Luận văn tốt nghiệp SVTH: Trần Thị Thanh Hà 1 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung
LỜI MỞ ĐẦU
Luận văn tốt nghiệp SVTH: Trần Thị Thanh Hà 2 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Hiện nay để phù hợp với nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc
tế mà Việt Nam đang xây dựng và phát triển, thì ngành xây dựng Việt Nam nói
chung và Công ty Trách nhiệm hữu hạn Thương mại – Xây dựng Đông Quang
nói riêng cũng cần phải có những thay đổi cho phù hợp.
Với mục đích đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ khả năng phản ứng trước
các biến động của môi trường kinh doanh một cách có hệ thống, doanh nghiệp
buộc phải tự chủ động hoạch định, xây dựng một chiến lược kinh doanh cơ bản,
các lý thuyết quản trị kinh doanh vào một tình huống cụ thể của cuộc sống, qua
đó vừa kiểm nghiệm và nâng cao kiến thức, vừa giúp ích cho công việc kinh
doanh cụ thể được bài bản hơn, hiệu quả hơn.
-Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích môi trường vĩ mô, môi trường vi
mô, các số liệu cụ thể về thực trạng phát triển của Công ty Trách nhiệm hữu hạn
Thương mại – Xây dựng Đông Quang để xây dựng chiến lược phát triển đề xuất
một số giải pháp cụ thể nhằm thực hiện chiến lược phát triển công ty.
Phạm vi số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài từ khi thành lập công ty đến
năm 2008.
3. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài đi tập trung vào nghiên cứu, phân tích các thông tin và số liệu thứ
cấp thu thập được qua các phương tiện đại chúng và trực tiếp từ nội bộ Công ty
Trách nhiệm hữu hạn Thương mại – Xây dựng Đông Quang ở những nội dung
cơ bản nhất.
Trong quá trình giải quyết các vấn đề của đề tài, luận văn đã sử dụng
nhiều phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp phân tích, so sánh.
- Phương pháp quy nạp, phương pháp diễn dịch.
4. Kết cấu của đề tài
Nội dung của đề tài gồm những phần chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chiến lược và xây dựng chiến lược kinh
doanh: Phần này nêu một cách cơ bản nhất khái niệm về chiến lược kinh doanh
và các loại chiến lược kinh doanh. Đồng thời cũng nêu lên một số ma trận giúp
Luận văn tốt nghiệp SVTH: Trần Thị Thanh Hà 4 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung
lựa chọn chiến lược kinh doanh và một số kinh nghiệm rút ra từ việc nghiên cứu
lý luận về xây dựng chiến lược kinh doanh.
CHƢƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN
CỦA ĐỀ TÀI Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài SVTH: Trần Thị Thanh Hà 6 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung
1.1 KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA QUẢN TRỊ CHIẾN LƢỢC
1.1.1 Khái niệm của Quản Trị Chiến Lƣợc
-Về chiến lược:
Thuật ngữ “ chiến lược” được các nhà kinh tế quan niệm theo nhiều cách
khác nhau:
Về khía cạnh “ cạnh tranh” có quan điểm coi chiến lược là một nghệ
chiến lược đến lợi nhuận vì trên thực tế có nhiều biến số tác động. Nhưng doanh
nghiệp cũng không phủ nhận đóng góp gián tiếp vào lợi nhuận đó là: khai thác cơ
hội và giành ưu thế cạnh tranh.
Ưu điểm của Quản trị chiến lược:
-Cung cấp cho doanh nghiệp một phương hướng kinh doanh cụ thể, có
hiệu quả làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp, giúp cho doanh
nghiệp phát huy lợi thế cạnh tranh tăng cường sức mạnh cho doanh nghiệp phát
triển thêm thị phần.
-Giúp cho doanh nghiệp hạn chế được những bất trắc rủi ro đến mức thấp
nhất, nắm bắt và tận dụng những cơ hội tốt tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh
doanh ổn định lâu dài và phát triển không ngừng.
-Quản lý chiến lược với môi trường giúp doanh nghiệp chuẩn bị tốt hơn
để ứng phó với những thay đổi trong môi trường và làm chủ được diễn biến tình
hình.
