BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGÔ THỊ MỸ BÌNH
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG
THUỐC ĐIỀU TRỊ BỆNH TÂM THẦN
PHÂN LIỆT TRONG CỘNG ĐỒNG TẠI
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
HÀ NỘI 2014
HÀ NỘI 2014 LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng uỷ, Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau
Đại học và Bộ môn Dược lý, Dược lâm sàng, trường Đại học Dược Hà Nội,
trường Đại học Y Dược Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin tỏ lòng biết ơn đến Đảng uỷ, Ban giám đốc Trạm tâm thần tỉnh
Thái Nguyên, trung tâm y tế thành phố Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện cho
tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin đặc biệt bày tỏ tình cảm và lòng biết ơn sâu sắc tới:
- PGS. TS. Đào Thị Vui, trưởng bộ môn Dược lực, trường Đại học Dược
Hà Nội.
- TS. Trần Văn Tuấn, trưởng bộ môn Dược lâm sàng, trưởng khoa Dược,
trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Là những người thầy trực tiếp dạy dỗ, hướng dẫn giúp đỡ tôi hoàn thành
chương trình học tập và nghiên cứu.
Tôi xin bày tỏ tình cảm và lòng biết ơn tới:
Bác sỹ CK1 Nguyễn Thị Phương Loan, Bệnh viện Đa khoa Trung Ương
Thái Nguyên đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới toàn thể cán bộ nhân
viên của 28 trạm y tế phường xã thành phố Thái Nguyên, gia đình, bạn bè và
đồng nghiệp đã luôn cổ vũ, động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu,
học tập và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 20 tháng 08 năm 2014
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ATK: An thần kinh
BN: Bệnh nhân
Cs: Cộng sự
DSM – IV: Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần
(Diagnostic and statistical Manual of Mental Disorder)
ICD – 10: Phân loại quốc tế về bệnh
(Intenational Classification of Diseases)
NXB: Nhà xuất bản
TB: Trung bình
TDKMM: Tác dụng không mong muốn
THCS: Trung học cơ sở
THPT: Trung học phổ thông
TP: Thành phố
TTPL: Tâm thần phân liệt DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 1.1 Một số thuốc ATK thường dùng trong điều trị TTPL 13
Bảng 1.2 Liều dùng thông thường của các thuốc ATK điều trị ngoại trú 19
Bảng 1.3 Các thuốc ATK sử dụng trong điều trị TTPL tại cộng đồng TPTN 22
Bảng 2.1 Kết quả bốc thăm ngẫu nhiên chọn địa điểm nghiên cứu 24
Bảng 2.2 Thang đánh giá mức cải thiện lâm sàng toàn bộ CGI 29
Bảng 3.1 Tỷ lệ bệnh nhân điều trị TTPL trong cộng đồng TP Thái Nguyên 32
Bảng 3.2 Phân bố bệnh nhân TTPL theo tuổi và giới tính 33
Bảng 3.3 Tuổi khởi phát và thời gian mắc bệnh của nhóm nghiên cứu 34
Bảng 3.4 Trình độ văn hóa của nhóm nghiên cứu 34
Hình 3.1 Thời gian sử dụng các thuốc ATK 39
Hình 3.2 Lý do BN thay đổi liều trong quá trình điều trị 41
Hình 3.3 Lý do BN không tái khám trong điều trị TTPL cộng đồng 44
Hình 3.4 Sự phân bố thể bệnh TTPL 45
Hình 3.5 Tổng điểm thang BPRS tại 3 thời điểm nghiên cứu 47
Hình 3.6 Điểm các triệu chứng dương tính theo thang BPRS tại 3 thời điểm 485
Hình 3.7 Điểm các triệu chứng âm tính theo thang BPRS tại 3 thời điểm 48
Hình 3.8 Tỷ lệ BN có cải thiện lâm sàng theo thang CGI 50
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo tổ chức Y tế thế giới “Sức khoẻ không những là tình trạng không
bệnh không tật mà còn là trạng thái hoàn toàn thoải mái dễ chịu về cơ thể, tâm
thần và xã hội”. Trong đó sức khoẻ tâm thần có vị trí trung tâm, là giá trị quí
báu đối với mọi người.
