ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với ưu điểm của tính tiện dụng, bền và giá thấp, túi nylon hiện đang được sử
dụng rộng rãi. Tuy nhiên nhiều nghiên cứu gần đây trên thế giới đều cho thấy túi
nylon khó phân hủy, tồn tại lâu trong môi trường và do đó gây ra nhiều tác động
tiêu cực như làm xấu cảnh quan đô thị, tắc nghẽn cống rãnh, mất diện tích bãi chôn
lấp… Đến nay, vấn đề hạn chế sử dụng túi nylon đã bắt đầu được quan tâm ở Việt
Nam.
Nguyên nhân quan trọng của việc sử dụng quá mức cần thiết túi nylon là do
thói quen và nhận thức của người dân về việc sử dụng lãng phí túi nylon còn thấp,
do tính tiện lợi không thể thay thế của túi nylon và do túi nylon được phát miễn phí
khi mua hàng. Tuy nhiên, giai đoạn hiện nay, cấm sử dụng túi nylon là không khả
thi và sẽ gặp sự phản đối từ cộng đồng. Do đó, bước đầu quan trọng để giảm sử
dụng túi nylon là cần có sản phẩm thân thiện môi trường thay thế túi nilon truyền
thống, khi có sản phẩm thay thế người dân sẽ dần thay đổi nhận thức và hành vi tiêu
dùng, một số sản phẩm thay thế túi nilon như túi vải, túi giấy, túi nilon phân hủy
sinh học… Tuy nhiên, chất lượng của các loại túi này cũng cần được quan tâm sâu
sắc hơn…
Chính vì vậy, đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụng túi nylon phân hủy
sinh học và đề xuất các tiêu chí để đánh giá chất lượng của túi nilon phân hủy
sinh học” nhằm đưa ra cái nhìn tổng quan về tình hình sử dụng các sản phẩm túi
nilon thân thiện môi trường hiện nay từ đó có những giải pháp thiết thực, hiệu quả
nhằm giảm lượng túi nylon sử dụng, bảo vệ môi trường và sức khoẻ cộng đồng.
2. Tình hình nghiên cứu
Với mục đích giảm lượng túi nylon phát thải vào môi trường hiện nay trên
thị trường xuất hiện các loại túi thân thiện môi trường: túi vải, túi giấy, túi vải
không dệt, túi nylon phân hủy sinh học. Xét về tính kinh tế, phổ biến, khả năng tiện
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
− Thu thập các tài liệu về thành phần hóa học và tác hại bao nylon đối với môi
trường.
− Thống kê các giải pháp giảm thiểu tác hại túi nylon mà nước ta và một số
nước trên Thế giới đã áp dụng.
− Thu thập các tài liệu liên quan về giải pháp sử dụng vật liệu bao bì phân hủy
sinh học.
− Đánh giá hiện trạng sản xuất và nhu cầu sử dụng túi nilon phân hủy sinh học
trên điạ bàn Tp.HCM.
− Đánh giá chất lượng túi nilon phân hủy sinh học dựa trên các công trình
nghiên cứu từ đó đề xuất các tiêu chí để đánh giá chất lượng của túi nilon phân hủy
sinh học.
5. Phương pháp nghiên cứu
− Phương pháp thu thập tài liệu :
Thu thập các tài liệu liên quan, thông tin đại chúng như báo đài, internet, sách vở
tác giả thu thập những thông tin liên quan đến bao nylon; các phương pháp sản
xuất.
− Phương pháp tổng hợp, đánh giá, thống kê:
Tổng hợp, phân tích, đánh giá và thống kê các tài liệu liên quan đến nghiên cứu, sản
xuất, sử dụng túi nylon phân hủy sinh học.
6. Phạm vi nghiên cứu
− Bao bì có nguồn gốc plastic.
− Bao bì phân hủy sinh học.
− Bao bì thân thiện môi trường.
