BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI KIỀU MAI ANH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG
THUỐC TRONG ĐIỀU TRỊ ĐỘNG KINH
TRÊN B
ỆNH NHÂN NỘI TRÚ TẠI BỆNH
VIỆN TÂM THẦN NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Hoàng Thị Kim Huyền
TS. Dương Đình Chỉnh
HÀ NỘI 2013 Làm gáy:
KIỀU MAI ANH CN: DƯỢC LÝ – DƯỢC LÂM SÀNG
2013
Lêi c¶m ¬n
Nhân dịp hoàn thành luận văn này, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới:
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Dược Hà Nội.
- Ban Giám đốc Bệnh viện Tâm thần tỉnh Nghệ An cùng tập thể các cán bộ và
nhân viên Phòng kế Hoạch tổng hợp của Bệnh viện.
- Ban Giám hiệu Trường Đại học Y khoa Vinh và các anh chị em đồng nghiệp.
AEDs
Antiepilepsy Drugs
ADR
Adverse Drug Reaction
ALAT
Alanin
amino
transaminase
ASAT
A
spartat
aminotransferase
BN
B
ệnh nhân
BZD
Benzodiazepin
International League Against Epilepsy
(Liên đoàn
quốc tế chống động kinh)
NICE
Nation Institute for Health and Clinical Excellence
MAO
Monoamin
oxidase
MRI
Magnetic resonance imaging (
C
h
ụp cộng h
ư
ởng từ)PB
Phenobarbital
PHT
1.1.5. Nguyên nhân 6
1.1.6. Chẩn đoán 8
1.1.7. Điện não đồ và bệnh động kinh 10
1.1.8. Điều trị bệnh động kinh 11
1.2. ĐIỀU TRỊ ĐỘNG KINH BẰNG THUỐC 12
1.2.1. Thuốc chống động kinh 12
1.2.2. Thuốc an thần 15
1.2.3. Thuốc bổ trợ 15
1.3. CÁC THUỐC CỤ THỂ 15
1.3.1. Carbamazepin 15
1.3.2 Acid valproic 17
1.3.3. Phenytoin 18
1.3.4. Phenobarbital 19
1.3.5. Gabapentin 21
1.3.6. Diazepam 22
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 25
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu 25
2.1.2. Thời gian nghiên cứu 26 2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu 26
2.2.2. Cỡ mẫu 26
2.2.3. Phương pháp đánh giá kết quả 27
2.2.4. Nội dung và một số quy ước trong nghiên cứu 28
2.2.5. Phương pháp xử lý số liệu 29
2.2.6. Đạo đức trong nghiên cứu…………. 29
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1. ĐẶC ĐIỂM NHÓM BỆNH NHÂN 30
4.1. BÀN VỀ ĐẶC ĐIỂM NHÓM BỆNH NHÂN NGHIÊN CỨU 45
4.1.1. Tuổi 45
4.1.2. Tuổi khởi phát 45
4.1.3. Tỷ lệ giới tính 46
4.1.4. Tiền sử điều trị của bệnh nhân 46
4.1.5. Yếu tố nguy cơ khởi phát động kinh 46
4.1.6. Loại cơn 47
4.1.7. Tần số cơn 47
4.1.8. Đặc điểm điện não trước điều trị 48
4.1.9. Bệnh mắc kèm 49
4.2. BÀN VỀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC 49
4.2.1. Các thuốc điều trị được sử dụng (AEDs và thuốc dùng kèm) 49
4.2.2.Liều dùng AEDs và sự điều chỉnh liều 51
4.2.3. Phác đồ và sự thay đổi phác đồ dựa theo loại cơn 52
4.2.4. Tác dụng không mong muốn của thuốc kháng động kinh 53
4.3. BÀN VỀ VIỆC SỬ DỤNG THUỐC ĐIỀU TRỊ ĐỘNG KINH TRÊN
BỆNH NHÂN NỘI TRÚ 53
4.3.1. Tỷ lệ dùng thuốc chống động kinh hợp lý 53
4.3.2. Đánh giá tần suất và mức độ của tương tác bất lợi liên quan thuốc
chống động kinh 54
4.3.3. Đánh giá hiệu quả kiểm soát cơn động kinh trên lâm sàng 56
4.3.4.Đánh giá vấn đề tuân thủ điều trị của nhóm bệnh nhân nghiên cứu 56
