Đề tài : Điều tra và đánh giá hiện trạng sử dụng phân bón và thuốc BVTV ở một số vùng canh tác cây lúa ở huyện bình sơn tỉnh Quãng Ngải - Pdf 13

Đồ án tốt nghiệp – SV Nguyễn Thế Đình
ĐIỀU TRA VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG PHÂN
BÓN VÀ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT
Ở MỘT SỐ VÙNG CANH TÁC CÂY LÚA Ở HUYỆN BÌNH
SƠN-TỈNH QUẢNG NGÃI.
1
Đồ án tốt nghiệp – SV Nguyễn Thế Đình
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan với hội đồng bảo vệ những nghiên cứu dưới đây là do tôi tự thực
hiện, không lấy từ bất cứ công trình nghiên cứu nào khác. Các số liệu trích dẫn
trong đồ án, khóa luận tốt nghiệp là trung thực.
2
Đồ án tốt nghiệp – SV Nguyễn Thế Đình
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 2
MỤC LỤC 3
LỜI MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 11
1.1. Tổng quan về phân bón 11
1.1.1. Phân loại phân bón 11
1.1.2. Tình hình sử dụng phân bón 11
1.1.3. Sử dụng phân bón và vấn đề môi trường 13
1.1.4. Tác động của phân bón đối với cây trồng: 15
1.1.5. Tác động của phân bón đến môi trường sinh thái đất: 16
1.1.6. Tác động của phân bón đến sức khỏe con người: 16
1.2. Tổng quan về thuốc BVTV 17
1.2.1. Sơ lược về sự phát triển của thuốc BVTV 17
1.2.2. Khái niệm về thuốc BVTV 19
1.2.3. Phân loại thuốc BVTV 19
1.2.4.Đặc tính sinh - hóa học của một số nhóm thuốc BVTV chính 21
1.2.4.1. Các thuốc BVTV nhóm Chlor hữu cơ 21

3.3.2. Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật 74
3.4. Hiện trạng chất lượng các nguồn nước mặt – nước ngầm do ảnh hưởng dư lượng
phân bón và thuốc bảo vệ thực vật 79
3.4.1 Kết quả phân tích các chỉ tiêu lý hóa, thuốc BVTV trong nước mặt 80
3.4.2 Kết quả phân tích các chỉ tiêu lý hóa và thuốc trừ sâu và phân bón trong nước
ngầm 86
3.4.3 Đánh giá chất lượng nguồn nước mặt, nước ngầm 90
3.4.4 Đánh giá chung 93
3.5. Hiện trạng ô nhiễm môi trường đất do ảnh hưởng dư lượng phân bón và thuốc
bảo vệ thực vật tại các địa điểm canh tác cây lúa 94
3.5.1 Đánh giá dư lượng phân bón trong đất trồng lúa 94
3.5.2 Tồn dư và sự biến động của thuốc BVTV trong đất trồng lúa 95
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 97
4.1. Kết luận 97
4.1.1 Kết luận tình hình sử dụng thuốc BVTV của nông dân trồng lúa 97
4.1.2 Kết luận tình hình sử dụng phân bón của nông dân trồng lúa 99
4.2. Kiến nghị 100
4.2.1 Đẩy mạnh công tác quản lý thuốc BVTV và phân bón 100
4.2.2 Đẩy mạnh công tác huấn luyện nông dân 100
4.3. Hạn chế của đề tài 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
4
Đồ án tốt nghiệp – SV Nguyễn Thế Đình
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ach Acetylcholine
a.i Hoạt chất (active ingredient)
BOD
5
Bảo vệ thực vật
ChE Cholinesterase