Nhược điểm của Quản trị chiến lược:
- Thiết lập quá trình quản trị chiến lược cần nhiều thời gian và nổ lực.
-Các kế hoạch chiến lược sẽ cứng nhắc nếu không thay đổi khi điều kiện
môi trường biến đổi.
-Hạn chế sai sót trong việc dự báo dài hạn, ngắn hạn là không tránh khỏi
vì còn nhiều nhân tố bất biến ảnh hưởng. Nhưng thực ra, chúng ta không nhất thiết
là phải đúng từng chi tiết.
-Một số doanh nghiệp nghi ngờ tính hữu ích của quá trình quản trị chiến
lược, thế nhưng vấn đề ở đây là họ chỉ đề ra kế hoạch chứ không thực hiện, hay do
Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài SVTH: Trần Thị Thanh Hà 8 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung
môi trường thay đổi mà vẫn áp dụng chiến lược cũ là không đúng tiêu chí của quản
trị chiến lược rồi chứ đừng nói đến hiệu quả.
Trên thực tế do nhiều nhược điểm như vậy nên doanh nghiệp vẫn không
vạch ra và tổ chức thực hiện các chiến lược bộ phận. Chiến lược bộ phận lại
bao gồm rất nhiều loại như chiến lược dựa vào bản thân doanh nghiệp hay
khách hàng để đạt được mục tiêu tổng quát, hoặc chiến lược marketing. Đây
thực chất là tìm kiếm cách thức hành động mà mỗi doanh nghiệp đều phải
hoạch định để đạt được mục tiêu đã định.
1.1.3.3 Phân loại theo hƣớng tiếp cận chiến lƣợc
Chiến lược tập trung:
Chỉ tập trung vào những điểm then chốt có ý nghĩa quyết định đối với sản
xuất kinh doanh chứ không dàn trải các nguồn lực.
Chiến lược dựa trên ưu thế tương đối:
Tư tưởng hoạch định chiến lược là dựa trên sự phân tích, so sánh sản
phẩm hay dịch vụ của mình so với các đối thủ cạnh tranh, tìm ra điểm mạnh của
mình để làm chỗ dựa cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh. Nhưng doanh
nghiệp phải tận dụng điểm mạnh chứ không quá phụ thuộc vì ngày mai nó sẽ là
điểm yếu. Cụ thể hơn so sánh giữa cửa hàng thức ăn nhanh KFC và Lotteria thì
khách hàng sẽ chọn KFC với logan “ Ghét trễ ”.
Chiến lược sáng tạo tấn công:
Chiến lược kinh doanh dự trên sự khai phá mới để giành ưu thế trước đối thủ cạnh
tranh. Như công ty Vinamilk sử dụng công nghệ tiên tiến tạo ra dòng sữa tươi thanh
trùng cạnh tranh với các nhãn hiệu lâu đời Long Thành, Đà Lạt.
Chiến lược tự do:
Là chiến lược không nhắm vào các yếu tố then chốt mà khai phá những
nhân tố bao quanh nhân tố then chốt.
Ngoài ra, bốn chính sách marketing cũng là những chiến lược bộ phận
theo cách phân loại Marketing – Mix. Mỗi chiến lược bộ phận dù đứng trong cách
phân loại nào thì cũng nhằm định hướng hoạt động của doanh nghiệp trong tương
lai chú trọng vào mặt đó. Cùng lúc doanh nghiệp có thể áp dụng những chiến lược
bộ phận được theo nhiều cách khác nhau hay trong cùng một cách phân loại. Chẳng
Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài
chính là kết quả hay là cái đích mà một doanh nghiệp hướng đến, nó chính là cơ sở
đầu tiên và quan trọng nhất để xây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh.
Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài SVTH: Trần Thị Thanh Hà 11 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung
Nhiệm vụ hay sứ mệnh của doanh nghiệp mang tính tổng quát, còn mục
tiêu là cụ thể hóa nhiệm vụ hay sứ mạng của doanh nghiệp, ví dụ nhiệm vụ của một
Ngân hàng là huy động vốn và cho vay, thì mục tiêu cụ thể hóa ở đây là huy động
và cho vay bao nhiêu, trong thời gian bao lâu? Số lượng và đối tượng khách hàng là
ai?.
