Bài tập lao động nhóm tháng 2 Đề số 04
Đề số 04:
Công ty X có trụ sở chính tại thành phố HCM và nhiều chi nhánh tại các tỉnh thành.
Tháng 01/2005 Trần H được giám đốc công ty tuyển vào làm việc tại chi nhánh Hà Tây
theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn với công việc kế toán trưởng chi nhánh.
Tháng 3/2008 khi thanh tra tài chính chi nhánh phát hiện có dấu hiệu vi phạm, giám đốc
công ty yêu cầu tạm đình chỉ công việc đối với H. Kết luận cho thấy, H có nhiều sai sót
trong quản lý, nghiêm trọng nhất là dẫn đến việc kế toán viên C tham ô 150 triệu đồng. Sau
3 lần triệu tập C không đến dự phiên họp kỷ luật, ngày 3/5/2008 giám đốc chi nhánh công
ty tổ chức phiên họp. H có mặt nhưng yêu cầu phải có sự tham gia của công đoàn (công ty
X có thành lập tổ chức công đoàn) nhưng vì chi nhánh chưa thành lập công đoàn nên giám
đốc chi nhánh cho rằng không cần có sự tham gia của công đoàn.Kết luận phiên họp giám
đốc chi nhánh ra quyết định sa thải H,C và yêu cầu H,C bồi thường số tiền tham ô.H không
đồng ý với quyết định sa thải và đệ đơn yêu cầu toà án giải quyết tranh chấp. Cũng trong
thời gian này công ti tuyên bố sáp nhập 3 chi nhánh Hà Nội, Hà tây và Hải Phòng thành
một chi nhánh tại Hà Nội vì lý do sáp nhập địa giới hành chính và chi nhánh Hải Phòng
kinh doanh không hiệu quả.Công ti quyết định sử dụng 80% nhân viên chi nhánh Hà Nội,
30% nhân viên chi nhánh Hải Phòng và không sử dụng nhân viên nào của chi nhánh Hà
Tây vì những bê bối tài chính ở đây.Cho rằng công ti không giải quyết công bằng và thoả
đáng, toàn bộ nhân viên chi nhánh Hà Tây không đồng ý, cử đại diện làm đơn khiếu nại
yêu cầu giám đốc công ti xem xét lại quyết định. Được biết trong số nhân viên của chi
nhánh Hà Tây có 2 người mang thai, 1 người ốm đau đang điều trị tại viện.Hỏi:
1.Việc sa thải H và C có hợp pháp không?, vì sao?(2đ)
2.Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của H và C?(2đ)
3. Nếu muốn yêu cầu toà án giải quyết H phải gửi đơn đến đâu?Toà án sẽ giải quyết
như thế nào với vụ việc này??(2đ)
4.Nhận xét về quyết định sử dụng lao động của công ty trong trường hợp sáp nhập?
Tư vấn cho công ti phải làm những thủ tục gì để chấm dứt hợp pháp và giải quyết quyền lợi
cho những người lao động bị chấm dứt?(3đ)
5. Nếu công ty không giải quyết yêu cầu khiếu nại, tập thể nhân viên chi nhánh Hà
Tây có thể sử dụng các cơ chế nào để bảo vệ quyền lợi của mình? (1 điểm).
cách chức mà tái phạm;
c) Người lao động tự ý bỏ việc năm ngày cộng dồn trong một tháng hoặc 20
ngày trong một năm mà không có lý do chính đáng.
Nhóm 1A2 – HC32A Khoa Hành chính – Nhà nước
2
Bài tập lao động nhóm tháng 2 Đề số 04
Đây là những căn cứ sa thải được quy định trong BLLĐ, NSDLĐ chỉ được áp
dụng hình thức sa thải trong các trường hợp nêu trên. Ngoài 3 căn cứ nêu trên, không
được áp dụng bất cứ một căn cứ nào khác cho việc sa thải.
* Đối với H:
Tháng 3/2008 khi thanh tra tài chính phát hiện có dấu hiệu vi phạm, giám đốc
công ty yêu cầu tạm đình chỉ công việc đối với H. Kết luận cho thấy, H có nhiều sai
sót trong quản lý, nghiêm trọng nhất là dẫn đến việc kế toán viên C tham ô 150 triệu
đồng. Đây là hành vi sai sót trong quản lý gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản, lợi
ích của doanh nghiệp quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 85 Bộ Luật lao Động . Vì
vậy việc sa thải H là có căn cứ pháp luật.
