhuận lớn các nhà tư bản sẽ không đầu tư vào máy móc
hiện đại khi mà lợi nhuận thu được tương xứng với lợi nhuận bình quân xã hội
mặc dù giá trị tạo ra được trong đó có giấ trị thặng dư nhỏ hơn nhiều so với giá

- Trong bộ “ tư bản”, Mác đã luận chứng toàn diện quy luật vận động của
CNTB là quy luật giá trị thặng dư; sản xuất giá trị thặng dư là phương thức sản
xuất TBCN. Công lao vĩ đại nhất của Mac là từ phát hiện giá trị mà đi sâu
nghiên cứu bản chất tác dụng của nó trong sự phát triển CNTB và cũng từ đó
Mac có một cống hiến mới theo LêNin - cựu lỳ quan trọng là sự phân tích về
việc tích luỹ tư bản tức là quá trình biến giá trị thặng dư thành tư bản , quá trình
làm cho giá trị tăgn thên giá trị thặng dư với khối lượng ngày càng tăng. Từ các
vòng tuần hoàn và chu chuyển của giá trị thặng dư mà vang dội kết luận cách
mạng của Mac trong bộ “tư bản rằgn: các quy luật kinh tế của CNTB tất yếu dẫn
đến, một mặt, sự giảm bớt thường xuyên số trùm tư bản chiếm đoạt và lũng loạn
hết cả mọi nguồn lợi của nền sản xuất xã hội, mặt khác, làm tăng thêm số quần
chúng bị bán cùng, bị áp bức, bị nô dịch, đồng thời làm tăng sự phẫn nộ của giai
cấp này được cơ cấu của chính quá trình sản xuất TBCN ren luyện, liên kết và tổ
chức lại; sự độc quyền của tư bản trở thành xiềng xích của phương thức sản xuất
10
lớn lên cùng với nó. Sự tập trung tư liệu sản xuất và sự xã hội hoá lao động đã
đạt tới mức không còn phù hợp cái vỏ TBCN của cách mạng xã hội do chính
giai cấp mà CNTB đã rèn luyện, đã liên kết và tổ chức lại thực hiện- giai cấp
công nhân.
- Lịch sử đã chứng minh cho học thu yết giá trị thặng dư của Mac. Đó là
thắng lợi của cuộc cách mạng XHCN tháng 10 Nga vĩ đại. CNXH thành tựu và
hệ quả của nó chính là sản phẩm của sự vận dụng, phát triển sáng tạo học thuyết
giá trị thặng dự của Mac.
- Một trong những nhân tố cơ bản để nhận thức rõ đánh giá một cách
khách quan ý nghĩa thời đại của học thuyết giá trị thặgn dư của Mac là phân
tích CNTN hiện đại. Đã có nhiều luận văn về CNTB hiện đại, về những biến đổi
về chính sách xã hội… đã chứng tỏ rằng : học thuyết giá trị thặng dư của Mác
vẫn mang đầy đủ ý nghĩa thời đại của nó. Các quy luật tuyệt đối của CNTB. Duy
có điều giai cấp tư bản ngày nay.
- Do sự tiến bộ của khoa học công nghệ - chủ yếu bóc lột những người lao

3. Lợi tức cho vay
Là một phần lợi nhuận bình quân, mà nhà tư bản đi vay phải trả cho nhà
tư bản cho vay căn cứ vào món tiền mà nhà tư bản cho vay đã đưa cho nhà tư
bản đi vay sử dụng.
Nguồn gốc của lợi tức là một phần giá trị thặng dư do công nhân sáng tạo
ra trong lĩnh vực sản xuất.
4. Lợi nhuận ngân hàng
Ngân hàng TBCN là tổ chức kinh doanh tư bản tiền tệ, làm môi giới giữa
người đi vay và người cho vay. Ngân hàng có hai nghiệp vụ: nhận gửi và cho
vay. Trong nghiệp vụ nhận gửi, ngân hàng trả lợi tức cho người gửi tiền vào,
còn trong nghiệp vụ cho vay, ngân hàng thu lợi tức của người đi vay. Lợi tức
nhận gửi nhỏ hơn lợi tức cho vay.
Chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức nhận gửi trừ đi những khoản
chi phí cần thiết về nghiệp vụ ngân hàng, cộng với các khoản thu nhập khác về
12
kinh doanh tiền tệ hình thành nên lợi nhuận ngân hàng. Lợi nhuận ngân hàng
ngang bằng với lợi nhuận bình quân.
5. Địa tô tư bản chủ nghĩa
Chúng ta đều thấy rằng, cũng như các nhà tư bản kinh doanh trong công
nghiệp, nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp cũng phải thu được lợi nhuận
bình quân. Nhưng muốn kinh doanh trong nông nghiệp thì họ phải thuê ruộng
đất của địa chủ. Vì vậy ngoài lợi nhuận bình quân ra, nhà tư bản phải thu thêm
được một phần giá trị thặng dư dôi ra ngoài lợi nhuận bình quân đó, tức là lợi
nhuận siêu ngạch. Lợi nhuận siêu ngạch này tương đối ổn định và lâu dài và họ
phải trả cho chủ ruộng đất dưới hình thái địa tô TBCN.
Vậy địa tô TBCN là một phần giá trị thặng dư còn lại sau khi đã khấu trừ
đi phần lợi nhuận bình quân của nhà tư bản kinh doanh ruộng đất.
Có hai loại địa tô là địa tô chênh lệch và địa tô tuyệt đối.
- Địa tô chênh lệch là phần lợi nhuận thừa ra ngoài lợi nhuận bình quân,
thu được trên những ruộng đất có điều kiện sản xuất thuận lợi hơn. Nó là số

