MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hai mươi năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu
to lớn, có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi bộ mặt của đất nước, cải thiện đáng kể
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Thành tựu lớn nhất là đất nước ta
đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; kinh tế tăng trưởng khá cao; nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được thiết lập; công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được đẩy mạnh. Quan hệ quốc tế được mở
rộng, vị thế nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao. Sức mạnh
tổng hợp từ nguồn nội lực của đất nước tăng lên nhiều, tình hình chính trị, xã
hội ổn định, được nhân dân và bạn bè quốc tế khâm phục, đánh giá cao.
Trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm, chúng ta đã đạt được
những kết quả quan trọng, từng bước nâng cao nhận thức của toàn xã hội về
trách nhiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm, tạo lập cơ chế đồng bộ, phát
huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân
tham gia phòng, chống tội phạm; từng bước kiềm chế sự gia tăng của các loại
tội phạm, làm giảm một số loại tội phạm nghiêm trọng, giữ vững an ninh
chính trị và trật tự an toàn xã hội, góp phần quan trọng vào công cuộc phát
triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi cơ chế, bên cạnh những mặt
tích cực, nền kinh tế thị trường cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực,
trong đó có nhiều vấn đề mới phát sinh có liên quan đến công tác phòng ngừa,
đấu tranh chống tội phạm và tệ nạn xã hội. Tình hình tội phạm còn diễn biến
phức tạp trên tất cả các lĩnh vực, trong đó tình hình tội không tố giác tội phạm
đang là vấn đề bức xúc của toàn xã hội. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho
thấy, trong không ít vụ án, một số công dân không làm tròn nghĩa vụ đấu tranh
phòng, chống tội phạm, không tố giác tội phạm, cho nên các cơ quan bảo vệ
1
pháp luật phải tốn rất nhiều công sức để điều tra, khám phá vụ án. Việc một
số công dân không thực hiện quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm
tội, có nghĩa là họ không tham gia đấu tranh chống tội phạm nhằm bảo vệ lợi
Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội, 2002; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999
(Phần các tội phạm) của TS. Phùng Thế Vắc, TS. Trần Văn Luyện, luật sư
ThS. Phạm Thanh Bình, TS. Nguyễn Đức Mai, ThS. Nguyễn Sĩ Đại, ThS.
Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001.
Ngoài ra, tác giả Vũ Thành Long có bài viết: "Mấy ý kiến về Điều 314
Bộ luật hình sự về tội không tố giác tội phạm" (Tạp chí Tòa án nhân dân,
tháng 10-2005); ThS. Trần Đại Thắng có bài viết: "Một số vấn đề về việc bảo
vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án
hình sự" (Tạp chí Kiểm sát, tháng 12-2005, số 24); tác giả Thái Văn Đoàn có
bài viết: "Một số bất hợp lý trong các quy định về tội che giấu tội phạm và tội
không tố giác tội phạm" (Tạp chí Tòa án nhân dân, tháng 10-2005, số 19)
Các công trình nói trên đã đề cập tội không tố giác tội phạm, nhưng
chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về tội
không tố giác tội phạm dưới hai góc độ: pháp lý hình sự và tội phạm học.
3. Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận
văn
Mục đích của luận văn
Mục đích của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranh
phòng, chống tội không tố giác tội phạm, nêu ra những giải pháp mang tính
hệ thống để nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm này.
Nhiệm vụ của luận văn
Để đạt được mục đích trên, tác giả luận văn đã đặt ra và giải quyết các
nhiệm vụ sau:
3
- Phân tích, làm rõ lịch sử hình thành và phát triển của những quy định
về tội không tố giác tội phạm trong luật hình sự Việt Nam.
- Làm sáng tỏ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của
tội không tố giác tội phạm trong Bộ luật hình sự năm 1999; phân tích các quy
định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về tội phạm này.
- Phân tích, đánh giá đúng thực trạng tình hình tội không tố giác tội
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về tội không tố giác tội
phạm; những dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của tội phạm này trong pháp
luật hình sự hiện hành.
- Phân tích, đánh giá những quy định về tội không tố giác tội phạm
trong pháp luật hình sự một số nước trên thế giới nhằm rút ra những giá trị
hợp lý về lập pháp hình sự, để vận dụng có chọn lọc, bổ sung cho những luận
cứ và giải pháp được đề xuất trong luận văn.