* Đối với C:
C có hành vi tham ô của Công ty 150 triệu đồng là hành vi vi phạm rất nghiêm
trọng đến kỷ luật lao động, nội quy của Công ty. Đây là sự vi phạm nghiêm trọng đối
với nghĩa vụ lao động mà đáng ra C phải thực hiện tốt. Hành vi này đáng bị xử lý kỷ
luật nghiêm khắc nhất. Và theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 85 BLLĐ thì hành
vi tham ô tài sản của doanh nghiệp là căn cứ để NSDLĐ áp dụng hình thức kỷ luật sa
thải.Vì vậy, việc sa thải C là có căn cứ pháp luật.
b.Về thủ tục tiến hành sa thải:
- Công ty X vi phạm về thủ tục tiến hành sa thải
Khoản 3 Điều 87 BLLĐ quy định : “Khi xem xét xử lý kỷ luật lao động phải có mặt
đương sự và phải có sự tham gia của đại diện BCH công đoàn cơ sở trong doanh
nghiệp”.
Điểm a khoản 1 Điều 11 Nghị định số 41/ NĐ - CP ngày 6/7/1995 quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của của BLLĐ về kỷ luật lao động và
Khác với việc xử kỷ luật cũng như việc bồi thường thiệt hại về vật chất chỉ
phát sinh khi hành vi vi phạm kỉ luật lao động của NLĐ làm thiệt hại đến tài sản của
NSDLĐ và tài sản bị thiệt hại phải thuộc quyền quản lý, sử dụng, bảo quản, lưu giữ
hoặc chế biến của NLĐ. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều
89 BLLĐ năm 1994 sửa đổi, bổ sung năm 2002, 2006, 2007 (BLLĐ)
Để xác định trách nhiệm bồi thường vật chất của NLĐ thì NSDLĐ phải căn cứ
vào 4 căn cứ sau:
Nhóm 1A2 – HC32A Khoa Hành chính – Nhà nước
4
Bài tập lao động nhóm tháng 2 Đề số 04
- Hành vi vi phạm kỷ luật lao động
- Có thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ
- Thiệt hại gồm có thiệt hại trực tiếp và thiệt hại gián tiếp
+ Thiệt hại trực tiếp: là thiệt hại do chính hành vi vi phạm kỷ luật lao động của
NLĐ gây ra sự giảm sút về giá trị hoặc mất mát tài sản của NSDLĐ
+ Thiệt hại gián tiếp: là thiệt hại phát sinh (kéo theo) như phần lợi nhuận bị bỏ
lỡ, phần thu nhập bị mất, bị giảm sút mà lẽ ra đơn vị có thể có được.
- Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm kỷ luật lao động và thiệt hại
tài sản
- Có lỗi của người vi phạm
a. Đối với H
- Hành vi vi phạm kỷ luật lao động của H: H đã có hành vi vi phạm nội quy
lao động của công ty về quản lý tài chính của công ty.
- Gây ra thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ: đó là gây thiệt hại cho công ty là 150
triệu đồng.
- Tính chất lỗi: lỗi của H ở đây là lỗi vô ý dẫn đến việc C thực hiện hành vi
tham ô tài sản của công ty. Vô ý gây thiệt hại 150 triệu cho công ty.
- Tuy nhiên, khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt
hại về tài sản: thiệt hại về tài sản cho NSDLĐ là 150 triệu, thiệt hại này không phải
là hậu quả tất yếu của hành vi vi phạm của H, giữa hành vi vi phạm và thiệt hại xảy
+ Theo Điều 91 BLLĐ thì trình tự thủ tục xử lý bồi thường thiệt hại được áp
dụng như qui định tại Điều 86, 87 của Bộ luật này. Thời hiệu xử lý vi phạm kỷ luật
lao động tối đa là 6 tháng kể từ ngày xảy ra hoặc phát hiện có vi phạm (Điều 86
BLLĐ, khoản 1 Điều 8 Nghị định 33/2003/NĐ-CP).
+ Khi tiến hành việc xử lý vi phạm kỷ luật lao động công ty X phải chứng
minh được lỗi của C, C có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư, bào chữa viên nhân
dân hoặc người khác bào chữa. Khi xem xét xử lý kỷ luật lao động phải có mặt C và
phải có sự tham gia của đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở trong công ty. Việc
xem xét xử lý kỷ luật lao động phải được ghi thành văn bản (Điều 87 BLLĐ).
3. Nếu muốn yêu cầu tòa án giải quyết, H phải gửi đơn đến đâu? Tòa án
sẽ giải quyết như thế nào với vụ việc này?
Nhóm 1A2 – HC32A Khoa Hành chính – Nhà nước
6
Bài tập lao động nhóm tháng 2 Đề số 04
* Nếu muốn yêu cầu Tòa án giải quyết, H phải gửi đơn đến đâu?
