MỤC LỤC
1
1
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2
BVTV
: Bảo vệ thực vật
HCBVT
: Hóa chất bảo vệ thực vật
IPM
: Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp
K2O%
( Integrated Pests Management)
: Hàm lượng kali tổng số
N%
: Hàm lượng đạm tổng số
3
3
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu 1: Cơ cấu hộ của thị trấn Trâu Quỳ năm 2013
Biểu 2: Thời điểm phun thuốc45
4
4
MỞ ĐẦU
Đặt vấn đề
Bước vào thế kỷ 21, với sự phát triển vũ bão của nền kinh tế thế giới,
nền kinh tế Việt Nam đang ngày một đi lên sánh vai với các cường quốc trên
thế giới. Sự chuyển đổi mạnh sang nền kinh tế thị trường cùng với việc mở
mang các khu công nghiệp đã và đang nảy sinh vấn đề trong an ninh lương
thực. Bên cạnh đó, sự bùng nổ dân số trong những năm qua đã làm tăng sức
ép lên các vùng đất nông nghiệp làm diện tích đất nông nghiệp đang ngày một
thu hẹp. Vậy làm thế nào để đáp ứng đủ nhu cầu của con người đang là một
vấn đề đặt ra cho thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Một trong những
biện pháp đó là sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất.
Trong vài thập kỷ gần đây năng xuất cây trồng không ngừng tăng lên, không
chỉ có sự đóng góp to lớn của công tác giống mà còn có vai trò quan trọng của
phân bón. Giống mới chỉ phát huy được tiềm năng năng xuất khi được bón
phân đầy đủ và cân đối. Sự ra đời của phân bón đã làm năng xuất cây trồng
của các nước Tây Âu tăng 50% so với luân canh với cây họ đậu. Theo FAO
Thị trấn Trâu Qùy là một thị trấn cũng có nền sản xuất nông nghiệp từ
lâu với mức đầu tư phân bón, thuốc BVTV cao. Sản phẩm nông nhiệp mà thị
trấn sản xuất ra không chỉ phục vụ nhu cầu cho người dân trong vùng mà còn
phục vụ nhu cầu cho các vùng lân cận. Vì vậy, tình hình sử dụng phân bón,
thuốc BVTV là vấn đề cần được quan tâm. Xuất phát từ vấn đề đó tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài:
“ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG PHÂN BÓN HÓA HỌC
VÀ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT TRONG SẢN XUẤT LÚA TẠI THỊ
TRẤN TRÂU QUỲ, GIA LÂM, HÀ NỘI”
Mục đích
Đánh giá thực trạng sử dụng phân bón, thuốc BVTV trong sản xuất lúa
tại thị trấn Trâu Qùy. Từ đó, đề xuất sử dụng phân bón và hóa chất BVTV
hợp lý để góp phần vào phát triển nông nghiệp bền vững, bảo vệ môi trường.
Yêu cầu
Tìm hiểu thực trạng sử dụng phân bón, thuốc BVTV trong sản xuất lúa
tại thị trấn Trâu quỳ.
Đánh giá được ảnh hưởng của việc sử dụng phân bón, thuốc BVTV
trong sản xuất lúa tới môi trường đất nông nghiệp tại thị trấn Trâu Qùy.
Đề xuất một số giải pháp sử dụng hợp lý phân bón, thuốc BVTV nhằm
bảo vệ môi trường tại địa phương.
6
6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1Tình hình sử dụng phân bón
1.1.1 Những khái quát chung về phân bón
1.1.1.1 Khái niệm
ví dụ: Phân bắc, nước giải, phân gia súc, phân gia cầm, phân xanh...khi vùi
trực tiếp vào đất).
Phân vi lượng gồm các nguyên tố: Cu, Zn, Mn, B, Mo, Fe, Co... chúng
được bón ở dạng đơn hoặc hỗn hợp.
Phân phức hợp vi sinh: gồm chế phẩm vi sinh, phân vi sinh, phân hữu
cơ vi sinh và phân phức hợp hữu cơ vi sinh.
7
7
Phân bón lá: là hỗn hợp của một số phân đa lượng, phân vi lượng và
một số chất điều hòa sinh trưởng. Loại phân này dùng để phun lên lá, hoa quả
và thân cây.