1990 - 1996
19
Bảng 1.2 Phân loại thuốc BVTV của WHO theo độ độc cấp tính 22
Bảng 1.3 Một số đặc tính của thuốc trừ sâu đã phân tích 42
Bảng 2.1 Phương pháp phân tích các chỉ tiêu hoá lý 61
Bảng 3.1 Thống kê tỉ lệ % nông hộ có sử dụng phân bón 74
Bảng 3.2 Thống kê % nông hộ theo số lần bón phân trong 1 vụ 75
Bảng 3.3 Thống kê % nông hộ sử dụng số lượng phân bón trong 1
vụ
76
Bảng 3.4 Tỷ lệ phần trăm số nông hộ có ruộng lúa bị nhiễm các
loại sâu, bệnh tại huyện Bình Sơn vào tháng 2/2012.
78
Bảng 3.5 Thống kê % nông hộ có sử dụng thuốc BVTV 78
Bảng 3.6 Thống kê % nông hộ về số lần phun thuốc trong 1 vụ 81
Bảng 3.7 Kết quả phân tích các chỉ tiêu lý hóa nước mặt 82
Bảng 3.8 Kết quả phân tích dư lượng thuốc trừ sâu trong nước mặt 87
Bảng 3.9 Kết quả phân tích lý hóa dư lượng phân bón trong nước
ngầm
89
Bảng 3.10 Kết quả phân tích thuốc trừ sâu trong nước ngầm 90
Bảng 3.11 Kết quả phân tích dư lượng phân bón trong đất trồng lúa
(thôn Phú Nhiêu, xã Bình Phú)
96
Bảng 3.12 Kết quả phân tích dư lượng thuốc BVTV trong đất trồng
lúa
97
DANH MỤC CÁC HÌNH Trang
Hình 1.1 Con đường phát tán của thuốc BVTV trong môi trường 34
Hình 1.2 Mối quan hệ giữa thổ quyển và khí quyển, thủy quyển,

của nước mặt ở 9 khu vực
khảo sát
86
Biểu đồ 3.7 Nồng độ thuốc BVTV họ Chlor hữu cơ trong nước mặt
tại 9 điểm khảo sát.
88
Biểu đồ 3.8 Nồng độ thuốc BVTV họ Phospho hữu cơ trong nước
mặt
89
7
Đồ án tốt nghiệp – SV Nguyễn Thế Đình
Biểu đồ 3.9 Dư lượng thuốc BVTV trong nước ngầm (họ Chlor hữu
cơ)
91
Biểu đồ 3.10 Tồn dư thuốc BVTV họ Phospho hữu trong nước ngầm ở
9 điểm khảo sát.
92
Biểu đồ 3.12 Biến động dư lượng phân bón trong đất 96
Biểu đồ 3.13 Biến động dư lượng thuốc BVTV trong đất trồng lúa 98
LỜI MỞ ĐẦU
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Hiện nay, Việt
Nam vẫn là một nước nông nghiệp. Cho đến năm 2011, Việt Nam vẫn là nước
xuất khẩu gạo đứng thứ hai trên thế giới. Tuy nhiên nền nông nghiệp của chúng ta
vẫn còn nhiều vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo, cơ giới hóa nông nghiệp vẫn
còn chưa bì kịp với các nước phát triển, vì vậy người dân vẫn phải phần nhiều lao
động chân tay trên ruộng đồng. Một vấn đề đáng quan ngại đối với việc trồng lúa
ở nước ta chính là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Phân bón làm
tăng tốc độ sinh trưởng và năng suất của cây lúa, phối hợp với thuốc bảo vệ thực
vật để giúp người nông dân phòng chống sâu bệnh và lúa cỏ phá hoại. Trên thực
tế, chính sách kinh tế của nước ta đang tập trung nhiều hơn vào sản xuất công