- Đánh giá đúng thực trạng tình hình tội không tố giác tội phạm ở Việt
Nam, phân tích, làm rõ nguyên nhân của thực trạng đó.
- Đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu
quả đấu tranh phòng, chống tội không tố giác tội phạm.
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu và những kiến nghị của luận văn có ý nghĩa nhất
định đối với việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội không tố giác
tội phạm ở nước ta. Thông qua kết quả nghiên cứu và các kiến nghị, tác giả
mong muốn đóng góp phần nhỏ bé của mình vào việc phát triển lý luận về tội
phạm học, luật hình sự, cũng như công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm
có tính nhạy cảm cao và phức tạp này.
5
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác
nghiên cứu, giảng dạy về khoa học pháp lý nói chung, khoa học luật hình sự,
tội phạm học nói riêng và cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại cơ quan
Công an, Viện kiểm sát, Tòa án.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương, 8 mục.
6
Chương 1
TỘI KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
nhất việc không tố giác tội phạm với che giấu tội phạm trong trường hợp quan
biết mà không tố giác:
Những người cày ruộng đất công mà khai dối là cày cấy cho
quan ty, để mong tránh đóng thuế, thì xử tội theo luật chiếm ruộng
đất công. Quan ty dung túng thì cũng đồng tội; không biết thì không
xử tội. Xã quan biết mà không tố giác thì xử tội giấu giếm; không
biết thì được giảm 2 bậc; quan lộ huyện vô tình không biết thì xử tội
biếm [41, tr. 137].
Bộ luật này còn đề cập việc tố giác ông bà, cha mẹ, vợ chồng phạm tội
tại Điều 504:
Con cháu tố cáo ông bà, cha mẹ, nô tỳ tố cáo chủ có tội lỗi
gì, đều xử tội lưu đi châu xa; vợ tố cáo chồng cũng bị tội trên. Tố
cáo ông bà ngoại, cha mẹ và ông bà, cha mẹ về bậc tôn trưởng vào
hàng cơ thân của chồng, cùng là nô tỳ tố cáo người vào bậc cơ thân
của chủ, dẫu việc có thật, cũng phải tội biếm hay tội đồ; nếu là tội
mưu phản, đại nghịch hay là mẹ đích, mẹ kế mà giết cha, cha mẹ
nuôi giết con đẻ thì cho phép tố cáo [41, tr. 183].
Đây là quy định mang tính nhân văn, thể hiện truyền thống tôn kính
đối với ông bà, cha mẹ, đồng thời kết hợp được chữ "hiếu" đối với sự tồn
8
vong của đất nước. Chính vì vậy, mặc dù tại khoản 7 Điều 2 của Bộ luật này
quy định bất hiếu là một trong mười tội ác (thập ác): "Bất hiếu là tố cáo, rủa
mắng ông bà, cha mẹ, trái với lời cha mẹ dạy bảo" [41, tr. 37], nhưng Bộ luật
này vẫn quy định: nếu là tội mưu phản, đại nghịch hay là mẹ đích, mẹ kế mà
giết cha, cha mẹ nuôi giết con đẻ thì cho phép tố cáo.
Điều 508 Bộ luật đã quy định cụ thể cách thức tố cáo: "Tố cáo tội người,
thì phải ghi năm tháng và trình bày sự thực không được nói là việc còn ngờ
(nói việc đó không đáng tin cũng vậy); trái luật này thì phải phạt 80 trượng;
quan nhận những đơn trái lệ này, mà đem ra xét xử, thì phạt tiền 30 quan" [41,
tr. 184].
đến 16 tuổi và đến nỗi nguy hiểm đến tính mạng [23].
Quy định này cho thấy, ngoài việc tiếp tục kế thừa tinh hoa của Bộ
luật Hồng Đức, Hoàng Việt hình luật đã thể hiện rõ sự thuộc vào nước Pháp
bảo hộ của chính quyền thực dân phong kiến.
1.1.2. Giai đoạn từ khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công
cho đến trước khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa - Nhà nước công nông non trẻ đầu tiên ở Đông Nam Á, đã tiến
hành tích cực hoạt động lập pháp nói chung và hoạt động lập pháp hình sự nói
riêng. Chỉ trong gần bốn tháng năm 1945 và năm 1946, Nhà nước ta đã ban
hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật hình sự, đáp ứng yêu cầu giữ
vững chính quyền nhân dân, góp phần xây dựng và phát triển lực lượng,
chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến lâu dài của cả nước.