1.1.2Vai trò của phân bón trong sản xuất nông nghiệp
Phân bón là yếu tố quan trọng và là nguồn cung cấp chủ yếu dinh
dưỡng vô cơ cho cây trồng thông qua quá trình hấp thụ của bộ rễ. Nhưng cấu
tạo đất không giống nhau, đất ở mỗi vùng khác nhau. Vì vậy cải tạo đất chính
là bổ sung chất dinh dưỡng vào trong đất để cho cây trồng hấp thụ chất dinh
dưỡng nuôi thân cây, lá, hoa quả một cách phù hợp, làm cho cây trồng phát
triển tốt và sản phẩm đạt năng suất cao.
Việc bón phân hợp lý cho cây trồng vừa nhằm đạt năng suất cây trồng cao
thoả đáng với chất lượng tốt, hiệu quả sản xuất cao, đồng thời để ổn định và
bảo vệ được đất trồng trọt. Bên cạnh đó bón phân còn có thể làm môi trường
tốt hơn, cân đối hơn.
- Phân hữu cơ và vôi là các phương tiện cải tạo môi trường đất toàn
diện và hiệu quả:
phù hợp với sự phân bố dinh dưỡng trong các tầng đất. Trên đất bạc màu, sự
trênh lệch về độ phì giữa tầng canh tác và các tầng dưới rất lớn, cầy sâu mà
bón ít phân và không bón vôi, không những không làm tang năng suất mà còn
-
làm giảm năng suất khá rõ so với cây trồng.
Giống cây trồng: Các giống cây trồng khác nhau thì có nhu cầu chất dinh
dưỡng khác nhau (theo Viện Thổ nhưỡng- Nông hóa 2003. Lúa thường có
năng suất 5,0- 5,5 tấn/ha lượng hút dinh dưỡng chính N là 100-120kg/ha,
P2O5 là 40-50kg/ha, K2O là 100-120kg/ha còn đối với Lúa lai có năng suất
6,5- 7,0 tấn/ha lượng hút dinh dưỡng chính N là 150-180kg/ha, P 2O5 là 7080kg/ha, K2O là 180-200kg/ha) do vậy cần phải bón phân cân đối theo yêu
-
cầu mới phát huy hết tiềm năng năng suất của giống.
Mật độ gieo trồng và chế độ bón phân có quan hệ rất mật thiết và phức tạp,
-
phải được xây dựng một cách thích hợp đối với mỗi cây.
Tưới tiêu: Đất được tưới tiêu chủ động làm tang hiệu quả phân bón, có khả
năng bón nhiều phân để đạn hiệu quả sản xuất cao hơn. Yêu cầu về phân bón
ở các vùng có tưới và không tưới khác nhau. Đồng thời phân bón làm giảm
lượng nước cần thiết để tạo nên một đơn vị chất khô nên tiết kiệm được lượng
-
nước cần tưới.
Trong công tác bảo vệ thực vật: bón phân cân đối và hợp lý là cơ sở quan
Bón thiếu đạm: cây trồng rút ngắn thời gian sinh trưởng, năng suất phẩm chất
-
giảm. Ví dụ tỉ lệ vitamin B2 trong rau giảm.
Bón thừa kali: làm giảm hàm lượng magie trong cỏ làm thức ăn gia súc, làm
độc vật nhai lại đễ mắc bệnh co cơ đồng cỏ.
Vậy: Bón phân không cân đối cho cây trồng tạo ra thức ăn không cân
đối, thiếu các vitamin, thiếu nguyên tố vi lượng, khiến người và động vật dù
ăn nhiều vẫn không tang trọng được và vẫn mắc các bệnh suy dinh dưỡng,
thiếu máu, vô sinh…
Vậy: Bón phân hoá học cân đối và hợp lý kết hợp bón phân hữu cơ vừa
tạo được năng suất và chất lượng nông sản tốt, vừa làm đất trở nên tốt hơn.
10
10
1.1.3 Tình hình sản xuất và sử dụng phân bón trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.3.1Trên thế giới
Thực trạng sản xuất và sử dụng phân hóa học
Phân bón là một yếu tố quan trọng nhất trong sản xuất nông nghiệp, từ
khi biết sản xuất nông nghiệp loài người đã biết sử dụng phân bón và cây họ
đậu để cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng. Trong mấy thập kỷ vừa qua, năng
suất cây trồng không ngừng được tăng lên, ngoài vai trò của giống mới còn
có tác dụng quyết ðịnh của phân bón. Giống mới chỉ phát huy ðýợc tiềm nãng
của mình – cho năng suất cao khi được bón đủ phân và hợp lý.
K2O
Tổng
29,1
168,4
23,1
155,3
23,6
163,5
27,6
172,6
28,2
176,6
Nguồn: IFA 11/2012.