bón và thuốc bảo vệ thực vật một cách hiệu quả, giảm thiểu tác động xấu đến môi
trường.
Đề tài cung cấp một số thông tin cơ bản về phân bón và thuốc bảo vệ thực vật
bao gồm nguồn gốc, thành phần hóa học, đặc tính, công dụng và tác động đến môi
trường của chúng. Một số thông tin cần thiết về điều kiện tự nhiên, thông tin về
tính chất của đất canh tác ở địa phương cũng sẽ được tìm hiểu. Những mẫu phiếu
thu thập số liệu sẽ giúp điều tra về hiện trạng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và
phân bón, đồng thời số liệu thu thập được sẽ được phân tích và đánh giá để đưa ra
những kết luận.
9
Đồ án tốt nghiệp – SV Nguyễn Thế Đình
Đề tài đã đưa ra cơ sở lý thuyết tổng quan về phân bón, thuốc bảo vệ thực vật;
thông tin tổng quan về địa phương nghiên cứu bao gồm: điều kiện tự nhiên – xã
hội, môi trường ở địa phương. Đưa ra những số liệu thu thập từ việc phân tích đất
và nước ở địa phương và các kết quả phân tích thống kê từ các số liệu đó. Từ đó
đưa ra những kiến nghị về việc sử dụng hợp lí thuốc bảo vệ thực vật và phân bón.
Đề tài đã thu thập số liệu về việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật
của nông dân trồng lúa ở địa phương, đồng thời đưa ra những kết quả phân tích đất
và nước ở những vùng nghiên cứu để đưa ra những kết luận và kiến nghị.
Để tài bao có 4 chương chính bao gồm: Chương 1: Tổng quan về đề tài.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Kết quả nghiên cứu. Chương 4:
Kết luận và kiến nghị.
10
Đồ án tốt nghiệp – SV Nguyễn Thế Đình
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về phân bón
Phân bón là thành phần cực kì quan trọng, quyết định năng suất cây trồng.
Qua một thế kỉ, các nhà khoa học đã xác nhận rˆng năng suất cây trồng đã tăng
50% dựa vào việc sử dụng phân bón. Việc bón phân cho cây trồng cho hiệu quả
bˆng với việc kết hợp với các yếu tố khác như thời vụ trồng, làm đất, luân canh,

5,
4 kg K
2
O, tỉ lệ sử dụng N:P:K là 1:0.36:0.12 cho tổng số phân bón cho 1ha
đất canh tác là 49 kg phân bón nguyên chất [13]
* Ở Việt Nam
Việc sử dụng phân bón hóa học có thể chia thành các giai đoạn sau:
- Từ 1961-1970: ở giai đoạn này việc sử dụng phân bón hóa học trong nông
nghiệp chưa cao. Tổng số N, P, K bón cho đất khoảng 30 kg nguyên chất. Từ
1971-1975: ở miền Bắc sử dụng tương đối nhiều. Tổng số N, P, K bón cho 1ha đất
canh tác là 50kg nguyên chất. Từ năm 1976 đến nay lượng phân bón hóa học được
sử dụng tăng nhanh chóng. Năm 1990 lượng phân bón được dùng tăng 418.6% so
với năm 1980, năm 1995 tăng 557% so với năm 1980 và tăng 33.2% so với năm
1990.[13]. Đến năm 1997 lượng phân bón N, P, K cho 1 ha gieo trồng đã đạt
126kg/năm nhưng vẫn còn thấp so với một số nước châu Á như: Hàn Quốc 467
kg/ha, Nhật Bản 403 kg/ha [44]
1.1.3. Sử dụng phân bón và vấn đề môi trường
Sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu bệnh là chìa khóa của sự thành
công trong cách mạng xanh và bảo vệ thực vật, lương thực. Tuy nhiên trong những
năm gần đây, nhiều người đã lo ngại về ảnh hưởng của phân bón đến môi trường
và sức khỏe của con người. Gây độc hại cho nguồn nước, cho đất bởi thuốc trừ sâu
và Nitrat (NO
3
), P, K, và SO
4
và do đó, tác động xấu đến sức khỏe con người, các
động vật hoang dã và làm suy thoái hệ sinh thái [13].
13
Đồ án tốt nghiệp – SV Nguyễn Thế Đình
a. Phân bón vô cơ