Bên cạnh đó mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận đòi hỏi các nhà kinh tế, các tổ
chức kinh tế phải bảo đảm được tính hiệu quả trong hoạt động sản xuất, kinh
doanh tức là phải làm thế nào để với một chi phí bỏ ra là ít nhất sẽ thu về được
số lợi nhuận lớn nhất. Điều đó đòi hỏi phải có tính chuyên môn hoá cao trong
công tác tổ chức quản lý. Các doanh nghiệp, các đơn vị sản xuất bắt đầu cắt
giảm biên chế, thu gọn bộ máy quản lý làm cho bộ máy quản lý gọn nhẹ hơn
nhưng lại hoạt động rất có hiệu quả. Cùng với nó là quá trình phân bố lại lực
lượng lao động một cách cân đối, có kế hoạch để đảm bảo khai thác một cách có
hiệu quả nhất nguồn tài nguyên. tất cả các vấn đề trên đều xuất phát từ mục tiêu
lợi nhuận và chính nó đã cho thúc đẩy quá trình phân phối theo lao động dẫn ra
một cách hết sức mạnh mẽ theo nguyên tắc làm nhiều hướng nhiều, làm ít
hướng ít. Sự phân chia lợi nhuận đã diễn ra dưới rất nhiều hình thức khác nhau
14
một cách chặt chẽ giữa các bên tham gia vào quá trình phân chia làm cho chế độ
sở hữu ngày càng được củng cố và phát triển. Quan hệ sở hữu từng bước được
phát triển hơn, rõ ràng hơn giữa các nhà tư bản và người lao động nói riêng, giữa
các cá nhân trong xã hội nói chung.
Như vậy với mục tiêu theo đuổi lợi nhuận đã thúc đẩy quan hệ sản xuất
phát triển bắt đầu từ quan hệ sản xuất tự suất tự cung và cho đến nay thì quan hệ
sản xuất XHCN đã rất phát triển.
2.1.2. Lợi nhuận là nhân tố quyết định sự phát triển của lực lượng sản
xuất
Như đã biết, các nhà tư bản, các doanh nghiệp đầu tư để tiến hành quá
trình sản xuất kinh doanh với mục tiêu là thu được càng nhiều lợi nhuận càng tốt
và cũng chính khoản lợi nhuận thu được này cũng là nguyên nhân chính quyết
định sự tồn tại phát triển hay sự phá sản của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp
làm ăn có hiệu quả tức là thu được lợi nhuận thì một phần lợi nhuận này sẽ được
sử dụng để tái đầu tư để tái mở rộng sản xuất và doanh nghiệp sẽ ngày càng phát
triển. Ngược lại nếu doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì nó sẽ bị đào thải theo qui
luật của sự phát triển. Vì vậycác nhà tư bản, các doanh nghiệp tìm mọi cách để