Tâm thần phân liệt (TTPL) là một trong những bệnh tâm thần nặng và
thường gặp nhất trong các rối loạn tâm thần. Bệnh có xu hướng tiến triển mạn
tính, dẫn đến rối loạn nặng nề về tư duy, hành vi, cảm xúc, trí tuệ, làm giảm
hoặc mất khả năng thích nghi, lao động, sáng tạo, gây ra những tổn thất lớn về
kinh tế và xã hội.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ người mắc bệnh
tâm thần phân liệt ở các khu vực khác nhau trên thế giới khoảng 0,5 – 1,5% dân
số. Tại Việt Nam, tỷ lệ này khoảng 0,47% [4]. Tuy tỷ lệ mắc bệnh không cao
nhưng đây là bệnh có khuynh hướng tiến triển mạn tính, cần phải theo dõi điều
trị lâu dài, nguy cơ tái phát cao, thường để lại hậu quả nặng nề cho bệnh nhân,
gia đình và gánh nặng cho xã hội.
3
Chương 1. TỔNG QUAN
1.1. Bệnh tâm thần phân liệt
1.1.1. Tình hình bệnh tâm thần phân liệt trên thế giới và tại Việt Nam
Trong báo cáo “gánh nặng bệnh tật toàn cầu” năm 2004 của Tổ chức Y tế
Thế giới, khi đánh giá bằng công cụ DALYs (the disability-adjusted life years),
bệnh tâm thần phân liệt là nguyên nhân thứ sáu gây tàn tật ở các nước đang
phát triển [73]. Ước tính có khoảng 2 triệu người Mĩ bị bệnh, còn trên toàn thế
giới có khoảng 2 triệu trường hợp mới mắc trong năm [55].
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, số bệnh nhân TTPL
chiếm tỉ lệ 0,5 – 1,5% dân số [4]. Theo Alvarez E. (2006), tỉ lệ mới mắc của
bệnh TTPL là từ 1,1 – 7/10.000 dân [39], Kaplan H.I và Sadock B.J (1994) là
2,5 – 5/10.000 dân [56]. Trong nhóm cộng đồng dân cư nghèo, tỷ lệ mắc bệnh
cao hơn ở các nước phát triển nhưng tỷ lệ mới mắc tương đương nhau ở các
tầng lớp xã hội, kể cả các nước phát triển cũng như đang phát triển [67].
Tại Việt Nam, theo thống kê chương trình Quốc gia năm 2005 về dự án
bảo vệ sức khỏe tâm thần dựa vào cộng đồng, tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt
là 0,3 - 1% dân số (trung bình 0,47%) [7]. Bệnh mắc phần lớn trong độ tuổi từ
15 - 35 (48% khởi phát ở lứa tuổi 20 - 29), nam sớm hơn nữ, tỷ lệ tái phát cao
(95 - 98%) [26].
Theo Nguyễn Minh Hải và cộng sự (2007), tỉ lệ bệnh nhân TTPL điều trị
trong cộng đồng trạm y tế thị trấn Vĩnh An, tỉnh Đồng Nai là 0,19% [13].
Nguyễn Cảnh Phú (2013) cũng ghi nhận tỉ lệ này tại Nghệ An là 0,34% [23].
Tại Hà Tây, Bùi Thế Khanh (2005) xác định tỷ lệ mắc bệnh TTPL là 0,33%
[21]. Cũng tại Thái Nguyên năm 2002 của Trần Viết Nghị và Nguyễn Viết
Thiêm (2002) xác định tỷ lệ TTPL tại cộng đồng là 0,26% [22]. Như vậy, tỷ lệ
mắc bệnh TTPL khác nhau giữa các nghiên cứu và giữa các vùng dân cư.
1.1.2. Một số nghiên cứu về điều trị bệnh TTPL tại cộng đồng
Sau thời gian điều trị nội trú tại bệnh viện, bệnh nhân TTPL tiếp tục điều
nhân TTPL bao gồm: khởi phát bệnh ở lứa tuổi trẻ, gia đình có người bị bệnh
tâm thần phân liệt, kém tuân thủ điều trị, có các sang chấn tâm lý, sống độc
thân, ít hoặc không nhận được sự quan tâm, động viên, hướng dẫn làm việc từ
những người thân trong gia đình [15].