thường gặp
là: Super phosphat đơn Ca(H
2
PO
4
)
2
; Super phosphat kép; phân lân nung chảy.
- Phân Kali: KCl (50 – 55% K); Kali sulfat (K
2
SO
4
) …
b. Phân bón hữu cơ:
- Phân bón có nguồn gốc thực vật: gồm các loại rong, thân các cây thuộc họ
đậu (Fabaceae) sau khi thu hoạch như đậu xanh, đậu nành, đậu đỏ hoặc rơm, rạ,
bèo hoa dâu, tro trấu, bã mía, gốc mía …
- Phân bón có nguồn gốc động vật: gồm phân heo, gà, trâu, bò, dơi, cút …
đã được ủ (hoai), phân tôm, cá …
- Phân bón vi sinh: là chế phẩm có chứa một hoặc nhiều chủng vi sinh vật
sống, có ích cho cây trồng đã được tuyển chọn, có sức lao động cao, sử dụng bón
vào đất hoặc xử lý cho cây để cải thiện hoạt động của vi sinh vật trong đất vùng rễ
cây nhˆm tăng cường sự cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng, cung cấp
chất điều hòa sinh trưởng, các loại men, vitamin có lợi cho các quá trình chuyển
hóa vật chất, cung cấp kháng sinh để giúp cho cây trồng có khả năng chống chịu
các loại sâu bệnh hại, góp phần nâng cao năng suất, phẩm chất nông sản va tăng
độ màu mỡ của đất.
Các loại phân vi sinh vật chủ yếu: phân vi sinh vật cố định đạm, phân vi
sinh, phân giải lân, vi sinh phân giải kali.
Phân hữu cơ tuy có tác dụng chậm nhưng bền, làm cho đất màu mỡ hơn,

Đồ án tốt nghiệp – SV Nguyễn Thế Đình
1.1.5. Tác động của phân bón đến môi trường sinh thái đất:
Chúng ta biết rˆng cây chỉ sử dụng hữu hiệu tối đa 30% lượng phân bón
vào đất. Còn lại, phần thị bị rửa trôi, phần nˆm lại trong đất ô nhiễm môi trường.
- Phân đạm: tăng tính chua của môi trường đất vì dạng axit nitrit (HNO
3
) rất
phổ biến trong đất và phần lớn nitrat phân bón được giữ lại trong đất, chúng sẽ
ngấm xuống nước ngầm dưới dạng NO
3
.
- Phân lân: có thể chứa một số nguyên tố như cadimi, chì, niken. Sử dụng
phân lân lâu dài dẫn tới sự tích lũy trong đất những hỗn hợp chất hóa học độc,
chúng có khả năng di chuyển vào cây trồng trên đất đó.
Các dạng phân hóa học đều là các muối của các axit (muối kép hoặc muối
đơn). Vì vậy, khi hòa tan thường gây chua cho môi trường đất. 60 – 70% lượng
phân bón cây không sử dụng hòa tan vào nước ngầm làm xấu môi trường sinh thái,
gây hại cho động vật. Mặt khác, sự tích lũy các hóa chất dạng phân bón cũng gây
hại cho môi trường sinh thái đất về mặt cơ lý tính. Đất nén chặt, độ trương co kém,
kết cấu vững chắc, không tơi xốp mà nông dân gọi là đất trở nên “chai cứng”, tính
thông khí kém đi, vi sinh vật ít đi vì hóa chất hủy diệt.
- Phân hữu cơ: có tác dụng cải tạo đất, tăng thêm chất dinh dưỡng đa lượng
và vi lượng, tăng tỉ lệ mùn và tích lũy được nhiều P, K tổng số cho đất, tạo tiền đề
cho đất có độ phì nhiêu cao và tăng độ xốp của đất. Nhưng nếu phân không ủ đúng
kỹ thuật sẽ gây ô nhiễm môi trường đất, diệt một số vi sinh vật có lợi trong đất.
Đa số phân bón đều chứa những chất dơ không thể bỏ hết vì muốn giữ giá thành
sản phẩm thấp nên thường gặp các vết kim loại và hóa chất như: As, Cd, Co, Cu,
Pb, Zn … Do vậy, sau khi dùng phân bón một thời gian dài những chất này sẽ tích
lũy trong đất làm cho đất bị chai xấu, thoái hóa, không canh tác tiếp tục được.
1.1.6. Tác động của phân bón đến sức khỏe con người:

trên các vườn cam tại Mỹ. Năm 1896 người ta đã ghi nhận một số biện pháp diệt
cỏ dại đầu tiên là loại sulfate, và một số loại chất vô cơ khác như sodium nitrate,
amonium sulfate và axít sulfuric được sử dụng như thuốc diệt cỏ. Cuối thế kỷ thứ
19, HgCl
2
được sử dụng rộng rãi để làm thuốc trừ nấm. Nhìn chung các nguyên
liệu được sử dụng trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 hầu hết là những
chất vô cơ : Arsenic, Antimony, Selenium, Sulfur, Cooper hoặc một số chất thảo
mộc.
17
Đồ án tốt nghiệp – SV Nguyễn Thế Đình
Đầu thế kỷ thứ 20, hợp chất thủy ngân Phenyl (1915), thủy ngân
Akyloxyalkyl (vào những năm 20) và thủy ngân alkyl (vào những năm 40) được
dùng làm thuốc trừ nấm. Các hợp chất Arsenate được sử dụng cho đến khi được
thay thế bởi các hợp chất fluorine vào thập kỷ thứ 20. Đầu những năm 30, hợp
chất Dưỡng và Thyocyanates được sử dụng rộng rãi để diệt côn trùng.
Ở thế chiến thứ II, một số nước trên thế giới tập trung cho việc sản xuất các
loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm Chlor hữu cơ : DDT (Dichlorophenyl
Trichlorothane), HCH (Hexachloro cychlorothane) còn được gọi là (Benzen
Hexachloride hay BHC). Đến năm 1940 hợp chất Lidan là dạng đồng phân gama
của BHC có tính sát trùng cao đã được tổng hợp.
Bên cạnh đó, những loại thuốc trừ sâu thuộc nhóm lân hữu cơ cũng xuất
hiện. Năm 1944 chất có tên thương mại Bladan là một ester đặc trưng của axít
Pyrophosphoric (hoặc Tetrathyl Pyrophosphoric - TEPP). Sau đó, hơn 7.000 hợp
chất hữu cơ ra đời. Trong đó, Methyl Parathion là thuốc trừ sâu thông dụng nhất
và chiếm thị trường nhiều nhất lúc bấy giờ. Một chất có độ độc cao hơn như:
Sarin, Sorman và Tabun cũng ra đời từ đó.
Nhóm thứ 3 trong hóa chất BVTV là nhóm Carbamates. Được phát minh
vào những năm cuối thập niên 1940 bởi các nhà khoa học Thụy Sĩ. Việc thương
mại hóa các sản phẩm thuộc nhóm Cathamates bắt đầu vào những năm 1950, với

1993 24.800 33,4 18.000 72,7
1994 20.380 58,9 15.226 68,3
1995 25.666 100,4 16.451 64,1
1996 32.751 124,3 17.352 53,0
1.2.2. Khái niệm về thuốc BVTV
Thuốc BVTV (Pesticides) là tất cả các hóa chất được sử dụng trong công
tác bảo vệ và điều hòa tăng trưởng cây trồng. Như thế có nghĩa thuốc BVTV đóng
một vai trò hết sức to lớn trong canh tác nông nghiệp.
Những tác động do thuốc BVTV gây ra là do tính độc (Toxicity) của
chúng. Tính độc của một chất là khả năng gây độc của chất đó đối với cơ thể dịch
hại. Tính độc được thể hiện bˆng độ độc. Độ độc của mỗi loại chất độc thay đổi
tùy theo đối tượng bị gây độc, liều lượng, thời gian gây độc v.v
1.2.3. Phân loại thuốc BVTV
Hiện nay, thuốc BVTV rất đa dạng và phong phú về cả chủng loại và số
lượng, tuy nhiên có thể phân loại thuốc BVTV theo các hướng sau:
1. Phân loại theo đối tượng phòng trừ
19
Đồ án tốt nghiệp – SV Nguyễn Thế Đình
Theo cách phân loại này ta có các nhóm sau:
* Thuốc diệt động vật không xương sống, gồm:
- Diệt côn trùng (Insecticides): Cypemlethrin, Methamidophos,
- Thuốc diệt ốc sên (Molluscicides): Metaldehyde
- Thuốc diệt tuyến trùng (Nematicides): Ethoprophos
- Thuốc diệt nhện (Acaricides): Amitraz
* Thuốc diệt động vật có xương sống, gồm:
- Thuốc diệt loại gặm nhấm (Rodenticides) .
- Thuốc diệt chim (Avicides)
- Thuốc diệt cá (Piscicides)
* Thuốc diệt vi sinh vật, gồm:
- Thuốc trừ nấm (Fungicides): chuyên sử dụng để trừ các loại bệnh do nấm