hội đảm bảo. Mặt khác, đời sống của CBCNVC nhà nước và tất cả những người
đang lao động ở tất cả các thành phần kinh tế cũng không phải dựa vào tiền công
cá nhân mà nó còn dựa vào các quỹ phúc lợi công cộng của nhà nước, của các xí
nghiệp và các tổ chức kinh tế khác. Nó nhằm mục đích đảm bảo cho mọi thành
viên trong xã hội đều có mức sống bình thường tối thiểu. Phân phối thù lao
ngoài lao động còn kích thích lao động sản xuất, kích thích sự phát triển của mọi
thành viên trong xã hội. Mặt khác mỗi quốc gia đều có một bộ máy hành chính
nhà nước, việc nuôi sống bộ máy nhà nước tiêu tốn một khoản chi phí rất lớn.
Bên cạnh đó, vấn đề an ninh quốc phòng và vấn đề giáo dục luôn đòi hỏi được
ưu tiên hàng đầu.
Tất cả các khoản chi tiêu trên đều lấy từ NSNN, lấy từ phần vốn tích luỹ
của các doanh nghiệp, các nguồn này đều được hình thành từ lợi nhuận thu được
trong quá trình sản xuất kinh doanh của toàn xã hội. Lợi nhuận thu được càng
nhiều thì phần dành cho các vấn đề trên càng nhiều. Ngoài ra khi lợi nhuận cao
16
sẽ có điều kiện đầu tư phát triển nhân tố con người cả về mặt lý luận và thực
tiễn, đầu tư phát triển khoa học công nghệ. Tất cả những điều trên đều góp phần
nâng cao đời sống xã hội và tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế, phát triển
giáo dục, quốc phòng của quốc gia.
2.1.4. Lợi nhuận thúc đẩy quá trình tái sản xuất mở rộng cho xã hội
Muốn mở rộng sản xuất càng ngày càng hiện đại thì đòi hỏi phải tích luỹ
nhiều vốn. Như đã biết quá trình tái sản xuất mở rộng là sự lập lại quá trình sản
xuất cũ với quy mô lớn hơn trước, với một lượng tư bản lớn hơn trước. Muốn
như vậy thì phải biến một phần giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm. Do đó để
tiến hành được quá trình tái sản xuất xã hội mở rộng thì đòi hỏi trong quá trình
sản xuất phải tạo ra được lợi nhuận, lợi nhuận tạo ra được càng nhiều thì quá
trình tái sản xuất mở rộng càng diễn ra nhanh hơn và với quy mô lớn hơn.
Ngược lại, việc thu được lợi nhuận cao sẽ kích thích các chủ doanh nghiệp tiếp
tục đầu tư mở rộng sản xuất để thu được lợi nhuận cao hơn.
2. Các nhân tố ảnh hưởng quyết định đến lợi nhuận

2.2.3. Tổ chức quản lý các hoạt động kinh tế vĩ mô của doanh nghiệp
Tài lanh đạo kinh nghiệm phản doán chớp thời cơ sẽ định hướng cho các
kế hoạch , phươnh án sản xuất nhằm thu lợi nhuận. Việc phù hợp hay không phù
hợp của các yếu tố này với thị trường sẽ quyết định đến tình hình lợi nhuận của
doanh nghiệp. Vì vậy các hoạt động mang tính chiến lược có tính định hướng
quyết định đến doanh thu và hiệu qủa kinh doanh
2.2.4. Nhưng yếu tố quyết định về lợi nhuận trong nền kinh tế thị
trường
- Lợi nhuận là lợi nhuận tức ẩn:Đối với nhà kinh tế học lợi nhuạn kinh
doanh là tổng hợp của nhiều khoản khác nhauVì vầy có một soó giá trị tuy
thường gọi là lợi nhuận nhưng thực chất là tô thuế, tiền công tiền thuê lấp dưới
các tên gọi khác nhau.
- Lợi nhuận là phần thưởng cho việc ganh chịu rủi ro và cho sự dổi mới
- Lợi nhuận lợi tức độc quyền:
3. Phân biệt, đánh giá sự khác nhau của các vấn đề lợi nhuận trong CNTB và
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
18
Quan niệm mới về lợi nhuận: Lợi nhuận là vị quan toà thông minh nhất
đánh giá sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp cũng như nền kinh tế .
Lợi nhuận chính là biểu hiện của hiệu quả sản xuất , kinh doanh. Lợi nhuận cao
hay thấp thể hiện năng lừc hoạt động của doanh nghiệp và sự tồn tại lâu dài của