Trong các nước tiêu thụ phân bón trên thế giới Trung Quốc là nước tiêu
thụ phân bón lớn nhất, tiếp đến Ấn Độ, Mỹ, Braxin…nhóm 10 nước này
chiếm trên 74% sản lượng tiệu thụ toàn cầu(Bảng 1.2).
Bảng 1.2: Nhóm 10 nước tiêu thụ phân bón lớn nhất toàn cầu năm
2010/2011
Đơn vị: triệu tấn
Nước
Trung
Quốc
11
N
34,10
Nước
Đức
Nga
Tổng cộng
16,15
11,93
3,35
2,93
2,70
2,12
1,94
1,70
1,38
78,30
Ân Độ
Mỹ
Braxin
Pakistan
Uc
Canada
Thỗ nhĩ kỳ
Nga
Indonesia
8,00
3,99
3,30
0,80
0,74
Indonesia
Pakisatn
Pháp
Cannada
Đức
Nga
27,95
20,18
9,80
4,90
3,76
3,05
2,91
2,33
2,26
128,24
Nguồn: IFA, 2011
Nhu cầu về phân bón vi sinh vật trên thế giới là rất lớn. Đây là phương
hướng tương lai của nông nghiệp để nhằm giảm bớt tác hại của việc sử dụng
không cân đối các loại phân hóa học, việc làm ô nhiễm môi trường và việc chi
phí quá nhiều ngoại tệ để nhập khẩu phân bón vô cơ ,trên thế giới hiện nay sử
dụng phân bón hữu cơ và phân bón hóa học .
Thực trạng sản xuất sử dụng phân hữu cơ trên thế giới
Hiện nay các nước trên thế giới đang quan tâm đến việc sử dụng phân
hữu cơ bao gồm phân chuồng, phân ủ, phân xanh các loại và phân vi sinh.
Ấn Độ hàng năm sản xuất khoảng 286 triệu tấn phân ủ (compost) từ
5
6
Loại
Số lượng
Phân đơn
17
NPK
1084
Hữu cơ khoáng
79
Vi sinh vật
20
Trung lượng- vi lượng 60
Khác
160
Nguồn:Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Ta thấy nước ta phân bón hóa học, phân vô cơ(NPK) đang tràn lan trên
thị trường với 1084 loại trong đó có cả phân bón giả đang được bầy bán trên
thị trường khá nhiều chưa kiểm soát được (theoPGS. TS. Nguyễn Kim Vân,
Hội Khoa học Kỹ thuật Bảo vệ thực vật Việt Nam). Nhóm phân bón NPK
( thành phần chủ yếu là nito, photpho và kali) được bà con nông dân sử dụng
nhiều trong sản xuất nông nghiệp vì có giá thành rẻ, hầu như thích hợp với tất
cả các loại cây trồng( tất cả các loại cây trồng đều không thể thiếu N, K, P),
hiệu quả mang lại cao, giúp cây trồng hấp thụ các chất dinh dưỡng tốt hơn.
Loại phân hữu cơ khoáng (79 loại) là loại phân bón được sản xuất từ
phân hữu cơ chế biến công nghiệp hoặc hữu cơ sinh học trộn thêm một hoặc
một số yếu tố dinh dưỡng vô cơ, trong đó có ít nhất một yếu tố dinh dưỡng vô
cơ đa lượng đạt quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.
chất lượng nông sản (theo TCVN 6168-1995).
Loại phân đơn (17 loại) là loại trong thành phần chỉ chứa một yếu tố
dinh dưỡng đa lượng N hoặc P2O5 hữu hiệu hoặc K2O hữu hiệu.
Loại phân khác (160 loại) như phân than bùn: như Biomix, Biofer,
Komix, Compomix, lân hữu cơ sinh học sông Gianh… Phân tro, phân dơi.
Theo ông Nguyễn Văn Bộ, Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt
Nam: Mỗi năm Việt Nam sử dụng khoảng 2 triệu tấn phân ure, khoảng 600
nghìn tấn DAP và một lượng gần tương đương như vậy với các loại phân bón
khác. Tổng lượng phân bón các loại sử dụng ở Việt Nam xấp xỉ 7,7 triệu tấn.