7. Ý nghĩa đề tài
− Ý nghĩa khoa học: Cung cấp thông tin quan trọng về chất lượng túi nylon tự
hủy trên thị trường, đề xuất các giải pháp, tiêu chí đánh giá chất lượng túi nylon
phân hủy sinh học.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
4
1.1.1 Thành phần
Túi nylon là một loại bao bì dẻo dùng chứa đựng, vận chuyển thức ăn, hoá
chất, nước… Trong bài luận văn này túi ni lông được đề cập đến là túi nylon mua
sắm hàng hoá với những thành phần chính là nhựa PE (còn gọi là túi xốp). PE là
chất dẻo thông dụng thường thấy trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. PE là
một loại nhựa dẻo thường dùng trong nghành công nghiệp hoá chất và sản xuất ra
các sản phẩm tiêu dùng. PE có cấu trúc đơn giản chỉ là một mạch Cacbon dài, với
hai nguyên tử Hidro và một nguyên tử Cacbon. Hình 1.1. Mô hình 3D của PE
Công thức cấu tạo của PE: ( CH
2
CH
2
)
n
Hay
1) Sản xuất: PE được tạo ra từ phản ứng trùng hợp C
2
H
2
, một loại khí nhẹ có
nguồn gốc từ dầu hoả, không tái tạo được. Nó còn được tạo ra từ phản ứng trùng
hợp gốc, trùng hợp cộng anion, phản ứng trùng hợp phối trí ion hay phản ứng trùng
hợp cộng anion.
2) Phân loại nhựa PE
PE được chia thành nhiều loại khác nhau dựa vào tỉ trọng và sự phân nhánh của
chúng. Sau đây là một số loại PE:
4
) trong dung môi heptan (C
7
H
16
).
Polymer (polythene) được hình thành ở dạng bột hay dạng hạt không tan trong dung
dịch phản ứng. Khi phản ứng trùng hợp kết thúc thêm nước hay acid để đốt cháy
xúc tác, cuối cùng là lọc, rửa và sấy khô polymer.
b) Sản xuất LDPE
Sản xuất LDPE bằng phản ứng trùng hợp cộng với xúc tác oxide kim loại đòi
hỏi:
− Nhiệt độ: 100 - 300
0
C
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
7
− Áp suất rất cao: 1500 - 3000 at
− Oxy hay peroxide hữu cơ (dibuty) peroxide, benzoyl peroxide hay diethyl
peroxide đóng vai trò khơi mào.
Chất khơi mào là chất được thêm vào một khối lượng nhỏ và phân huỷ dưới ánh
sáng hay nhiệt độ để sản sinh ra gốc tự do (R) gốc tự do được tạo thành khi liên kết
cộng hoá trị bị phá vỡ và electron liên kết rời khỏi các nguyên tử bị phá vỡ. Bởi vì
liên kết O-O rất yếu của gốc tự do dễ dàng được sinh ra từ oxy hay peroxide.
Benzene hoặc chloro benzene dùng như những dung môi vì cả polymer
(polythene) và monomer (othene) hoà tan trong những chất này ở nhiệt độ và áp
suất sử dụng, nước và những dung dịch khác có thể thêm vào để giảm nhiệt của
phản ứng trùng hợp toả nhiệt nhiều.
CH
2
)
n
Polymer là những phần tử có liên kết chặt chẽ nên những vi khuẩn hay vi
sinh vật khác khó có thể phân huỷ. Túi nilon lại có nguồn gốc từ polymer nên rất
bền, cần hàng năm mới phân huỷ vào môi trường. “Chúng hầu như không phân huỷ
khi chôn dưới đất trừ phi bị đốt hay có những phản ứng hoá học nào đó”. Theo ông
Norihisa Hirata chuyên gia về mảng phân loại rác tại nguồn của dự án 3R-HN.
1.1.2 Công nghệ sản xuất nylon
Hợp chất cao phân tử nylon tạo thành bởi hai phân tử khá lớn tương tác với
nhau với mức nhiệt vừa phải (từ 285°C hoặc 545°F) và áp suất trong bình phản ứng
hay nồi hấp. Một trong những phân tử ban đầu là diaminohexane-1,6 (còn được gọi
là hexamethylenediamine). Khi chúng kết hợp với nhau, chúng tạo thành một phân
tử lớn hơn; việc loại bỏ nước trong phản ứng hóa học được biết đến như sự trùng
hợp ngưng tụ (ngưng tụ vì nước đã bị loại bỏ, trùng hợp do một phân tử lớn hơn và
liên tục được tạo ra). Hợp chất cao phân tử được hình thành trong phản ứng hóa học
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
8
này là loại nylon phổ biến nhất - nylon 6,6 vì mỗi phân tử này có chứa 6 nguyên tử
Cacbon; những loại nylon khác được tạo thành bởi những phân tử ban đầu khác
nhau. Thông thường phản ứng hóa học này tạo ra một dải hoặc mảng lớn nylon, sau
đó chúng sẽ bị cắt thành các miếng nhỏ. Những miếng nhỏ này chính là những vật
liệu thô dùng để sản xuất các sản phẩm nhựa dùng trong đời sống hằng ngày
1.1.3 Phân loại, đặc tính
Các loại túi nylon hiện nay dùng trong mua sắm hàng hoá là túi HDPE và LDPE.