Các nước tư bản phát triển: Chúng ta đều thấy lợi nhuận thuộc vềcác nhà
tư bản. ở đó hình thầnh các tập đoàn kinh tế khổng lồ thao túng nền kinh tế . Các
tập đoàn xuyên quốc gia với sức mạnh tài chính khổng lồ tạo ra các nguồn lợi
nhuận không thẻe tượng . Nhưng tất că lợi nhuận đó lại rơi vào tay của số ít
người.Có thể thấy việc phân chia lợi nhuận là không đồng đều Sở dĩ như vậy là
do việc bóc lột ,chiếm không lao động của công nhân ở một đẳng cấp cao hơn.
Chính vì chạy theo lợi nhuận nên ở đó xuất hiện cạnh tranh không lành mạnh, cá
lớn nhuốt cá bé dấn đến nhiều cuộc phá sản ,thất nghiệp và nhiều hạn chế mâu

nó đó là chạy theo lợi nhuận kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì
phạm trù lợi nhuận mới được hiểu theo nghĩa đúng của nó mục đích cuả hoạt
động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, họ tìm mọi cách để thu được lợi nhuận
tối đa. Do đó dẫn đến tình trạng độc quyền, các tổ chức độc quyền lợi dụng ưu
thế của mình để quy định gía. Chính điều đó đã làm mất tình trạng cạnh tranh
hoàn hảo và làm mất tính hiệu quả kinh tế…
- Cũng vì lợi nhuận mà các doanh nghiệp không chú ý dến những tác
động tiêu cực của họ gây ra cho môi trường xung quanh như: làm ô nhiễm
nguồn nước và không khí, khai thác đến cạn kiệt khoáng sản, chất thải, gây ô
nhiễm cho thức ăn, thức uống, thiếu an toàn về chất phóng xạ
5. Hậu quả của việc theo đuôi lợi nhuận
Ngoài những ưu điểm to lớn của lợi nhuận thì nó cũng không tránh khỏi
những mặt tiêu cực, hạn chế.
Như ta đã biết ở giai đoạn đầu của ché độ tư bản để thu được lợi nhuận
nhiều hơn nữa các nhà tư bản tìm mọi cách giảm chi phí sản xuất bằng cách tăng
thời gian lao động của công nhân, cắt giảm mức lương, điều kện sống sinh hoạt
và làm việc của họ. Bộ máy bóc lột công nghiệp đã bắt cả phụ nức và trẻ em làm
việc không được nghỉ cho đến khi kiệt sức gục ngã.
20
- Ở Anh vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XIX những người công nhân
thuộc thế hệ lớn hơn, họ vẫn còn nhớ rành rọt những thời kỳ bóc lột phụ nữ và
trẻ em một cách tàn nhẫn, vô liêm sỉ- một sự bóc lột đâu lòng, nào là phục nữ bị
hành hạ đến chết…
- Nhiều người trong số họ vẫn giữ được các ký ức này dưới hình dáng cái
cột sống bị vẹo hoặc tay chân bị tàn tật và đối với tất cả mọi người thì ký ức đó
đều thể hiện sức khoẻ bị huỷ hoại không sao hồi phục được. Hàng loạt sinh
mệnh con người bị hy sinh và hạnh phúc của con người bị tan nát trong phạm vi
cả một nước, tất cả những điều đó không một chút bị đặt đó là sự thật, sự thật
bướng bỉnh.
- Ngày nay chủ nghĩa tư sản cũng khộng từ bỏ được bản chất vốn có của