Theo điểm c khoản 1 Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 quy định: “Tòa án
nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Tòa án
nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm tranh
chấp: “tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật này”
Theo khoản 1 Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự 2005 quy định:
“Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao
động mà Hội đồng hòa giải lao động cơ sở, hòa giải viên lao động của cơ quan quản
lý nhà nước về lao động quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hòa giải không
thành hoặc không giải quyết trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp
sau đây không nhất thiết phải qua hòa giải tại cơ sở:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động; về
trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
đ) Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức chấm dứt hoạt động.”
Do đó, việc người sử dụng lao động sa thải người lao động trong trường hợp
quy định tại điều 85 Bộ luật lao động là đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Theo những phân tích trên, người sử dụng lao động sa thải trái pháp luật vì
theo Khoản 3 Điều 87 Bộ luật lao động có quy định: “Khi xem xét xử lý kỷ luật lao
động phải có mặt đương sự và phải có sự tham gia của đại diện Ban Chấp hành công
đoàn cơ sở trong doanh nghiệp”
Trường hợp này, chi nhánh Hà Tây trong phiên họp kỷ luật ông H cho rằng
không cần có sự tham gia của Công đoàn là trái pháp luật.
Do đó chúng ta căn cứ vào khoản 1 Điều 41 Bộ luật lao động quy định
trường hợp người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng trái pháp luật:
“ Trong trường hợp người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao
động trái pháp luật thì phải nhận người lao động trở lại làm công việc theo hợp đồng
đã ký và phải bồi thường một khoản tiền tương ứng với tiền lương và phụ cấp lương
Nhóm 1A2 – HC32A Khoa Hành chính – Nhà nước
8
Bài tập lao động nhóm tháng 2 Đề số 04
(nếu có) trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất hai
tháng tiền lương và phụ cấp lương (nếu có)”
Tòa án giải quyết như sau:
- Tòa án ra quyết định hủy quyết định sa thải của chi nhánh Hà Tây đối với H
vì việc sa thải không đúng thủ tục.
- Chi nhánh Hà Tây phải nhận H trở lại làm việc do sa thải không đúng quy
định pháp luật. Bên cạnh đó chi nhánh Hà Tây phải bồi thường khoản tiền tương
ứng với tiền lương và phụ cấp lương(nếu có) trong những ngày H không được làm
việc cộng với ít nhất hai tháng tiền lương và phụ cấp lương.
Tuy nhiên, vì việc sa thải H là có căn cứ pháp luật nên công ty X muốn áp
dụng hình thức sa thải H thì phải thực hiện đúng các quy định pháp luật về
hình thức sa thải.
4. Nhận xét về quyết định sử dụng lao động của công ty X trong trường
làm cho số nhân viên này. Với trường hợp này, vì số nhân viên thôi việc là nhiều thì
công ty X phải công bố danh sách, căn cứ vào nhu cầu của công ty và thâm niên làm
việc tại công ty, tay nghề, hoàn cảnh gia đình và những yếu tố khác của từng người
để lần lượt cho thôi việc, sau khi đã trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành Công đoàn
cơ sở trong công ty. Việc cho thôi việc chỉ được tiến hành sau khi đã báo cho Cơ
quan quản lí nhà nước về lao động địa phương biết vì vậy việc công ty X không sử
dụng toàn bộ số nhân viên trên bao gồm những nhân viên theo quy định tại điều 17
bộ luật lao động là không đúng quy định pháp luật
Mặt khác, riêng đối với 2 người mang thai, 1 người ốm đau đang điểu trị tại
viện là nhân viên của chi nhánh Hà Tây :
Điều 39 Bộ luật Lao động đã sửa đổi bổ sung quy định: “ Người sử dụng lao
động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp
sau:
1. Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang
điều trị, điều dưỡng theo quyết định của thầy thuốc, trừ trường hợp quy định tại điểm
c và điểm d khoản 1 Điều 38 của Bộ luật này;
Nhóm 1A2 – HC32A Khoa Hành chính – Nhà nước
10
Bài tập lao động nhóm tháng 2 Đề số 04
2. Người lao động đang nghỉ hàng năm, nghỉ về việc riêng và những trường
hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động cho phép;
3. Người lao động là nữ trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 111
của Bộ luật này”.
* Đối với người ốm đau đang điểu trị tại viện là nhân viên của chi nhánh Hà
Tây
Trong trường hợp này công ty X không được đơn phương chấm dứt hợp đồng
lao động với nhân viên là người ốm đau đang điều trị tại viện trên trừ trường hợp quy
định tại điểm c khoản 1 Điều 38 của Bộ luật lao động:
Điểm c khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động quy định:
“ Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm
điều 17 Bộ luật lao động.
Mặt khác, vì số nhân viên công ty X muốn chấm dứt hợp pháp là nhiều người
nên công ty X phải tuân thủ quy định tại Khoản 2 Điều 17 Bộ luật Lao động.