Tuy nhiên thực tế cho thấy việc sử dụng phân bón chỉ đạt được hiệu xuất
40%.Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế cho thấy dânsố toàn cầu là 7.100.649.960
người, sống trên 8.538.843.863 ha đấtsản xuất nông nghiệp. Như vậy, trung
bình trên thế giới có 1,2 hađất sản xuất nông nghiệp/đầu người, trong khi con
số này ở ViệtNam chỉ là 0,104 ha, bằng 8,7% trung bình thế giới (tính toán
theo số liệu thống kê đất đai của Viện QH-TKNN, 2011 trong Báo cáo: hiện
trạng sử dụng đấtđến 31/12/2010)Để nuôi sống dân số đang tăng lên, mỗi
quốc gia có thể ápdụng một hoặc nhiều biện pháp sau đây:
14
14
•
•
Tăng diện tích thông quakhai hoang các vùng đất mới;
Tăng vụ và Thâm canh (giốngmới, bón phân, quản lý sâu bệnh và áp dụng các
biện pháp thuỷnông thích hợp).
Tuy nhiên với Việt Nam, đất sản xuất nông nghiệpnói chung và đất sản
xuất cây lương thực cây thực phẩm nói riêngkhông những không tăng mà còn
đang giảm đi nhanh chóng cả vềsố lượng và chất lượng. Trong giai đoạn năm
chính tại Việt Nam
Cây trồng
Thời gian
Diện tích
(1000ha)
1921
4.732
Lúa
2012
7.769
2012 vs 1921, lần
1,64
1976
337
Ngô
2012
1.140
2012vs 1976, lần
3,38
1976
119
Cà phê
2012
614
2012 vs 1990, lần
5,15
1944
387
4.925
12,7
92
1.366
14,8
8
905
11,3
Nguồn: Số liệu thống kê Việt Nam thế kỷ 20, cuốn 1,2. NXB Thống kê,
năm 2004. Niên giám thống kê hàng năm. 2011, 2012: Báo cáo tổng kết Bộ
Nông nghiệp và PTNT và tính toán của tác giả.
Thời gian tới, khi dân số tăng lên, trung bình 1 triệu người/năm (Phụ
lục 4), trong khi diện tích đất canh tác thu hẹp lại do công nghiệp hóa, giao
thông, đô thị, bình quân diện tích đất trên đầu người giảm (Phụ lục 2) thì tăng
năng suất là con đường duy nhất để đảm bảo an ninh lương thưc và an sinh xã
hội.Theo Balu L. Bumb and Carlos A. Banante (1996), năng suất đóng góp
trên 80% sản lượng cây trồng, 20% còn lại là do tăng diện tích. Hiện nay, gần
như 100% sản lượng tăng thêm của các cây trồng chính tại Việt Nam là nhờ
tăng năng suất.
Có 3 con đường để tăng năng suất, đó là:
•
•
•
Cải thiện giống.
Tăng cường đầu tư, trong đó chủ yếu là hệ thống thủy lợi vàphân bón
Cải tiến kỹ thuật canh tác.
Với Việt Nam, chúng tôi cho rằng phân bón đóng góp cao hơn bởi vì
1970
1980
1990
2000
2007
1970 1980 1990 2000 2010
44,0
158,2 220,4 256,9
366,9
3,42
4,14
5,72
6,26
6,55
376,3 372,6 385,5 324,5
1,89
1,96
2,61
2,88
2,01
2,08
3,19
4,24
5,34
6,6
16,7
59,7
99,7
55,2
26,1
cũng chỉ khoảng 200kg N+P2O5 +K2O /ha/vụ. Lượng bón của Thái Lan hiện
thuộc loại thấp, chủ yếu do nước này có trên 10 triệu ha lúa sử dụng giống
chất lượng cao nên không chịu thâm canh.
Bảng 1.6: Sử dụng phân bón và năng suất cây trồng ở Việt Nam.
Đơn vị: 1000 tấn N+P2O5 +K2O
Tiêu thụ phân bón
Năm
Toàn cầu
Năng suất cây trồng , tấn /ha
Việt Nam
Lúa
Ngô
1961
31.182
89
1,34
1965
47.003
78
1,90
1970
69.308
311
2,01
2005
161.358
1.985
4,89
3,60
2010
163.500
2.582
5,34
4,11
2011
172.600
2.935
5,53
4,29
2012
176.600
2.774
5,66
4,32
2012
vs 566
3.116
422
375*
1961,%
* So với năm 1970; ** So với 1990 và *** so với 1980
Cà Phê
19
19
và 402.000 tấn kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62%. Song do điều kiện khí
hậu còn gặp nhiều bất lợi cho nên kỹ thuật bón phân mới chỉ phát huy được
30% hiệu quả đối với đạm và 50% hiệu quả đối với lân và kali. Nhưng hiệu
quả bón phân đối với cây trồng lại tương đối cao, do vậy mà người dân ngày
càng mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, ngành sản xuất phân
hóa học nước ta mới đáp ứng được khoảng 45% nhu cầu của nông nghiệp,
còn lại phải nhập khẩu gần như toàn bộ phân đạm urê, kali và phân phức hợp
DAP, một lượng khá lớn phân hỗn hợp NPK với tổng số trên 3 triệu tấn/năm.