Theo một nghiên cứu tại cộng đồng ở Phú Thọ (2010), số bệnh nhân sau
khi điều trị tại nhà và được sự can thiệp theo mô hình nghiên cứu đã thuyên
5
giảm lâm sàng rõ nét; tỷ lệ người bệnh có thời gian ổn định bệnh trên 3 tháng
tăng từ 10% đến 100%; tỷ lệ người bệnh có khả năng sống độc lập tăng từ 0%
lên 35%; tỷ lệ người bệnh bỏ nhà đi lang thang giảm từ 20% xuống 0% [18].
1.1.3. Khái niệm về bệnh tâm thần phân liệt
Tâm thần phân liệt là một bệnh tâm thần nặng, bệnh tiến triển từ từ, có
khuynh hướng mạn tính, căn nguyên hiện nay chưa rõ ràng, làm biến đổi nhân
cách người bệnh một cách sâu sắc, tức là làm cho họ tách dần ra khỏi cuộc sống
bên ngoài, thu vào thế giới nội tâm (thế giới tự kỉ), cảm xúc ngày càng khô
lạnh, cùn mòn, tư duy nghèo nàn, năng lực học tập và làm việc ngày một sút
kém, hành vi, tác phong trở nên kỳ dị, khó hiểu, một số bệnh nhân có thể trở
thành mất trí [1], [16], [26], [30], [34].
1.1.4. Một số quan niệm về bệnh nguyên, bệnh sinh
Cho đến nay vẫn còn nhiều giả thuyết về nguyên nhân gây bệnh TTPL.
Tuy nhiên các hướng nghiên cứu thường tập trung vào một số giả thuyết sau:
Giả thuyết về yếu tố di truyền
Các công trình nghiên cứu về miễn dịch và di truyền cho thấy TTPL là
một bệnh có bản chất sinh học. Người ta cho rằng yếu tố di truyền trong TTPL
không phải theo mẫu di truyền của Mendel cổ điển mà là đa gen, mỗi gen gây
ra một hiệu quả khác nhau [49], [50], [65].
Theo H.I. Kaplan và B.J. Sadock (2001), tỷ lệ mắc TTPL ở các cặp sinh
đôi cùng trứng là 50%, khác trứng là 15%. Khi nghiên cứu con cái của các cặp
thể tích vỏ não (chủ yếu là chất xám), giảm thể tích của các thuỳ thái dương
(bao gồm hồi hải mã) và đồi thị. Người ta cũng nhận thấy sự giảm lưu lượng
máu vào thuỳ trán có liên quan tới các triệu chứng âm tính và rối loạn chức
năng vùng thái dương [58]. Nghiên cứu về vi thể của Kecbicop O.V. (1980)
thấy những ổ li ti thưa vắng tế bào ở vỏ não và sự suy yếu, bất sản của mô thần
kinh đệm [20].
Giả thuyết về rối loạn phát triển của hệ thần kinh
Nhiều nghiên cứu đã xác định có mối liên quan giữa các biến chứng thai
nghén, sinh đẻ với TTPL, các biến chứng sản khoa liên quan với tỷ lệ mắc
TTPL. Tỷ lệ mắc bệnh TTPL tăng cao ở những sản phụ bị mắc cúm trong 3
tháng đầu mang thai, mẹ suy dinh dưỡng hoặc nhiễm virut trong quá trình thai
nghén, các yếu tố mùa sinh, nguy cơ giai đoạn chu sinh là các yếu tố gợi ý rằng
TTPL là do rối loạn quá trình phát triển tâm thần – thần kinh [60], [61], [62].
7
Như vậy mỗi giả thuyết chỉ giải thích được từng khía cạnh của bệnh. Do
vậy, bệnh sinh trong TTPL vẫn còn là một bí ẩn và chưa có một nguyên nhân
duy nhất nào có thể được coi là nguồn gốc của bệnh và như Reynolds
G.P.(1987) đã kết luận: hiện nay hoàn toàn không thể xây dựng được một giả
thuyết duy nhất về bệnh TTPL bởi vì chính nó đã rất không đồng nhất [68].
1.1.5. Đặc điểm lâm sàng chung trong tâm thần phân liệt
Các triệu chứng của TTPL vô cùng phong phú, đa dạng và luôn biến đổi
mang tính chất quy luật với những nét đặc trưng của bệnh. Năm 1960,
Snejnevski A.V. – nhà tâm thần học người Nga đã nêu ra các triệu chứng âm
tính và dương tính trong TTPL. Cho đến nay, các triệu chứng đó vẫn được đa
số các nhà tâm thần học chấp nhận [8], [17], [25], [26], [37].