4.3.5.Đánh giá một số yếu tố liên quan đến hiệu quả điều trị động kinh 57 4.3.6.Chi phí điều trị động kinh bằng thuốc 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
1. KẾT LUẬN 60
2. KIẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
Bảng 1.1. Các thuốc chống động kinh hiện nay trên thế giới 14
Bảng 1.2. Các thuốc chống động kinh gặp trong nghiên cứu 14
Bảng 3.1. Phân bố tuổi của nhóm bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 30
Bảng 3.2. Phân bố tuổi khởi phát của bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu 31
Bảng 3.3. Tiền sử dùng thuốc của bệnh nhân 31
Bảng 3.4. Yếu tố nguy cơ gây khởi phát cơn động kinh 32
Bảng 3.5. Tỷ lệ loại cơn động kinh theo bảng phân loại năm 1981 của ILEA 32
Bảng 3.6. Tần số cơn động kinh trong mẫu nghiên cứu 33
Bảng 3.7. Đặc điểm bệnh mắc kèm trong mẫu nghiên cứu 34
Bảng 3.8. Tỷ lệ thuốc chống động kinh sử dụng trong mẫu nghiên cứu 35
Bảng 3.9. Liều thuốc được chỉ định so với khuyến cáo chung 35
Bảng 3.10. Sự thay đổi liều thuốc chống động kinh trong nghiên cứu 36
Bảng 3.11. Sự thay đổi phác đồ đơn và đa trị liệu theo loại cơn 37
Bảng 3.12. Loại phác đồ lựa chọn sau cùng theo loại cơn 37
Bảng 3.13. Các loại ADR được ghi nhận trong bệnh án 38
Bảng 3.14. Tỷ lệ bệnh nhân được chỉ định thuốc phù hợp khuyến cáo 39
Bảng 3.15. Tỷ lệ và mức độ tương tác của AEDs gặp trong mẫu nghiên cứu 40
Bảng 3.16. Tương quan hiệu quả điều trị với sự thay đổi phác đồ điều trị 42
Bảng 3.17. Kết quả chỉ số men gan trước và sau điều trị 43
Bảng 3.18. Tiền thuốc điều trị động kinh của bệnh nhân trong cả đợt 44
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ giới tính trong mẫu nghiên cứu 30
Hình 3.2. Kết quả hình ảnh điện não đồ trước điều trị 33
Hình 3.3.Tỷlệ thay đổi liều dùng AEDs ở nhóm ghi nhận tiền sử dùng thuốc 36
kháng động kinh đã được triển khai song chưa có nghiên cứu nào đề cập đầy
đủ và hệ thống về vấn đề sử dụng thuốc nói chung trong điều trị bệnh này.
Nghệ An là tỉnh có diện tích rộng, đường sá đi lại khó khăn đặc biệt là
các huyện miền núi, ngoài ra kinh tế chậm phát triển ảnh hưởng rất lớn đến sự
nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tại Nghệ An,
chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng là một trong những 2
chương trình y tế mục tiêu quốc gia về quản lý và chăm sóc cho bệnh nhân
tâm thần và động kinh, nhưng còn ít được quan tâm do đó hoạt động kém hiệu
quả. Phần lớn bệnh nhân trong tỉnh được kết luận mắc bệnh động kinh sau khi
khám tại bệnh viện đa khoa, hoặc bệnh viện tâm thần tỉnh và một số bệnh
viện chuyên sâu khác trong cả nước sẽ được giao cho Bệnh viện tâm thần tỉnh
quản lý và điều trị.
Chính vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Đánh giá thực trạng sử
dụng thuốc trong điều trị động kinh trên bệnh nhân nội trú tại Bệnh viện
Tâm thần tỉnh Nghệ An” với các mục tiêu sau:
1- Khảo sát các đặc điểm bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu.