Riêng đối với phân khoáng kali, do phải nhập khẩu hoàn toàn nên tiêu thụ kali
ở nước ta bị phụ thuộc thị trường nước ngoài.
Thực trạng sản xuất và sử dụng phân hữu cơ
Ở Việt Nam, theo ông Nguyễn VănBộ (Giám đốc Viện Khoa học
Nôngnghiệp Việt Nam (VAAS)) cách đây hơn 20 năm, bình quân bón mỗi vụ
cho 1ha gieo trồng khoảng 5-6 tấn phân hữu cơ. Hiện nay ước tính cũng chỉ
được 5-6 tấn, trừ một số vùng thâm canh cao lượng bón đạt 10 tấn/ha gieo
trồng. Ngược lại, ở một số vùng , do chăn nuôi giảm sút lượng phân chuồng
không có hoặc có ít thì số lượng bón lại thấp hơn nhiều hoặc có ít thì số lượng
bón lại thấp hơn nhiều hoặc có hiện tượng cấy chay- không phân chuồng.
Những năm qua, để phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và giảm bớt khó
khăn cho nông dân một số nhà sản xuất phân bón đã cùng với những nhà khoa
học nghiên cứu sản xuất nhiều loại phân hữu cơ sinh học và được đưa vào sử
dụng nhiều nơi, nhiều vùng trong cả nước, qua thực tế sử dụng cho thấy, phân
bón hữu cơ chế biến từ các nguồn phế phẩm vi sinh là một trong những loại
động của nhiệt độ hay quá trình phản nitrat hóa gây ô nhiễm không khí. Trong
số đó phân do sản xuất lúa gây ra đối với việc ô nhiễm môi trường là vấn đề
đáng được quan tâm nhất, vì hàng năm một lượng lớn phân bón được dành
cho sản xuất lúa.
Theo FAO, những vấn đề toàn cầu 2000-2020: Diện tích đất canh tác
chỉ có thể tăng 4%, trong khi đó 45 năm qua 11% diện tích đất trên hành tinh
bị tàn phá, gần 2 tỷ hecta đất đai mất đi thảm thực vật, 30% đất bị xói mòn...
nhiều nguyên nhân do thiên tai, do chiến tranh... Đặc biệt nguyên nhân quan
trọng là do con người nhiều nơi trên thế giới đã lạm dụng quá nhiều phân bón
hóa học đưa xuống đồng ruộng hàng trăm triệu tấn mỗi năm. Các công trình
nghiên cứu của FAO và WHO (World Health Organization) cho biết chưa có
một loại phân bón hóa học nào dùng đúng liều lượng hoặc quá liều lượng
21
21
trong lĩnh vực nông nghiệp mà không độc cho người, ô nhiễm môi trường...
nhiều loại cây bị đột biến gen, làm thay đổi cơ chế di truyền, đối với con
người gây nhiễm sắc thể, bệnh ngoài da, dị ứng và nhiều bệnh khác...
Đối với thảm thực vật, khi có một lượng dư thừa phân bón hóa học hàm
lượng qui định (theo qui định của khối EC 50mg/l trong nước), nếu quá vào
lòng đất sẽ làm thay đổi độ toan, cũng như những chỉ số lý hóa khác của dung
dịch đất, từ đó sẽ làm thay đổi cả một cộng đồng của nó, và kết quả dẫn đến
sự thay đổi những quá trình sinh hóa diễn ra trong đất. Nó còn kìm hãm sự
tiết ra chất Polyxacaxit (một chất dính) có tác dụng liên kết các hạt đất lại, do
đó đã làm tăng sự xói mòn của thảm đất và chính các yếu tố trên là tác nhân
góp phần làm lu mờ thực trạng của thảm thực vật đất tự nhiên.