− HDPE: túi polyethylene tỷ trọng cao hay còn gọi túi xốp mỏng, không dán
nhãn, thường dùng trong các siêu thị, cửa hàng thức ăn nhanh và đại lý sản xuất.
− LDPE: là những túi dày hơn, có dán nhãn dùng trong cửa hàng bán những
sản phẩm chất lượng cao.
Túi LDPE Túi HDPE
Ít dẻo hơn LDPE vì có độ kết
tinh cao hơn.
Độ bền
Không bền bằng HDPE do sự
sắp xếp không đều trong mạch
polymer
Bền do sự sắp xếp đều đặn
Tính chịu nhiệt
Duy trì được tính dẻo trong
phạm vi nhiệt đọ rộng lớn,
nhưng tỉ trọng giảm đột ngột ở
nhiệt độ phòng.
Được dùng trên 100
0
C.
Tính trong suốt
Trong suốt hơn vì nó vô định
hình hơn.
Đục hơn LDPE vì nó có tính
kết tinh cao hơn.
Tỉ trọng
0,91 – 0,94 g/cm
3
0,95 - 0,97 g/cm
3
Các tính chất hoá
học
Trơ về phương diện hoá học,
Song, từ những năm cuối thế kỷ 20 cho đến nay, sự lạm dụng nylon trong đời sống
và sinh hoạt đã tạo nên một thảm họa mới cho con người, bởi chính những thuộc
tính của nylon, giá thành rẻ, không thấm nước và bền vững. Nylon đã trở thành con
dao hai lưỡi, sự lạm dụng nylon đã gây ra một thảm họa môi trường trong đời sống
hiện nay và trong tương lai lâu dài. "Ô nhiễm trắng" - đó là cái tên mà nhân loại đã
đặt cho thảm họa nylon trong sự phát triển hiện đại ngày nay, một thảm họa chính
con người đang tự gây nên cho chính bản thân mình và đồng loại từng ngày, từng
giờ. Chiếc túi nylon tuy nhỏ bé nhưng lại có tác hại khôn lường.
1.2.1 Đối với môi trường đất
Túi nilon là loại chất khó phân hủy, khi thải ra môi trường phải mất từ hàng
chục năm cho tới một vài thế kỷ mới được phân hủy hoàn toàn trong tự nhiên. Sự
phân huỷ không hoàn toàn của túi nilon sẽ để lại trong đất những mảnh vụn, không
có điều kiện cho vi sinh vật phát triển sẽ làm cho đất chóng bạc màu, không tơi xốp.
Sự tồn tại của nó trong môi trường sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới đất bởi túi
nilon lẫn vào đất sẽ ngăn cản ôxy đi qua đất, gây xói mòn đất, làm cho đất không
giữ được nước, chất dinh dưỡng. (Nguồn: TCMT tổng hợp, 2011). Ngoài ra, trong
điều kiện
nóng ẩm túi nylon trên mặt đất là nơi cư ngụ lý tưởng cho các sinh vật,
côn trùng mang bệnh phát triển, gây ô nhiễm rất lớn cho môi trường sinh thái. Ở
những vùng đồi núi, túi nylon làm giảm số lượng thực vật, do đó giảm sự liên kết
đất, có thể gây trượt đất.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
11
Hình 1.3. Túi nylon bị chôn dưới đất
1.2.2 Đối với môi trường nước
Trong quá trình sản xuất túi nylon tạo ra chất thải lây lan vào môi trường
nước, gây ô nhiễm. Điển hình sản xuất ra 2 túi nylon tạo ra 0,1 g chất thải lây lan
theo môi trường nước, có khả năng phá vỡ hệ sinh thái ở môi trường đó (Phan Thị
Anh Thư, 2009).