2- Khảo sát tình hình sử dụng thuốc trong điều trị động kinh trên bệnh
nhân nội trú tại Bệnh viện tâm thần Nghệ An.
3- Đánh giá việc sử dụng thuốc trong điều trị động kinh trên bệnh nhân
nội trú tại Bệnh viện tâm thần Nghệ An.
Từ ba mục tiêu trên, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần vào việc sử dụng
thuốc hiệu quả - an toàn trong điều trị động kinh tại Bệnh viện tâm thần tỉnh
Nghệ An.
4
trong trung bình là 40-70/100.000 dân/năm ở những nước phát triển và khoảng 100-
190/100.000 dân/năm ở những nước đang phát triển [24][42][59].
Ước tính bệnh động kinh ảnh hưởng đến khoảng 362.000 đến 415.000 người
ở Anh. Tại nước này, tỷ lệ mắc bệnh hằng năm ước tính là 50/100.000 dân, và tỷ lệ
mắc bệnh động kinh hoạt động là 5-10 trường hợp trên 1000 người. Hai phần ba
trong số những người bị động kinh hoạt động kiểm soát cơn tốt với các thuốc kháng
động kinh. Biện pháp can thiệp khác có thể bao gồm phẫu thuật. Quản lý tối ưu
bệnh giúp cải thiện sức khỏe và có thể giúp để giảm thiểu các yếu tố bất lợi khác
cho hoạt động xã hội, giáo dục và việc làm. Theo hướng dẫn lâm sàng NICE 20, chi
phí ước tính hàng năm cho động kinh là 2 tỷ bảng Anh .[50]
Có khoảng 2,5 triệu người đang được điều trị động kinh và khoảng 125.000
trường hợp mới mắc động kinh hằng năm tại Mỹ (tỷ lệ trong dân số là là 120 trên
100.000 dân).[41] [55]
1.1.1.2. Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc động kinh trong dân số dao động ở các nghiên cứu
tại các địa phương khác nhau. Tỷ lệ này ở Hà Tây năm 1999 là 0,49%, trong đó tỷ
lệ mắc động kinh hoạt động là 0,46% [17]. Nghiên cứu dịch tễ động kinh tại xã
Thái Bảo huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh là khu vực có lưu hành sán dây lợn thấy tỷ
lệ hiện mắc động kinh là 0,84% [11]. Theo tác giả Dương Huy Hoàng, tỷ lệ hiện
mắc động kinh tại tỉnh Thái Bình trong 10 năm từ 1997 đến 2006 là 0,535%, tỷ lệ
mới mắc dao động trong khoảng 19-66/100.000 dân [15]. Một nghiên cứu khác ở
tỉnh Thái Nguyên năm 2010 thực hiện ngẫu nhiên ở 16 xã phường thấy tỷ lệ động
kinh trung bình tại đây là 0,16%.[22]
Cũng như nhiều tỉnh khác, sau nhiều năm hoạt động chương trình chăm sóc
sức khỏe tâm thần cộng đồng tại tỉnh Nghệ An mới chỉ triển khai thực hiện ở
125/479 xã phường trị trấn (đạt 26,1%), quản lý, điều trị và chăm sóc cho nhiều
bệnh nhân tâm thần và động kinh, trong đó nếu tính riêng động kinh mới chỉ triển
khai được 23/479 xã [9]. Hiện chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về bệnh
- Khởi phát là cơn cục bộ đơn giản tiếp theo là rối loạn ý thức.
- Khởi phát là rối loạn ý thức (chỉ có rối loạn ý thức, với các biểu hiện tự
động).
3- Cơn co cứng co giật toàn thể hoá thứ phát:
- Cơn cục bộ đơn thuần tiến triển sang toàn thể hoá thứ phát
- Cơn cục bộ phức hợp tiến triển sang toàn thể hoá thứ phát.