1.1.4.1 Các triệu chứng âm tính
Triệu chứng âm tính thể hiện sự tiêu hao, mất mát các hoạt động tâm thần
sẵn có. Đây là nhóm triệu chứng xuyên suốt quá trình bệnh, là nền tảng của quá
nhất tại Việt Nam.
Chẩn đoán xác định bệnh TTPL dựa vào các tiêu chuẩn chẩn đoán ở mục
F20 trong bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) [5] bao gồm:
Về lâm sàng: chẩn đoán dựa vào các nhóm triệu chứng hàng đầu sau:
(a) Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp và tư duy
bị phát thanh.
(b) Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động, có liên quan rõ
rệt với vận động thân thể hay các chi hoặc có liên quan với những ý nghĩ, hành
vi hay cảm giác đặc biệt; tri giác hoang tưởng.
(c) Các ảo thanh thảo luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay
thảo luận với nhau về bệnh nhân hoặc các ảo thanh khác xuất phát từ một bộ
phận nào đó của thân thể.
(d) Các loại hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp về mặt văn hoá
và hoàn toàn không thể có được như tính đồng nhất về tôn giáo hay chính trị
hoặc những khả năng và quyền lực siêu nhân (ví dụ: có khả năng điều khiển
thời tiết hoặc đang tiếp xúc với người của thế giới khác).
(e) Ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào, có khi kèm theo hoang tưởng thoáng
qua hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc kèm theo ý
tưởng quá dai dẳng xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần hoặc nhiều tháng.
9
(f) Tư duy gián đoạn hay thêm từ khi nói, đưa đến tư duy không liên quan
hay lời nói không thích hợp hay ngôn ngữ bịa đặt.
(g) Tác phong căng trương lực như kích động, giữ nguyên dáng hay uốn
sáp, phủ định, không nói, hay sững sờ.
(h) Các triệu chứng âm tính như vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, các
đáp ứng cảm xúc cùn mòn hay không thích hợp thường đưa đến cách ly xã hội
hay giảm sút hiệu xuất lao động; phải rõ ràng là các triệu chứng trên không do
trầm cảm hoặc thuốc an thần kinh gây ra.
của rối loạn khí sắc [34].
- Các rối loạn nhân cách: nói chung không có các triệu chứng loạn thần,
nếu có chỉ là tạm thời hoặc thứ phát và bệnh ổn định lâu dài không tiến triển.
- Các rối loạn hoang tưởng: các hoang tưởng có hệ thống.
+ Không kì dị, kéo dài ít nhất 3 tháng, nhân cách không biến đổi, còn
hoạt động tương đối tốt.
+ Không có ảo giác và các triệu chứng phân liệt khác.
+ Khởi phát muộn ở người lớn tuổi.
- Hành vi kỳ dị và bị biến đổi.
- Không có hoang tưởng và ảo giác hoặc rối loạn tư duy rõ rệt.
1.1.7. Các thể tâm thần phân liệt và triệu chứng cụ thể
Dựa theo bảng phân loại quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) [5], ta có các thể
tâm thần phân liệt như sau:
Tâm thần phân liệt thể Paranoid (F20.0): triệu chứng nổi bật nhất là các
hoang tưởng và ảo giác. Đặc trưng của hoang tưởng là tính bị động, bị chi phối
hay bị hại…, đặc trưng của ảo giác là ảo giác giả, hay gặp ảo thanh bình phẩm
hoặc ra lệnh. Ảo khứu, ảo vị, ảo thị ít gặp hơn.
Hoang tưởng và ảo giác thường kết hợp với nhau thành hội chứng tâm
thần tự động rất đặc trưng trong TTPL thể paranoid. Rối loạn cảm xúc ở thể
này thường nhẹ. Triệu chứng âm tính thường kín đáo. Thể này thường xuất hiện
muộn hơn các thể khác.
Tâm thần phân liệt thể thanh xuân (F20.1): thể này xuất hiện ở lứa tuổi
trẻ. Nổi bật nhất là hội chứng kích động thanh xuân như hành vi lố lăng, si dại,
cảm xúc hỗn hợp. Hoang tưởng và ảo giác thoáng qua và rời rạc. Các triệu
chứng âm tính xuất hiện sớm và tiến triển nhanh.