Mục tiêu được xây dựng trên cơ sở nhiệm vụ hay sứ mệnh của doanh
nghiệp và các yếu tố môi trường bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Mục tiêu
phải phù hợp với các điều kiện cả khách quan và chủ quan, tức là cần phải được cân
nhắc xây dựng và điều chỉnh dựa trên cơ sở các yếu tố môi trường cả bên trong và
bên ngoài doanh nghiệp.
1.2.2 Phân tích môi trƣờng kinh doanh
Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tất cả những yếu tố, những
lực lượng, những thể chế, nằm bên ngoài doanh nghiệp mà nhà quản trị không kiểm
soát được nhưng chúng lại có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động và kết quả hoạt động
của doanh nghiệp.
Sơ đồ 1.1: Môi trƣờng hoạt động của doanh nghiệp Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài SVTH: Trần Thị Thanh Hà 12 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung
Đặc trưng cơ bản của môi trường kinh doanh là tính chất phức tạp và luôn biến
động. Do đó khi phân tích môi trường kinh doanh cần làm rõ các yếu tố môi trường
Tất cả các yếu tố trên có ảnh hưởng nhiều đến các hoạt động và hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp cho nên các chiến lược phải thích ứng với nó.
Các yếu tố chính trị -pháp luật:
Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển đều phải tuân thủ
và hoạt động phù hợp với những điều kiện môi trường chính trị -pháp luật cùa nước
sở tại. Đó là các quy định chống độc quyền, các luật bảo vệ môi trường, các sắc luật
về thuế, các chế độ đãi ngộ đặc biệt, các quy định trong lĩnh vực ngoại thương, mức
độ ổn định của Chính phủ.
Chính sách của Chính phủ cũng có thể tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ cho
doanh nghiệp. Sự ổn định chính trị được thể hiện ở các thể chế, quan điểm chính trị,
sự nhất quán trong đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước hệ thống chính trị.
Một trong những bộ phận chủ yếu chính trị ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp là hệ thống pháp luật, vì hoạt động kinh doanh trước hết đòi hỏi
các nhà quản lý phải quan tâm và nắm vững luật pháp. Luật pháp ảnh hưởng trực
tiếp đến tình hình và kết quả hoạt động của doanh nghiệp mà chúng ta cần quan tâm,
phân tích là: Các quy định về giao dịch hợp đồng, môi trường pháp luật nói chung,
luật thành lập doanh nghiệp, luật chống độc quyền, luật giá cả, luật thuế, lợi nhuận.
Các yếu tố văn hóa-xã hội:
Tất cả các doanh nghiệp cần phân tích rộng rãi các yếu tố xã hội nhằm
nhận biết cơ hội và nguy cơ tìm ẩn có thể xảy ra.Khi một hay nhiều yếu tố thay đổi
chúng có thể tác động đến doanh nghiệp như sở thích vui chơi giải trí,chuẩn mực về
đạo đức và quan điểm về mức sống; phong cách sống; lao động nữ; ước vọng về
nghề nghiệp; tính tích cực trong tiêu dùng;tỷ lệ tăng dân số; dịch chuyển dân số; tỉ lệ
sinh đẻ.
Các yếu tố trên thường biến đổi hay triển khai chậm nên đôi khi khó có
thể nhận thấy.Ví dụ hiện tại có rất nhiều lao động nữ; điều này do quan điểm của
nam giới hay nữ giới đã thay đổi. Không nhiều doanh nghiệp nhận ra điều này để dự
báo tác động của nó và đề ra chiến lược thích hợp.
Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài
sản phẩm mới;chuyển giao công nghệ;tự động hóa.
Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài SVTH: Trần Thị Thanh Hà 15 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung
Chắc chắn ngày nay càng có nhiều công nghệ tiên tiến ra đời tạo ra các cơ
hội cũng như nguy cơ đối với các tất cả các ngành công nghiệp nói chung cũng như
các doanh nghiệp nói riêng. Các nhà nghiên cứu và chuyển giao công nghệ hàng đầu
bắt đầu lao vào công việc tìm tồi giải pháp kỹ thuật mới nhằm giải quyết các vấn đề
tồn tại và xác định các công nghệ hiện tại có thể khai thác trên thị trường. Các
doanh nghiệp cũng phải cảnh giác với công nghệ mới có thể lam cho sản phẩm của
họ lạc hậu một cách trực tiếp hay gián tiếp.