1.2.3.1 Mưa axit
Túi nylon có nguồn gốc từ dầu mỏ, trong thành phần các chất đốt tự nhiên
như than đá và dầu mỏ có một khối lượng lớn lưu huỳnh, còn trong không khí thì
chứa nhiều Nitơ. Quá trình đốt sản sinh ra các chất độc hại như: lưu huỳnh đioxit
(SO
2
), Nitơ đioxit (NO
2
). Các khí này hoà tan với nước trong không khí tạo thành
acid sunfurique (H
2
SO
4
), và acid nitric (HNO
3
). Khi trời mưa, các hạt acid này tan
lẫn vào nước mưa, làm độ pH của nước mưa giảm. Nếu nước mưa có độ pH dưới
5,6 được gọi là mưa acid. Do có độ chua khá lớn, nên mưa có khả năng hoà tan một
số bụi kim loại và oxit kim loại có trong không khí như oxit chì…, làm cho nước
mưa trở nên độc hơn với cây cối, vật nuôi và con người. Mưa acid được nhận định
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
13
như mối đe doạ nguy hiểm với môi trường tự nhiên và nhân tạo, cụ thể trong những
khu vực mà phương diện lịch sử dựa vào than đá, như Tây Âu.
1.2.3.2 Hiện tượng sương khói
Sương khói là một vấn đề nghiêm trọng liên quan đến sức khoẻ con người.
Sau khi sản xuất túi nylon được chuyển đến khắp nơi trên thế giới, chẳng hạn như
nước Úc xuất khẩu 4 tỷ túi hàng năm (số liệu của cục thông kê Úc, 2004). Các con
tàu chuyên chở để chuyển các túi này đến mỗi quốc gia tiêu thụ thường phải sử
dụng nhiều nhiên liệu và các nhiên liệu này sinh ra các chất gây ô nhiễm môi trường
trùng vết thương hay khiến loài bị ngạt thở. Tác hại này thường gặp ở động vật
biển.
− Sự ăn vào bụng: Ngăn cản sự tiêu hoá thức ăn hay gây tắc ruột. Chính sự tắc
ruột này có thể gây những tổn thương nghiêm trọng và khiến loài bị chết.
1.3.1 Động vật trên cạn
Trên đất liền túi nylon không là vấn đề nghiêm trọng đối với động vật, vì chỉ
liên quan đến cái chết của một số loài gia súc, chủ yếu là chúng nhầm lẫn túi nylon
là thức ăn, nên khi ăn vào dẫn đến chúng bị ngẹt thở hay bị tắc đường tiêu hoá
(Edwards, 2000; Irin,2005a; Irin,2005b; Planet ark,2005; Ryan and rice,1996).
Theo tờ báo Ấn Độ - Mumbai central, người ta nuôi bò thả rong trên các
đường phố, chúng ăn các thứ rác xả ngoài đường, ăn cả túi nilon và bị đầy bụng
phải đưa đến viện thú y,(Edwards, 2000; world watch, 2004). ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
15
Hình 1.7. Các loài động vật ăn nhầm túi nylon
Hình 1.8. Một con khỉ chơi đùa với chiếc túi nilon ở New Delhi, Ấn Độ
Nhiều vườn thú ở Châu Âu, người ta còn cấm người đi xem không được vứt
thức ăn đựng trong các túi nilon cho các thú vật ăn. Vì có nhiều trường hợp thú vật
ăn cả túi nylon, không tiêu, phải đưa đi khám thú y.
Vào năm 1998, con bồ nông tìm thấy bị chết ở Kiama sau khi ăn xong 17 túi
nylon. Con bồ nông tưởng nhầm túi nylon là thức ăn, xác nó được bảo tồn và đặt tên
là Pete. Kể từ đó, nó đứng trước điểm Fitrzoy Falls để cảnh báo cho khách tham
quan nó chết như thế nào và các vấn đề do túi nylon gây ra.