11
Tâm thần phân liệt thể căng trương lực (F20.2): bệnh biểu hiện bằng các
hành vi xung động, có tính chất định hình, bối rối, hoạt động không có mục
1.2. Điều trị tâm thần phân liệt
1.2.1. Nguyên tắc điều trị
- TTPL là bệnh chưa rõ căn nguyên nên điều trị triệu chứng là chủ yếu .
- Liệu pháp hóa dược đóng vai trò quan trọng, đặc biệt đối với triệu chứng
dương tính.
- Cần phối hợp nhiều liệu pháp điều trị.
- Cần phát hiện sớm và can thiệp sớm.
- Điều trị duy trì sau cơn loạn thần đầu tiên, quản lý phòng tái phát.
- Sớm phục hồi chức năng cho bệnh nhân.
- Phối hợp tốt giữa thầy thuốc, gia đình và cộng đồng.
- Phát hiện và giải quyết kịp thời các yếu tố thúc đẩy bệnh tái phát.
- Giáo dục thay đổi thái độ đối với bệnh nhân TTPL.
- Chăm sóc lâu dài, đảm bảo cơ thể khỏe mạnh.
- Điều trị bệnh tâm thần phân liệt cần theo 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn cấp tính: điều trị làm giảm đến mức tối thiểu các triệu chứng
của bệnh. Bệnh nhân cần điều trị nội trú tại bệnh viện để có điều kiện đánh giá,
chẩn đoán chính xác, chọn thuốc và liều thuốc, điều trị tấn công (liều cao, tiêm),
hay sử dụng các biện pháp điều trị tích cực khác và theo dõi tác dụng phụ.
+ Giai đoạn duy trì: cho thuốc liều thấp để điều trị duy trì phòng ngừa tái
phát bệnh.
1.2.2. Các liệu pháp điều trị
Điều trị bệnh tâm thần phân liệt cho đến nay vẫn là điều trị triệu chứng
và phục hồi chức năng vì cơ chế bệnh sinh của bệnh chưa được xác định rõ. Do
có sự kết hợp giữa các nhân tố sinh học và môi trường trong cơ chế bệnh sinh
nên phải kết hợp nhiều liệu pháp điều trị khác nhau như: liệu pháp hóa dược
tâm thần, liệu pháp sốc điện và điều trị tâm lý xã hội [8], [17], [26], [34].
1.2.2.1 Liệu pháp hóa dược
Cho đến nay hoá dược trị liệu trong tâm thần học vẫn là giải pháp lựa
chọn hàng đầu và liệu pháp này ngày càng không ngừng được hoàn thiện trong
Sulpirid
400 - 2400
Clozapin
25 - 400
Nguyên tắc lựa chọn thuốc ATK trong điều trị TTPL
- Chọn thuốc phải phù hợp với triệu chứng lâm sàng. Ví dụ: haloperidol,
terfluzine có tác dụng tốt với triệu chứng hoang tưởng, ảo giác; chlopromazin
có tác dụng tốt với triệu chứng kích động, bất an; sulpirid và clozapin có tác
dụng tốt với các triệu chứng âm tính
- Nên cho bệnh nhân sử dụng lại thuốc chống loạn thần đã có tác dụng
tốt trên BN ở những lần điều trị trước đó.
- Phải theo dõi chặt chẽ hiệu lực điều trị để kịp thời thay đổi thuốc.
- Không nên phối hợp 2 thuốc ATK. Tuy nhiên, ở các bệnh nhân đặc biệt
kháng trị, có thể kết hợp nhưng phải thận trọng và cân nhắc kỹ.
- Phải luôn cảnh giác với nhiều biến chứng nặng và nguy hiểm gây ra do
thuốc, có thể xẩy ra bất cứ lúc nào như: dị ứng, viêm gan, nhiễm độc, mất bạch
cầu, loạn động muộn, ngạt hơi, loạn nhịp nhanh, hội chứng ATK ác tính, tắc
ruột do liệt
14
Lựa chọn thuốc ATK trong điều trị một số thể bệnh TTPL
Hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể nào về vấn đề lựa chọn thuốc trong
điều trị từng thể bệnh TTPL. Sử dụng thuốc nào, liều lượng ra sao đều dựa trên
kinh nghiệm điều trị của thầy thuốc.