Đối với doanh nghiệp các yếu tố về công nghệ cũng không kém phần
quan trọng, ngoài ra khuynh hướng tự động hóa, điện tử hóa, máy tính hóa cũng
giúp doanh nghiệp tạo được lợi thế cạnh tranh. Bởi vậy các doanh nghiệp phải quan
tâm theo sát những thông tin về kỹ thuật công nghệ để có thể áp dụng ngay.
Các yếu tố môi trường vĩ mô có tác động lẫn nhau và có vai trò quan
trọng đối với doanh nghiệp. Các yếu tố của môi trường sẽ hình thành các tiền đề
chiến lược mà chúng ta phải tìm cơ sở để hoạch định chiến lược, chủ động đề phòng
các nguy cơ, hay nắm bắt những cơ hội. Ngoài ra khi phân tích môi trường vĩ mô
không những để hiểu quá khứ, hiện tại mà quan trọng hơn hết là dự báo cho tương
lai mà doanh nghiệp cần thích ứng.
b, Môi trường vi mô
Doanh nghiệp là một hệ thống mở tồn tại trong môi trường, liên hệ chặt
chẽ với môi trường chịu sự chi phối của môi trường, mọi chiến lược của doanh
nghiệp phải vạch ra trong một môi trường cụ thể, phải biết tận dụng thuận lợi mà
môi trường mang lại và những hạn chế, những khó khăn trở ngại vướng mắc từ môi
trường.
Riêng môi trường vi mô thì ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động doanh
nghiệp mà ta đang nghiên cứu. sức ép của các yếu tố này lên doanh nghiệp càng
họ có đủ thông tin nhu cầu giá trên thị trường và sản phẩm của doanh nghiệp thì
quyền mặc cả càng lớn hơn.
Áp lực từ nhà cung cấp:
Các nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp như nguyên liệu, đồng vốn,
đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp được tiến hành bình thường.Thực chất
mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp cũng là mối thương quan thế lực
nếu vật tư kham hiếm chúng ta phải tìm họ và ngược lại họ phải phụ thuộc chúng ta.
Do đó doanh nghiệp phải thiết lập mối quan hệ chặt chẽ và lâu dài với các nhà cung
cấp để mong muốn họ đáp ứng theo yêu cầu doanh nghiệp, đảm bảo cung cấp đủ số
lượng chủng loại và mức chất lượng vật tư, đảm bảo đúng tiến độ với mức giá hợp
lý.
Do đó về phía doanh nghiệp chủ động thiết lập mối quan hệ với các nhà
cung cấp nhưng phải đưa ra những biện pháp rành buộc họ.
Ngược lại, các nhà cung cấp cũng là doanh nghiệp họ cũng muốn được lợi
nên thường gây sức ép đối với donh nghiệp để được lợi nhuận cao hơn trong những
tình huống sau : độc quyền cung cấp vật tư cho doanh nghiệp; cung cấp những loại
vật tư không có khả năng thay thế; khi doanh nghiệp không phải là khách hàng quan
trọng của họ.
Áp lực cạnh tranh từ các đối thủ hiện tại:
Trong các ngành kinh doanh luôn tồn tại nhiều doanh nghiệp cùng kinh
doanh các sản phẩm hay dịch vụ cùng loại, để tồn tại và phát triển, các doanh
nghiệp này luôn tìm cách tạo lợi thế chi mình để chiếm vị thế giữa các đối thủ cạnh
tranh, do đó một doanh nghiệp luôn phải chịu áp lực cạnh tranh từ các đối thủ hiện
tại.