+ Protozoa (động vật đơn bào)
4. Phân loại theo tính độc của thuốc
Tổ chức y tế thế giới (WHO) và tổ chức Lương nông Quốc tế trực thuộc
Liên Hiệp Quốc (FAO) phân loại độc tính của thuốc như sau:
Bảng 1.2 : Phân loại thuốc BVTV của WHO theo độ độc cấp tính
Nhóm
LD
50
trên chuột (mg a.i./kg thể trọng)
Qua đường miệng Qua da
Thể rắn Thể lỏng Thể rắn Thể lỏng
IA (cực độc) < 5 <20 < 10 < 40
IB (độc cao) 5 – 50 20 – 200 10 – 100 40 – 400
II (độc trung
bình)
50 – 500 200 – 2000 100 – 1000 400 – 4000
III (độc nhẹ) > 500 > 2000 > 1000 >4000
Nguồn: Asian Development Bank, 1987.
Ngoài ra, còn có nhiều hệ phân loại tính độc khác.
1.2.4.Đặc tính sinh - hóa học của một số nhóm thuốc BVTV chính
1.2.4.1. Các thuốc BVTV nhóm Chlor hữu cơ
Các thuốc Chlor hữu cơ (CHC) chứa chủ yếu các nguyên tử carbon,
chlorine và hydrogen. Chất tiêu biểu của nhóm thuốc này là DDT (hiện nay đã bị
21
Đồ án tốt nghiệp – SV Nguyễn Thế Đình
cấm ở hầu hết các nước trên thế giới). Đa số các thuốc Chlor hữu cơ bị chỉ trích vì
khả năng tồn tại bền vững của nó và sự tích lũy tăng bội sinh học trong chuỗi thực
phẩm (chainfood). Trong nhóm do hữu cơ có các nhóm thuốc sau:
* Nhóm DDT và các chất liên quan
Nhóm này gồm có các đại diện như DDT, DDD (TDE), Methoxychlor,