10
Tuy nhiên, do tình hình hết sức khẩn trương, không thể ban hành kịp
các văn bản quy phạm pháp luật nói chung, văn bản quy phạm pháp luật hình
sự cần thiết nói riêng, nên ngày 10-10-1945, Nhà nước ta đã ban hành Sắc
lệnh số 47-SL cho tạm thời giữ các luật lệ cũ, trong đó có bộ "Luật hình An
Nam", bộ "Hoàng Việt hình luật" và bộ "Hình luật pháp tu chính" với điều
kiện "không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân
chủ cộng hòa" [10, tr. 190].
Từ khi Cách mạng tháng Tám thành công cho đến năm 1954 là thời
điểm ký Hiệp định Giơnevơ, Quốc hội ta là Quốc hội kháng chiến, Chính phủ
ta là Chính phủ kháng chiến, pháp luật ta cũng là pháp luật kháng chiến.
Trong hoàn cảnh khó khăn đó, do phải tập trung quy định các tội phạm liên
quan đến sự an nguy của chính quyền nhân dân như các tội phản bội Tổ quốc,
tội gián điệp, tội hối lộ, tham ô , cho nên, trong giai đoạn này, tội không tố
giác tội phạm chưa được quy định.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền
Bắc hoàn toàn được giải phóng, miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và bọn tay
mạng chưa nêu trong Pháp lệnh này, thì áp dụng những điều về tội phạm
tương tự trong Pháp lệnh này mà xét xử" [10, tr. 198].
Trong thời gian này, các Tòa án của ta đã xét xử một số trường hợp
không tố giác tội phạm nghiêm trọng như tội phản cách mạng, tội giết người.
Ví dụ: bản án số 13 ngày 20-03-1958 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội
đã xử phạt Nguyễn Thị Chất là vợ Hải 3 năm quản chế, vì khi biết âm mưu,
hoạt động của bọn Hải mà không tố cáo với cơ quan có thẩm quyền.
Đối với những hành vi không tố giác những tội phạm ít nghiêm trọng,
thực tiễn xét xử của ta trong thời gian này không coi là tội phạm cần truy cứu
trách nhiệm hình sự. Điều đó xuất phát từ tình hình xã hội ta lúc đó: tâm lý sợ
12
thù oán không dám tố giác, tình cảm nể nang trong gia đình còn khá phổ biến.
Vì vậy, chủ yếu áp dụng biện pháp giáo dục nhiều hơn là biện pháp trừng trị
bằng pháp luật hình sự.
Từ sau ngày miền Nam được giải phóng cho đến năm 1979, trong bối
cảnh Mỹ và các thế lực thù địch khác ra sức bao vây, cấm vận, nước ta còn
phải đối phó với hai cuộc chiến tranh quy mô lớn ở biên giới phía Tây Nam
và phía Bắc. Ngoài ra, chúng ta còn phải đương đầu với những khó khăn
chồng chất và gay gắt về kinh tế và đời sống; tình hình tiêu cực, nhất là tệ hối
lộ diễn biến phức tạp. Trước tình hình đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa IV đã đề ra chủ trương: "Kiên quyết đấu
tranh khắc phục những mặt tiêu cực trong hoạt động kinh tế và xã hội, nhất là
tệ ăn cắp, hối lộ, ức hiếp quần chúng" [38, tr. 8]. Để kịp thời thể chế hóa chủ
trương trên của Đảng và trên cơ sở Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam năm 1980, ngày 20-5-1981, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã
ban hành Pháp lệnh trừng trị tội hối lộ. Sự ra đời của Pháp lệnh là một sự kiện
pháp lý quan trọng, góp phần giữ vững và tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, động viên, cổ vũ quần chúng nhân dân tích cực đấu tranh chống tệ hối
lộ và các hiện tượng tiêu cực xã hội khác trong xã hội.
Nhằm động viên mọi công dân trong việc tố giác tội hối lộ, Điều 12
hình luật xã hội chủ nghĩa của Trường cao đẳng Kiểm sát Hà Nội đã đề cập
tội không tố giác tội phạm và đưa ra khái niệm không tố giác tội phạm:
Không tố giác tội phạm nghĩa là không báo cáo cho cơ quan
có thẩm quyền về một tội phạm mà mình biết đang được chuẩn bị
14
thực hiện hoặc đã được thực hiện hoặc biết rõ một kẻ sắp phạm tội
hay đã phạm tội rồi nhưng không báo cáo.