Sự có mặt của các đối thủ cạnh tranh chính trên thị trường và tình hình
hoạt động của chúng là lực lượng tác động trực tiếp mạnh mẽ, tức thì tới quá trình
hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi ngành bao gồm rất nhiều doanh nghiệp khác nhau
Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài
Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài SVTH: Trần Thị Thanh Hà 19 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung
-Ràng buộc nhà cung cấp cũng như khách hàng.
-Sử dụng những lợi thế mà đối thủ khác không có được.
-Bản quyền về công nghệ sản phẩm.
-Lợi thế về nguồn cung cấp ngành.
-Lợi thế về vị trí địa lý.
-Lợi thế về kinh nghiệm
-Chính sách của Nhà nước.
Khi các đối thủ mới xuất hiện xâm nhập làm mất đi thị trường thì buộc
các doanh nghiệp hiện có phải liên kết với nhau để đối phó và bảo vệ quyền lợi thị
trường của nhau.
Áp lực từ các sản phẩm thay thế :
Sản phẩm thay thế là các sản phẩm của những thị trường khác nhưng có
thể đáp ứng được nhu cầu thị trường như sản phẩm chính, chẳng hạn khí đốt tự
nhiên là sản phẩm thay thế của dầu lửa. Sự tồn tại của sản phẩm thay thế làm hạn
chế tiềm năng gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Nó làm cho độ co giãn chéo
theo giá luôn dương, tức là nếu giá của sản phẩm chính tăng lên sẽ làm cho cầu về
sản phẩm thay thế tăng lên. Sản phẩm thay thế sẽ khống chế không gian giá của thị
trường sản phẩm chính. Các sản phẩm thay thế thường là kết quả của các cuộc bùng
nổ công nghệ. Để tránh tình trạng tụt hậu trên thị trường, ngoài việc phân tích quan
hệ cung cầu và các quan hệ của sản phẩm thay thế, doanh nghiệp cần đầu tư thích
đáng cho các nguồn lực của mình cho việc nghiên cứu áp .
1.2.2.2 Phân tích môi trƣờng bên trong
Môi trường bên trong là tổng hợp các yếu tố tồn tại trong một doanh
nghiệp bao gồm: nguồn nhân lực, nghiên cứu phát triển, sản xuất, tài chính kế toán,
chúng tác động trực tiếp tới việc lựa chọn hình thức kinh doanh và kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh. Nó nói lên khả năng hoạt động, cạnh tranh của doanh
-Doanh nghiệp có liên quan đến chương trình đào tạo và phát triển như
thế nào?
-Các chính sách của doanh nghiệp đối với đội ngũ cán bộ này như thế
nào?
- Doanh nghiệp đã nhấn mạnh vào việc đánh giá quá trình thực hiện như
thế nào?
Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài SVTH: Trần Thị Thanh Hà 21 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung
Lĩnh vực sản xuất, kỹ thuật
-Phân tích chi phí sản xuất.
-Sự bố trí các phương tiện sản xuất, quy hoạch và tận phương tiện.
-Các phương pháp kiểm tra thiết kế, lập kế hoạch tiến độ, mua hàng, kiểm
tra chất lượng.
Yếu tố marketing
- Phân loại các sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp, mức độ đa dạng của
các doanh nghiệp.
- Khả năng thu thập trực tiếp thông tin về thị trường.
- Thị phần
- Cách tổ chức bán hàng hữu hiệu; mức độ am hiểu về khách hàng.
- Mức độ nổi tiếng, ấn tượng về chất lượng sản phẩm dịch vụ.
- Chiến lược giá và tính linh hoạt trong chiến lược định giá.
Yếu tố chính sách tài chính
Chức năng bộ phận tài chính bao gồm việc phân tích lập kế hoạch kiểm
tra việc thực hiện kế hoạch tài chính và tình hình tài chính của doanh nghiệp,phân
tích tài chính cần phân tích các mặt sau:
Khả năng huy động vốn ngắn hạn.
Khả năng huy động vốn dài hạn; tỷ lệ vốn vay .
Nguồn vốn công ty.