tác động của UV và ánh sáng thấy. Do đó, chúng được dùng phổ biến ở dạng
thuốc xử lý vào đất để trừ mối và các côn trùng đất có giai đoạn ấu trùng ăn phá rễ
non. Các thuốc nhóm này rẻ, khả năng tiêu diệt bền bỉ nên được ưa chuộng trước
đây. Tuy nhiên hiện nay côn trùng đất đã phát triển tính kháng với chúng, do đó
mức tiêu thụ sau đó ít dần. Riêng Ở Mỹ, từ 1975 đến 1980 cơ quan Bảo vệ Môi
trường đã cấm dùng nhóm này. Riêng Aldrin và Dieldrin còn tiếp tục dùng để trừ
mối thì đến năm 1984 bị cấm luôn, đồng thời Chlordane và Heptachlor cũng bị
cấm vào năm 1998.
Các thuốc cyChlordien gây độc thần kinh tương tự như DDT và HCH.
chúng cũng làm rối loạn sự cân bˆng muối và khu trong nơ con nhưng theo một
cách khác với DDT và HCH. Trong nhóm này, nhà nước Việt Nam đã cấm sử
dụng Aldrin, Dieldrin, Endrin, Chlordane, Heptachlor, Isodrin, và hạn chế
Endosulfan vào tháng 5 năm 1996.
* Các Potychlorterpene
Nhóm Polychlorterpene chỉ có hai chất là Toxaphene ( 1 947) và Strobane
(1951). Toxaphene sinh ra từ sự ảo hóa Camphene, một chất từ cây thông. Trong
nông nghiệp, Toxaphene được dùng rất nhiều, dùng ở dạng đơn độc hoặc phối hợp
với DDT hoặc với Methyl Parathion. Toxaphene là một hỗn hợp 177 chất dẫn xuất
Chlor hóa của hợp chất 10 carbon. Thành phần cực độc của hỗn hợp Toxaphene
này là Toxicant A, chỉ chiếm 3% trong hỗn hợp kỹ thuật. Chất này độc gấp 18 lần
trên chuột, 6 lần trên ruồi, và 36 lần trên cá vàng so với hỗn hợp Toxaphene kỹ
thuật.
Các loại thuốc này lưu lại lâu trong đất nhưng không lâu bˆng
cyChlordiene, và thường biến mất khỏi bề mặt thực vật sau khi phun hai hay ba
23
Đồ án tốt nghiệp – SV Nguyễn Thế Đình
tuần. Sự mất đi chủ yếu là do bay hơi hơn là do biến đường hoặc quang phân giải.
Thuốc dễ bị biến đổi trong cơ thể động vật hoặc loài chim. Thuốc không tồn lưu
trong mô mỡ. Tuy ít độc cho côn trùng, động vật có vú và chim, thuốc lại rất độc
đối với cá tương tự như Toxaphene. Cơ chế gây độc cũng tương tự như

Dichlorvos là dẫn xuất aliphatic có áp suất hơi lớn, hiện bị hạn chế sử dụng.
Mevinphos là một phospho hữu cơ rất độc nhưng rất mau phân hủy, dùng tết trong
sản xuất rau thương phẩm. Thuốc này có thể dùng một ngày trước khi thu hoạch
mà không để lại dư lượng trên rau thu hoạch ngày sau.
Methamidophos (hiện đã bị cấm sử dụng) và Acephate là hai phospho hữu
cơ dùng nhiều trong nông nghiệp, đặc biệt là trừ côn trùng trên rau. Ngoài ra còn
có các thuốc khác cùng loại là Phosphamidon (Dimecron), Naled (Dibrom), và
Propretamphos (Saprotin).
Sebutos (Apache, Rugby) là loại thuốc diệt côn trùng và tuyến trùng hiệu
quả trên bắp, đậu phộng, mía và khoai tây.
Nhìn chung, các dẫn xuất aliphatic đều có cấu trúc đơn giản, độ độc thay
đổi rất nhiều, khá hòa tan trong nước, có tính lưu dẫn tốt. Một số trong nhóm này
hiện bị hạn chế hoặc cấm sử dụng ở Việt Nam.
* Các dẫn xuất Phenyl
Các thuốc nhóm này có một phenyl gắn vào phân tử acid phosphoric, các vị
trí còn lại của phân tử acid phosphoric thường mang các nhóm Cl, NO2' CH3' có
hoặc S. Các phosphophenyl thường bền hơn các phospho hữu cơ Aliphatic do đó
dư lượng cũng cao hơn.
Parathion là một phospho hữu cơ phenyl quen thuộc nhất và là chất
phospho hữu cơ thứ nhì được đưa vào dùng trong nông nghiệp năm 1947 sau
TEPP. Ethyl Parathion là dẫn xuất phenyl đầu tiên được sử dụng rộng rãi nhưng
do quá độc nên đã bị nhà nước Việt Nam cấm từ tháng 5 năm 1996 (ở Mỹ cấm từ
năm 1991).
Năm 1949 Methyl Parathion (hiện đã bị cấm sử dụng) xuất hiện và tỏ ra ưu
việt hơn Ethyl Parathion ở chỗ nó ít độc cho người và gia súc, đồng thời tiêu diệt
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status