- Thể paranoid - ảo giác: điều trị bằng haloperidol, aminazin liều cao 2 –
3 tháng. Sau đó tiếp tục điều trị củng cố bằng aminazin hoặc haloperidol. Trong
tuần đầu tiêm bắp thịt sau đó chuyển sang thuốc uống.
- Thể thanh xuân: điều trị bằng aminazin, nếu kích động tâm thần vận
động dùng haloperidol liều lượng như trên.
liệt tại cộng đồng [4]. Tuy nhiên cần phối hợp với các phương pháp điều trị
khác như liệu pháp tâm lý, liệu pháp lao động và phục hồi chức năng, tái thích
ứng xã hội cho bệnh nhân. Việc sử dụng thuốc tại cộng đồng dựa trên các
nguyên tắc sau:
- Thuốc được cấp cho đúng đối tượng bệnh nhân.
- Không lạm dụng thuốc.
- Thuốc được bệnh nhân uống thật sự.
- Đảm bảo hợp lý, an toàn cho bệnh nhân.
- Có thuyên giảm hoặc ổn định bệnh.
Việc điều trị phải được duy trì thường xuyên, liên tục và lâu dài nhằm
tránh tái phát. Các thuốc điều trị đều có tác dụng KMM nhất định, có thể gây
tử vong khi uống quá liều. Do vậy những người thân trong gia đình người bệnh
phải tuân thủ chặt chẽ việc quản lý thuốc, cho người bệnh uống thuốc đúng theo
đơn thuốc, mọi sự tăng, giảm liều thuốc, ngừng uống thuốc, đổi thuốc… đều
phải được chỉ định bởi các bác sĩ chuyên khoa tâm thần.
Khi người bệnh uống thuốc quá liều, khi nghi ngờ người bệnh uống thuốc
quá liều, gia đình phải thông báo kịp thời cho bác sĩ và khẩn trương đưa người
bệnh đến cấp cứu tại cơ sở y tế gần nhất.
Khi có dấu hiệu tái phát, nhất là khi có các biểu hiện cấp tính như: kích
động đập phá, từ chối ăn uống, ý tưởng hành vi tự sát, tự huỷ hoại thân thể…
người bệnh cần được đưa ngay tới các bệnh viện chuyên khoa tâm thần để quản
lý và điều trị nội trú.
16
1.3. Thuốc an thần kinh sử dụng trong điều trị TTPL
1.3.1 Khái niệm thuốc an thần kinh
Theo Delay và Deniker [16], [38], thuốc an thần kinh (ATK) được định
nghĩa theo các tiêu chuẩn sau:
- Những thuốc gây trạng thái thờ ơ về tâm thần vận động.
- Nhóm ATK thế hệ II (ATK mới) bao gồm các thuốc clozapin,
risperidon, olanzapin, amisulpirid [35].
1.3.3 Dược động học
Tất cả các thuốc ATK đều hấp thu qua đường uống. Nồng độ đỉnh huyết
tương đạt được sau uống 1 – 4 giờ hoặc 30 – 60 phút sau khi dùng đường tiêm.
Sau 3 – 5 ngày sử dụng thuốc thì đạt được nồng độ điều trị. Hút thuốc lá, uống
cà phê, sử dụng thuốc kháng acid, thức ăn đều ảnh hưởng đến sự hấp thu của
thuốc. Hầu hết các ATK đều liên kết mạnh với protein, thời gian bán thải
khoảng 24 giờ và được chuyển hóa nhờ men CYP 2D6, CYP 3A.
1.3.4 Cơ chế tác dụng
- Ức chế receptor dopaminergic ở não mà quan trọng nhất là receptor D2.
- Ức chế các receptor khác như serotoninergic, α-adrenergic, cholinergic
và histamin H1.
- Hiện có 5 loại receptor dopaminergic từ D
1
đến D
5
. Khi vào cơ thể,
thuốc ATK có thể gắn vào tất cả các receptor này ở mức độ khác nhau. Tác
dụng chống loạn thần chủ yếu liên quan tới khả năng ức chế receptor D
2
ở não.
- Các thuốc ATK thế hệ I đối kháng mạnh thụ thể D
2
dưới vỏ vì vậy có
tác dụng chống loạn thần, đồng thời gây hội chứng ngoại tháp ở liều điều trị.
- Các thuốc ATK thế hệ II điều hoà cân bằng dopamin ở vỏ trước trán và
dưới vỏ bằng hai cách:
+ Đối kháng yếu D
2