Khoản 2 Điều 17 Bộ luật Lao động quy định: “ Khi cần cho nhiều người thôi
việc theo khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải công bố danh sách, căn cứ
vào nhu cầu của doanh nghiệp và thâm niên làm việc tại doanh nghiệp, tay nghề,
hoàn cảnh gia đình và những yếu tố khác của từng người để lần lượt cho thôi việc,
sau khi đã trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành Công đoàn cơ sở trong doanh nghiệp
theo thủ tục quy định tại khoản 2 Điều 38 của Bộ luật này. Việc cho thôi việc chỉ
được tiến hành sau khi đã báo cho Cơ quan quản lí nhà nước về lao động địa phương
biết.”.
Khoản 2 Điều 38 Bộ luật Lao động : “ trước khi đơn phương chấm dứt hợp
đồng lao động theo các điểm a, b, c khoản 1 Điều này, người sử dụng lao động phải
trao đổi, nhất trí với Ban chấp hành công đoàn cơ sở. Trong trường hợp không nhất
trí, hai bên phải báo cáo với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Sau 30 ngày, kể từ
ngày báo cho cơ quan quản lí nhà nước về lao động địa phương biết, người sử dụng
lao động mới có quyền quyết định và phải chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Trường hợp không nhất trí với quyết định của người sử dụng lao động, Ban chấp
hành công đoàn cơ sở và người lao động có quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp lao
động theo trình tự do pháp luật quy định”.
Nhóm 1A2 – HC32A Khoa Hành chính – Nhà nước
12
Bài tập lao động nhóm tháng 2 Đề số 04
Điểm c khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động là trường hợp quy định cho đối
tượng là:
“ Người lao động làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn ốm
đau đã điều trong 12 tháng liền , người lao động làm theo hợp đồng lao động xác
định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng ốm đau đã điều trị sáu tháng liền và người
lao động làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định
có thời hạn dưới 12 tháng ốm đau đã điều trị quá nửa thời hạn hợp đồng lao động,
pháp luật.
Theo Điều 157 BLLĐ “ Tranh chấp lao động tập thể về quyền là tranh chấp về
việc thực hiện các qui định của pháp luật lao động, thoả ước lao động tập thể, nội
quy lao động đã được đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các qui
chế, thoả thuận hợp pháp khác ở doanh nghiệp mà tập thể lao động cho rằng NSDLĐ
vi phạm”.
Pháp luật lao động hiện hành qui định có bốn cơ chế để giải quyết tranh chấp
lao động là: Thương lượng, hoà giải, trọng tài, toà án. Nhưng tuỳ từng loại tranh
chấp lao động mà ta có thể áp dụng các cơ chế giải quyết khác nhau.
Vì trong tình huống này là tranh chấp lao động tập thể về quyền và Theo khoản 4
Điều 164 BLLĐ thì cơ chế giải quyết tại trọng tài không được áp dụng cho việc giải
quyết tranh chấp lao động tập thể về quyền nên nếu công ty không giải quyết yêu cầu
khiếu nại của tập thể NLĐ thì tập thể nhân viên chi nhánh Hà Tây có thể sử dụng các
cơ chế để bảo vệ quyền lợi của mình như thương lượng, hoà giải, ra toà án.
Xét trong trường hợp trên, tập thể NLĐ đã khiếu nại nhưng công ty không giải quyết
cũng có nghĩa là công ty đã từ chối thương lượng và theo Điều 159 BLLĐ thì NLĐ
có thể giải quyết tranh chấp này tại cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp lao động.
Hoà giải là phương thức giải quyết tranh chấp lao động được tiến hành trên cơ
sở sự bàn bạc, thoả thuận giữa NSDLĐ và tập thể người lao động có sự tham gia của
người thứ 3 khi các bên không tự thương lượng được với nhau, nhằm tìm ra hướng
giải quyết tốt nhất cho những mâu thuẫn trong quan hệ lao động. Thoả thuận đạt
được trong hoà giải không có tính chất bắt buộc thi hành như phán quyết của toà án.
Việc sử dụng phương thức hoà giải trong quá trình giải quyết tranh chấp lao động chỉ
có tác dụng dàn hoà mâu thuẫn mà không có tác dụng răn đe đối với các bên khi có
Nhóm 1A2 – HC32A Khoa Hành chính – Nhà nước
14
Bài tập lao động nhóm tháng 2 Đề số 04
sự vi phạm pháp luật lao động do không có biện pháp chế tài. Mà trong trường hợp
này công ty đã không giải quyết khiếu nại thì việc hoà giải tại cơ sở cũng sẽ khó có
thể đạt được hiệu quả.