1.3.2 Động vật dưới nước
Túi nylon có thể là thảm họa cho đời sống của nhiều sinh vật. Theo Quỹ Bảo
tồn động vật hoang dã thế giới, nhiều cá thể thuộc khoảng 200 loài sinh vật biển
biên và tủy sống; chất BBP (một chất phthalate) có thể gây một số dị tật bẩm sinh
nếu thường xuyên tiếp xúc với nó. Những loại túi nylon tái chế có thể chứa DOP
(dioctin phatalat) cực độc, ảnh hưởng đến cơ quan sinh dục nam. Trẻ em nhiễm chất
này lâu dài có thể thay đổi giới tính: các bé trai có thể bị nữ tính hóa, vô sinh nam;
còn bé gái có nguy cơ dậy thì rất sớm. Các loại nylon màu nếu sử dụng để đựng
thực phẩm tươi sống, đồ ăn chín có thể khiến thực phẩm nhiễm chì, clohydric gây
tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thư phổi. Đặc biệt nếu sử dụng để đựng
thực phẩm chua có tính axit như dưa muối, cà muối hoặc thực phẩm nóng, các chất
hóa dẻo trong túi nylon sẽ tách khỏi thành phần nhựa lớn gây độc cho thực phẩm.
Khi ngấm vào dưa chua, axit axetic hoặc axit lactic ở trong dưa cà sẽ hòa tan một
số kim loại thành muối thủy ngân có thể gây ngộ độc và ung thư. Túi nylon có khả
năng đưa các thành phần hoá chất và chất độc vào đất và nguồn nước, đến con
người, gây nhiều nguy hiểm đến sức khoẻ như các vấn đề thần kinh , các bệnh ung
thư (Butte Environmental counsil, 2001; Lane, 2003; The Asian News, 2005; Irin,
2005a).
Quá trình sản xuất túi nylon liên quan đến việc sử dụng dầu mỏ, than đá, khí
tự nhiên, dẫn đến phát sinh ra nhiều khí độc, gây ảnh hưởng không tốt cho những
công nhân dầu mỏ.
Khi cống rãnh nghẹt, túi nylon cũng gây tù đọng nước, sinh ra nhiều muỗi và
ký sinh trùng có khả năng lan truyền nhiều loại bệnh như viêm não, sốt xuất huyết,
đáng lưu ý nhất là bệnh sốt rét (Edu Green, 2005; Environmental Literacy Counsil,
2005; Irin, 2005a; Irin, 2005b; U.S; Environmental Protection Agency, 2005).
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
18
1.4.2 Kinh tế xã hội
Sự mất mát phương tiện cũng là một dạng tác động xã hội chính có liên quan
đến việc sử dụng túi nylon, hai ví dụ điển hình là gây thiệt hại về vật nuôi và đến
khách du lịch.
a) Gây thiệt hại về vật nuôi
Khi gia súc ăn phải túi nylon, chúng bị chết, gây thiệt hại cho người nông
xả bừa bãi trên các bãi biển, đường phố hay công viên.
1.4.4 Tác động của hoạt động tái chế túi nilon
Lượng rác thải túi nilon quá lớn thì việc thu gom tái chế túi nilon đáng lý
phải khả thi, nhưng ở các cơ sở tái chế, công nghệ vừa lạc hậu, việc xử lý túi nilon
lại không tốt nên sản phẩm tạo ra không đạt chất lượng mà cơ sở còn gây ô nhiễm
môi trường. Nhiều túi nilon sau khi được tái chế lại có mùi rất khó chịu, màu sắc
mẫu mã không đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn, nếu dùng đựng thực phẩm thì rất gây
hại. Tại các bãi rác là nơi người dân sống bằng nghề phơi và tái chế túi nilon. Hoạt
động này diễn ra cả ngày lẫn đêm, bốc mùi hôi thối, gây mất vệ sinh và ảnh hưởng
đến người dân xung quanh.
Hình 1.11. Thu gom tái chế túi nilon
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
20
CHƯƠNG 2 CÁC GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU TÁC HẠI TỪ
TÚI NILON
2.1 Các giải pháp công nghệ
2.1.1 Tái chế
2.1.1.1 Phân loại nhựa có khả năng tái chế
Hầu hết các nhà sản xuất các sản phẩm bao bì nhựa hiện nay đều kí hiệu sản phẩm
của họ theo thứ tự từ 1 đến 7 đặc trưng cho hầu hết các loại nhựa sản xuất để tạo
điều kiện thuận lợi cho phân loại và tái chế.
Bảng 2.1. Phân loại, ký hiệu và nguồn sử dụng nhựa
STT
Số 1: Là loại nhựa polyethylene terephtalate, hay còn được gọi là PETE hoặc PET.