Tội không tố giác tội phạm khác với tội che giấu ở chỗ, hành
vi của kẻ không tố giác là một hành vi tiêu cực (biết chắc chắn mà
không báo cáo) [54, tr. 189].
1.1.3. Giai đoạn từ khi Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời cho đến trước
khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
Trong quá trình thực hiện các Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ IV, V của Đảng, nhân dân ta đã giành được những thành tựu quan
trọng trên một số lĩnh vực kinh tế - xã hội, tạo ra những cơ sở vật chất kỹ
thuật đầu tiên cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong phạm vi cả
nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, chúng ta đã gặp phải
không ít khó khăn và khuyết điểm như chủ quan duy ý chí, duy trì quá lâu mô
hình kinh tế quan liêu, bao cấp, nên không thực hiện được mục tiêu đã đề ra là
ổn định một cách cơ bản tình hình kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân. Mặt
khác, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đơn hành không thể hiện được
toàn diện, đầy đủ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Vì vậy, việc
ban hành Bộ luật hình sự là vấn đề có tính tất yếu khách quan và cấp thiết, có
ý nghĩa góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngày 27-6-1985, Quốc hội
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII, tại kỳ họp thứ 9, đã
thông qua Bộ luật hình sự, có hiệu lực từ ngày 1-1-1986 (sau đây gọi tắt là Bộ
luật hình sự năm 1985).
Bộ luật hình sự năm 1985 là Bộ luật hình sự đầu tiên của chế độ dân
16
thủy); Điều 94, khoản 2 (tội phá hủy công trình, phương tiện quan
trọng về an ninh quốc gia); Điều 95, khoản 2 và 3 (tội chế tạo, tàng
trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng,
phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 96, khoản 2 và 3 (tội chế tạo,
tàng trữ, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất nổ, chất
cháy, chất độc, chất phóng xạ); Điều 96 a, khoản 2 và 3 (tội sản xuất,
tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy); Điều 98
(tội làm tiền giả, tội tàng trữ, lưu hành tiền giả, tội phá hủy tiền tệ);
- Điều 101 (tội giết người); Điều 112, khoản 2, 3 và 4 (tội
hiếp dâm);
- Điều 129 (tội cướp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 132,
khoản 2 và 3 (tội trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 133,
khoản 2 và 3 (tội tham ô tài sản xã hội chủ nghĩa); Điều 138, khoản 2
và 3 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản xã hội chủ nghĩa);
- Điều 151 (tội cướp tài sản của công dân); Điều 152 (tội bắt
cóc nhằm chiếm đoạt tài sản của công dân);
- Điều 165, khoản 2 và 3 (tôi đầu cơ); Điều 172, khoản 2 và 3
(tội chiếm đoạt tem, phiếu, tội làm hoặc lưu hành tem, phiếu, giấy
tờ giả dùng vào việc phân phối;
- Điều 245, khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam);
2. Người không tố giác tội phạm nếu có hành động ngăn chặn
người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được
miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.
1.1.4. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999 cho
đến nay
17
Bộ luật hình sự năm 1985 được ban hành trong những năm của cơ chế
tập trung, quan liêu, bao cấp, mặc dù đã phản ánh được nhu cầu bức xúc của
cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm thời kỳ đó, nhưng ở một mức độ nhất
đích, mẹ kế mà giết cha, cha mẹ nuôi giết con đẻ) đối với việc không tố giác
tội phạm giữa những người thân thích. Đây là sự ghi nhận mối quan hệ tình
cảm gia đình sâu nặng vốn là một trong những nét đặc trưng của truyền
thống văn hóa Á Đông.
Theo quy định mới được bổ sung, thì người không tố giác là ông, bà,
cha, em, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ
phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh
quốc gia (quy định tại các điều từ 78 đến Điều 91 Bộ luật) hoặc các tội khác
là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được liệt kê tại khoản 1 Điều 313 (chứ
không phải mọi tội phạm được quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự năm
1999).
Thứ hai, bổ sung vào cấu thành tội phạm hành vi "đang được thực
hiện mà không tố giác" cho đầy đủ, bởi lẽ Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy
định hành vi "đã được thực hiện mà không tố giác", chưa quy định hành vi
nêu trên.