Ông Will - chuyên gia cây nhiệt đới của FAO, chuyến đi điều tra và
khảo sát những năm trước ở nước ta cho biết: Đất ở nhiều vùng nước ta đã có
xu hướng bị thoái hóa, xói mòn như ở Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH) vùng
Làm đất bị chua hóa
Một số loại phân trong thành phần của chúng có chứa một lượng axit
dư tự do (như supe lân, hoặc sulfat đạm có chứa axit sulfuric dư), khi bón vào
đất cũng gây chua cho đất. Ngoài ra khi tăng cường bón phân hóa học, rễ cây
phải hô hấp mạnh để hấp thu dinh dưỡng, như vậy sẽ giải phóng nhiều CO 2,
từ đó hình thành H2CO3, H+ ở bề mặt lông hút sẽ trao đổi vớ các catrion của
dung dịch đất như K+, NH4+, hoặc Ca++ từ đó nó kết hợp với gốc sulfat hoặc
Clo của phân để hình thành lên axit gây chua cho đất.
Làm thay đổi tính chất sinh học của đất
Bón phân hóa học cùng với việc sử dụng nhiều thuốc trừ sâu trừ cỏ sẽ
dẫn tới hủy diệt hệ thống sinh học sống trong đất. Các sinh vật sống trong đất
như giun đất, vi sinh vật đất có vai trò cực kì quan trọng đối với các tính chất
hóa học và lý học của đất.
Khả năng xấu của phân bón ảnh hưởng tới môi trường
Các loại phân bón có thể tạo ra các chất gây ô nhiễm môi trường nếu
chúng ta bón phân không hợp lý và đúng kỹ thuật.- Khả năng gây ô nhiễm
môi trường từ phân hữu cơ có khi còn cao hơn cả phân hoá học. Việc sử dụng
không hợp lý cộng với khả năng chuyển hoá của phân ở các điều kiện khác
các loại phân hữu cơ có thể tạo ra nhiều chất khí CH4, CO2, H2S… các ion
khoáng NO3 vd: Ở Việt Nam do sử dụng phân bắc tươi trong trồng rau đã gây
ô nhiễm môi trường đồng thời ảnh hưởng tới sức khoẻ của người sử dụng.
23
độc hại cho người và động vật. Mức độ gây ô nhiễm không khí trường hợp
này nhỏ, hẹp không đáng kể so với mức độ gây ô nhiễm của các nhà máy sản
xuất phân đạm nếu như không xử lý triệt để. Phân bón ảnh hưởng đến môi
trường chủ yếu là do con người gây ra: Bón dư thừa các yếu tố dinh dưỡng
hoặc bón phân không đúng cách Phân bón gây ô nhiễm môi trường là do
lượng dư thừa các chất dinh dưỡng do cây trồng chưa sử dụng được hoặc do
24
24
bón không đúng cách… Nguyên nhân chính là do chưa nắm bắt được số
lượng , chất lượng và cách bón phân đúng cách để cây cối hấp thụ. Phần lớn
bà con nông dân sử dụng phân đạm (urê) là chính với số lượng lớn... mà
không cân đối với kali, lân… nên hiện tượng lúa lốp, cây dễ nhiễm sâu bệnh,
dễ bị đổ ngã, mía dể đỗ ngã... Nếu sử dụng bảng so màu lá thì sẽ sớm được
khắc phục. Cách bón phân hiện nay chủ yếu là bón vãi trên mặt đất, phân bón
ít được vùi vào trong đất. Xét về mặt hoá học đất, các keo đất là những keo
âm (-) còn các yếu tốdinh dưỡng hầu hết là mang điện tích dương (+). Khi
bón phân vào đất, được vùi lấp cẩn thận thì các keo đất sẽ giữ lại các chất
dinh dưỡng và nhả ra từ từ tuỳ theo yêu cầu của cây trồng theo từng thời kỳ
sinh trưởng của cây. Như vậy, bón phân có vùi lấp không chỉ có tác dụng hạn
chế sự mất dinh dưỡng, tăng hiệu suất sử dụng phân bón mà còn làm giảm bớt
ô nhiễm môi trường. Các yếu tố vi lượng như Đồng (Cu), Kẽm (Zn)… rất cần
thiết cho cây trồng sinh trưởng và phát triển và có khả năng nâng cao khả
năng chống chịu cho cây trồng. Tuy nhiên khi lạm dụng các yếu tố trên lại trở
thành những loại kim loại nặng khi vượt quá mức sử dụng cho phép và gây
độc hại cho con người và gia súc.
Nhà máy sản xuất phân bón nếu không có biện pháp xử lý ô nhiễm triệt
để sẽ gây ô nhiễm đến môi trường xung quanh. Đây là nguyên nhân gây ảnh