Các yếu tố tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp có phạm
vi rất rộng. Các nhà khoa học đưa nhiều phương pháp xác định yếu tố tác động đến
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Các quan điểm đó xoay quanh các yếu tố cơ
bản sau đây:
Bầu không khí trong nội bộ doanh nghiệp
Yếu tố này thể hiện sự phản ứng chung của nhân viên trong doanh nghiệp
với nhau. Nó là một cơ cấu vô hình đủ mạnh để hình thành phong cách và lề lối làm
việc mà nhân viên mình phải tuân theo. Những phong cách và lề lối này sẽ quyết
định hiệu quả, lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là tài sản vô hình quan trọng quyết
định tương laic ho doanh nghiệp.
Mức sinh lời của vốn đầu tư
Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài SVTH: Trần Thị Thanh Hà 23 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung
Yếu tố này thể hiện trình độ tổ chức sản xuất và quản lí của doanh nghiệp
nhằm phát huy hiệu quả sử dụng các yếu tố vật chất cũng như vật chất của doanh
nghiệp. Nhằm đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư có thể sử dụng một số chỉ tiêu tổng
hợp như: tổng số lợi nhuận,tỷ suất lợi nhuận, hệ số sinh lời,số vòng quay của
vốn.Nếu doanh nghiệp quản lí và sử dụng vốn có hiệu quả thì sẽ đem lợi lợi nhuận
cao, từ đó tái khả năng sản xuất mở rộng phần thị trường tiềm năng,nâng cao khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp nhờ vào quy mô sản xuất ngày càng mở rộng.
Giá thành sản phẩm
Giá thành là yếu tố quan trọng quyết định đến lợi nhuận của doanh nghiệp
trong trường hợp cạnh tranh. Nếu chênh lệch giữa giá bán và giá thành cá biệt càng
cao so với đối thủ cạnh tranh thì khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp ngày càng
lớn. Đây là vũ khí lợi hại trên thương trường về giá.
Năng suất lao động
Đây là yếu tố phản ánh tình trạng thiết bị kỹ thuật công nghệ cho sản
xuất,trình độ tổ chức sản xuất, trình độ tổ chức quản lí. Nếu máy móc thiết bị được
phép doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh đẩy lùi sự canh tranh của các đối
thủ trên thị phần.
Vị trí cạnh tranh của doanh nghiệp
Để đạt được lợi thế cạnh tranh doanh nghiệp phải có chi phí cho một đơn
vị sản phẩm thấp hơn các đối thủ cạnh tranh hoặc phải làm cho sản phẩm của doanh
nghiệp khác với sản phẩm của đối thủ để có thể tính giá cao hơn hoặc thấp hơn hay
đồng giá. Để khách hàng bằng lòng trả giá cao hơn thì đòi hỏi sản phẩm doanh
nghiệp phải có giá trị cao hơn giá trị của các đối thủ về một phương diện nào đó
như: chất lượng hay thiết kế thời gian cung ứng, dịch vụ sau khi bán hàng dịch vụ
hỗ trợ.
1.2.3 Thiết lập các chiến lƣợc kinh doanh
Căn cứ vào các mục tiêu của doanh nghiệp, tình hình bên trong và bên
ngoài doanh nghiệp để thiết lập chiến lược kinh doanh bao gồm các nội dung cơ bản
như sau:
Nhận diện và lựa chọn cơ hội có thể giúp doanh nghiệp đạt được mục
tiêu kinh doanh đã đề ra.
Chương I : Cơ sở lý luận của đề tài SVTH: Trần Thị Thanh Hà 25 GVHD: ThS. Phạm Thị Kim Dung
Lựa chọn thị trường mục tiêu của doanh nghiệp, đó là thị trường giúp
doanh nghiệp có thể tận dụng cơ hội một cách tốt nhất.
Lựa chọn loại sản phẩm dịch vụ cung ứng cho thị trường mục tiêu.
Xây dựng chiến lược marketing mix cho thị trường:
Chiến lược sản phẩm: Xác định loại hình dịch vụ doanh nghiệp có thể
cung ứng, chất lượng dịch vụ, giá thành,…và các vấn đề khác liên
quan đến với dịch vụ sao cho đáp ứng tốt yêu cầu của thị trường mục
tiêu và có thể đạt được mục tiêu của doanh nghiệp.
Chiến lược giá: Xây dựng cơ chế giá kết hợp với phương thức thanh
toán để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.