Thứ ba, không liệt kê các điều, khoản của Bộ luật hình sự về các tội mà
nếu không tố giác thì phải chịu trách nhiệm hình sự, mà chỉ viện dẫn Điều
313 Bộ luật hình sự cho điều luật được ngắn gọn.
Thứ tư, tăng mức hình phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm (trong
Bộ luật hình sự năm 1985, quy định đến một năm) và giữ nguyên mức phạt tù
đối với tội này.
19
1.2. TỘI KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ
NĂM 1999
1.2.1. Khái niệm tội không tố giác tội phạm
Để có thể làm sáng tỏ khái niệm tội không tố giác tội phạm, trước hết
cần làm rõ khái niệm không tố giác tội phạm.
Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999 của nước ta
quy định ba dạng hành vi liên quan đến tội phạm là che giấu tội phạm (Điều
21), không tố giác tội phạm (Điều 22) và chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do
3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người
phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn
trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.
Để có thể hiểu rõ điều 314, cần tìm hiểu tiếp Điều 313 Bộ luật hình sự
năm 1999:
1. Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong
các tội phạm quy định tại các điều sau đây, thì bị phạt cải tạo không
giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:
- Các điều từ Điều 78 đến Điều 91 về các tội xâm phạm an
ninh quốc gia;
- Điều 93 (tội giết người); Điều 111, các khoản 2, 3 và 4 (tội
hiếp dâm); Điều 112 (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 114 (tội cưỡng
dâm trẻ em); Điều 116, các khoản 2 và 3 (tội dâm ô đối với trẻ em);
Điều 119, khoản 2 (tội mua bán phụ nữ);
- Điều 120 (tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em);
21
- Điều 133 (tội cướp tài sản); Điều 134 (tội bắt cóc nhằm
chiếm đoạt tài sản); Điều 138, các khoản 2, 3 và 4 (tội trộm cắp tài
sản); Điều 139, các khoản 2, 3 và 4 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản);
Điều 140, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản); Điều 143, các khoản 2, 3 và 4 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm
hư hỏng tài sản);
- Điều 153, các khoản 3 và 4 (tội buôn lậu); Điều 154, khoản
3 (tội vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới); Điều
155, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán
hàng cấm); Điều 156, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng
giả); Điều 157 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực
phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 158, các khoản 2
và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi,
phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật
chất cháy, chất độc);
- Điều 256, các khoản 2 và 3 (tội mua dâm người chưa thành
niên);
- Điều 278, các khoản 2, 3 và 4 (tội tham ô tài); Điều 279,
các khoản 2, 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 280, các khoản 2, 3 và 4
(tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản); Điều 281, các
khoản 2 và 3 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành
công vụ); Điều 282, các khoản 2 và 3 (tội lạm quyền trong khi thi
hành công vụ); Điều 283, các khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ,
quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi); Điều 284,
các khoản 2, 3 và 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 289, các
khoản 2, 3 và 4 (tội làm môi giới hối lộ);
23
- Điều 311 khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn
khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử);
- Các điều từ Điều 341 đến Điều 344 về các tội phá hoại hòa
bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.
2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn
cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che
người phạm tội, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
Từ những quy định trên cho thấy:
Thứ nhất, không tố giác tội phạm là hành vi của một người, tuy không
hứa hẹn trước và không tham gia vào việc thực hiện tội phạm, nhưng biết rõ
tội phạm do người khác đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã
được thực hiện nhưng không thông báo về tội phạm và người phạm tội cho cơ
quan nhà nước có thẩm quyền như cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án,
Ủy ban nhân dân các cấp để kịp thời ngăn chặn, phát hiện, xử lý tội phạm và
người phạm tội.
Thứ hai, không phải mọi hành vi không tố giác tội phạm đều phải chịu
trách nhiệm hình sự, mà chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong những
của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân" [27, tr. 405].
Trên cơ sở phân tích các khái niệm trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm
tội không tố giác tội phạm như sau: tội không tố giác tội phạm là hành vi
nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự của người có năng lực trách
nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, tuy không tham gia vào
việc thực hiện tội phạm, nhưng biết rõ tội phạm do người khác đang được
chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện, nhưng cố ý không tố
giác tội phạm và người phạm tội cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền như
Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Ủy ban nhân dân các cấp để kịp
thời ngăn chặn, phát hiện, xử lý tội phạm và người phạm tội, xâm phạm hoạt
25