- Hai là, Nhà nước đảm bảo sự ổn đinh chính trị, xã hội, và thiết lập
khuôn khổ luật pháp để tạo ra những điều kiện cần thiết cho hoạt động kinh tế.
Về nhiều mặt, chức năng nay vượt ra ngoài lĩnh vực kinh tế đơn thuần. Nhà
nước tạo ra hành lang luật pháp cho hoạt động kinh tế bằng cách đặt ra những
điều luật cơ bản về quyền sở hữu tài sản và sự hoạt động của thị trường, đặt ra
những quy định chi tiết cho hoạt động của các doanh nghiệp. Khuôn khổ luật
pháp mà Nhà nước thiết lập có tác dụng sâu sắc tới các hành vi kinh tế của con
người và cả bản thân Chính phủ cũng phải tuân theo.
- Ba là, Nhà nước bảo vệ cạnh tranh chống độc quyền, bảo đảm tính hiệu
quả cho hoạt động của thị trường.
- Một trong những nguyên nhân dẫn đến tính kém hiệu quả của hoạt động
thị trường là sự xuất hiện của độc quyền. Các tổ chức độc quyền có thể không
tăng thậm chí giảm số lượng hàng hoá mà chỉ tăng giá để tăng lợi nhuận. Một
nền kinh tế được thúc đẩy bởi cạnh tranh hoàn hảo sẽ đạt hiệu quả cao, nhưng
cạnh tranh làm hạn chế khả năng đạt lợi nhuận độc quyền nên các doanh nghiệp
thường cố gắng giảm bớt cạnh tranh. Vì vậy, Nhà nước có một nhiệm vụ rất cơ
bản bảo vệ cạnh tranh và chống độc quyền để nâng cao tính hiệu qủa của hoạt
động thị trường.
- Một nguyên nhân khác dẫn đến tính kém hiệu quả của hoạt động thị
trường là những tác động, mà các nhà kinh tế gọi là tác động bên ngoài. Các
22
doanh nghiệp vì lợi nhuận tối đa của mình có thể lạm dụng tài nguyên xã hôi,
gây ô nhiễm môi trường sống của con người mà xã hội phải gánh chịu. Chẳng
hạn một doanh nghiệp sản xuất hoá chất, tống chất thải ra hồ gây ô nhiễm nguồn
nước địa phương, làm chết cá, Chính phủ có thể buộc các doanh nghiệp phải trả
tiền cho những thiệt hại do ô nhiễm, mà doanh nghiệp đã gây ra. Sự can thiệp
của Chính phủ nhằm ngăn chặn những tác động bên ngoài để nâng cao hiệu quả
của hoạt động thị trường.
- Bốn là, đồng thời với đảm bảo tính hiệu quả của hoạt động thị trường,
Nhà nước còn có vai trò phân phối thu nhập công bằng xóa bỏ mâu thuẫn xã hội,

là mô hình kinh tế tự cấp tự túc “phát triển ở trình độ cao, với quy mô lớn. Với
mô hình này nhà nước kiểm soát hầu hết các phương tiện sản xuất kinh doanh,
kiểm soát giá cả, tiền lương và toàn bộ quá trình phân phối hàng hoá, dịch vụ
trong nền kinh tế. Riêng về phía các doanh nghiệp thì nhà nước cấp phát vốn
hoàn toàn sau đó của năm, các doanh nghiệp phải nộp toàn bộ kết quả hoạt đông
sản xuất của xí nghiệp mình cho nhà nước, nếu doanh nghiệp làm ăn có lãi thì
nhà nước thu, còn nếu doanh nghiệp làm ăn thu lỗ thì nhà nước bù. Hình thức
này đã triệt tiêu mọi động lực sản xuất của doanh nghiệp hiện tượng “tái giá, lỗ
thật”là khá phổ biến. Các doanh nghiệp hoạt động không lấy mục tiêu lợi nhuận
làm chính, cán bộ công nhân thì luôn được hưởng một mức lương cứng, mọi
phát minh, nỗ lực của họ chỉ được khen thưởng về mặt tinh thần. Tất cả các yếu
tố trên đẫ thủ tiêu mọi động lực lợi ích của nền kinh tế nói chung, của các chủ
thể kinh tế và người lao động nói riêng làm cho nền kinh tế hoạt động thiếu sinh
khí và kém năng động. Về tình hình các doanh nghiệp có thể tóm tắt một vài nét
sau.
- Các doanh nghiệp quốc doanh bị mai một, thiếu tinh thần trách nhiệm,
thiếu tự chủ, hoàn toàn ỷ lại cấp trên và nhà nước. Vì các doanh nghiệp hoạt
động theo cơ chế: sản xuất , kinh doanh theo chỉ tiêu của nhà nước giao; được
nhà nước cung cấp các yếu tố đầu vào ( máy móc thiết bị, vốn, vật tư…) và bao
tiêu hàng hoá ở đầu ra cho doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp làm ăn có lãi thì
24
nộp cho nhà nước còn lỗ thì nhà nước chịu do đó các doanh nghiệp quốc doanh
hoạt động rất kém hiệu quả. Theo đánh giá sơ bộ các doanh nghiệp nhà nước thì
cho tới năm 1988 chỉ có 20.25% doanh nghiệp làm ăn có lãi, 30- 35% doanh
nghiệp hoà vốn, còn lại khoảng 40% doanh nghiệp bị lỗ vốn. Các doanh nghiệp
quốc doanh quản lý và sử dụng khoảng 70% tổng số vốn và giá trị vật tư của
toàn xã hội và 26,3% thu nhập quốc dân. Hơn nữa, tài sản và vốn nhà nước giao
cho các doanh nghiệp này không được bảo tồn, năng lực sản xuất không được
tấi tạo và mở rộng, trái lại, bị thất thoát, mất mát nhiều nhưng trách nhiệm này
không biết quy cho ai:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status