Hầu hết các chai soda và chai nước khoáng đều thuộc loại đồ nhựa số 1. Loại
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
21
nhựa này nói chung là an toàn, tuy nhiên, với bề mặt xốp có thể cho phép vi khuẩn
và mùi vị tích tụ lại, do đó, nó chỉ được xem là loại đồ nhựa chỉ sử dụng một lần và
rất dễ dàng để tái chế.
Hình 2.2. Nhựa HDPE
Số 2: Đây là loại nhựa có tỷ trọng polyethylene cao, hay còn được gọi là HDPE.
Hầu hết các bình sữa cho trẻ em, chai đựng sữa, nước trái cây, hoặc chứa các loại
nước tẩy rửa đều là loại nhựa số 2. Tuy có màu đục nhưng loại nhựa này được
xem là an toàn, khả năng tích tụ vi khuẩn thấp, có thể tái chế được.
Hình 2.3. Nhựa PVC
Số 3: Đây là loại nhựa được làm từ polyvinyl clorua, hoặc PVC. Các loại giấy gói
thực phẩm, chai đựng dầu ăn, đường ống dẫn nước là nhựa PVC.
Trong thành phần của nhựa PVC có chứa phthalates - một trong những hợp chất hóa
học gây cản trở sự phát triển của hormone, do đó, nó được xem là không an toàn khi
tiếp xúc với nhiệt độ cao. Nhựa PVC hiếm khi được chấp nhận trong các chương
trình tái chế.
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
22
Hình 2.4. Nhựa LDPE
Số 4: Đây là loại nhựa có chứa polyethylene mật độ thấp (LDPE). Nó thường được
sử dụng để làm các loại túi nhựa đựng hàng tạp hóa, giấy gói thực phẩm Và có
khả năng tái chế được.
cần phải được kiểm soát cẩn thận. Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng có liên quan tới
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
24
việc xuất khẩu chất thải nhựa từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển.
Việc phân tích các thông tin hiện tại về các tác động bất lợi đối với sức khoẻ nghề
nghiệp của con người tiếp xúc trong môi trường tái chế nhựa còn chưa đầy đủ, dữ
liệu về tác động của các chất phụ gia trong nhựa đối với môi trường còn hạn chế.
b) Tái chế bằng phương pháp hóa học
Các chất polime không ổn định trong môi trường nhiệt động học khi nhiệt độ
gia tăng sẽ bị biến chất, vì vậy có thể sử dụng các quy trình ép nhựa làm giảm trọng
lượng phân tử. Phương pháp này sẽ là bước xử lý trước khi tiến hành xử lý hóa học.
Xử lý hóa học chỉ có ý nghĩa khi các sản phẩm thu được không chỉ sử dụng làm
nhiên liệu mà còn làm vật liệu thô để sản xuất nhựa tổng hợp mới.
c) Tái chế bằng phương pháp nhiệt
Chất thải nhựa là các polime liên kết ngang có thể được sử dụng làm
phin lọc hoặc để chuyển đổi thành các sản phẩm có trọng lượng phân tử thấp.
Có thể tái chế polyurethane (nhựa tổng hợp dùng chế tạo sơn), mặc dù có
những hạn chế nhất định. Chất thải là đế giày bằng polyurethane có thể được sử
dụng để sản xuất ra đế giày mới.
d) Tạo Polime sinh học và nhựa phân hủy sinh học dưới tác dụng của ánh sáng:
Việc tạo ra khả năng phân hủy của polime tổng hợp nghĩa là triệt tiêu độ bền
của vật liệu này. Tuy nhiên, việc làm giảm chất lượng sản phẩm polime có thể gây
ra nhiều vấn đề tiếp sau đó. Phân hủy bề mặt vật liệu là phương pháp tái chế không
làm vật liệu tự tiêu hủy mà chỉ làm khối lượng chúng nhỏ hơn bằng phương pháp
vật lý hay hóa học.
e) Sử dụng nhựa thải làm chất hoàn nguyên
Chất thải nhựa sau một số công đoạn phục hồi có thể sử dụng làm chất hoàn
nguyên trong các lò cao thay cho sử dụng dầu nặng. Để sử dụng vào mục đích này,
chất thải nhựa phải được xử lý và nghiền nhỏ. Quy trình xử lý này sẽ là một phương
pháp hiệu quả khi chất thải nhựa hỗn hợp không thể sử dụng phương pháp tái chế
trong bể nước, sau đó được đưa vào các máy xay cắt tạo hạt.