Động kinh toàn thể: xuất hiện do sự phóng điện kịch phát lan tỏa trên cả 2
bán cầu liên quan đến kích thích trên toàn bộ vỏ não. Cơn có biểu hiện đối xứng,
đồng đều cả hai bên bán cầu thể hiện trên cả điện não và lâm sàng. Gồm có các loại:
- Cơn co cứng – co giật
- Cơn co cứng 6
- Cơn co giật
- Cơn giật cơ
- Cơn mất trương lực
- Cơn vắng ý thức điển hình
- Cơn vắng ý thức không điển hình
- Cơn co thắt trẻ nhỏ
Động kinh chưa phân loại.
1.1.5. Nguyên nhân
Động kinh có thể có nhiều nguyên nhân. Tuổi khởi phát có liên quan đến
nguyên nhân của động kinh. [2][19][59]
1.1.5.1. Động kinh không rõ căn nguyên (cryptogenic epilepsy)
Động kinh căn nguyên ẩn thể hiện nguyên nhân được che dấu. Bệnh sử, thăm
khám lâm sàng, các xét nghiệm cận lâm sàng không chỉ ra được tổn thương não để
có thể giải thích hợp lý các cơn. [2][59]
1.1.5.2. Động kinh nguyên phát (idiopathical epilepsy)
Thuật ngữ “động kinh toàn thể nguyên phát - primery generalized epilepsy”
hiện trong một tháng đầu đến một năm gọi là động kinh sớm, nếu trên một năm sau
chấn thương sọ não mới xuất hiện động kinh thì gọi là động kinh muộn. Những tiêu
chuẩn để có thể xác nhận cơn động kinh của bệnh nhân là nguyên nhân do chấn
thương sọ não như sau:
- Cơn động kinh đầu tiên xảy ra không quá 10 năm sau chấn thương sọ não.
- Trước khi bị chấn thương sọ não, bệnh nhân không bị động kinh.
- Sau khi bị chấn thương sọ não, bệnh nhân có mất ý thức hoặc có triệu
chứng tổn thương thần kinh khu trú.
- Không tìm thấy nguyên nhân gì khác gây động kinh.
+ Di chứng viêm não, màng não: Động kinh là triệu chứng thường gặp ở thời
kỳ cấp và thời kỳ di chứng. Đây là một nguyên nhân chính gây động kinh ở trẻ em;
thường gặp do áp xe não, viêm màng não; đặc biệt do lao, viêm não do vi khuẩn,
virus, ký sinh trùng. Ngoài ra có thể gặp động kinh do giang mai.
+ U não: khoảng 40 - 50% u não gây động kinh. Có khi động kinh chỉ là một
biểu hiện trong một bệnh cảnh lâm sàng đã rõ của u não, nhưng có khi cơn động
kinh lại là biểu hiện đầu tiên của u não và có thể là triệu chứng duy nhất kéo dài
hàng tháng và nhiều năm về sau. Động kinh do u não có nhiều hình thái lâm sàng,
nhưng chủ yếu là cơn động kinh cục bộ.
+ Bệnh lý mạch máu não: theo thống kê của Housten và Heritt thì 15% có
động kinh trong xuất huyết não, 7% trong tắc mạch não và 15% trong xuất huyết
màng não. Hay gặp nhất là do u mạch, thông động tĩnh mạch trong não.
+ Động kinh do kén sán não: là một nguyên nhân thường gặp ở vùng có lưu
hành những tập quán ăn gỏi. Ngoài kén sán não gây động kinh còn phát hiện có các
nang sán ở cơ, đáy mắt. 8
Ngoài các nguyên nhân hay gặp trên, động kinh còn có thể do nhiều nguyên
nhân khác gây nên, cần phải khám xét đầy đủ về lâm sàng và cận lâm sàng để tìm
nguyên nhân.
(dấu hiệu sinh hóa gián tiếp của cơn). 9
Cơn không điển hình có thể chỉ có pha co cứng hoặc co giật do bệnh nhân
đang điều trị thuốc kháng động kinh.
Cơn vắng ý thức (absence seizure) [19][48]
Sự đa dạng về biểu hiện lâm sàng cùng với tính chất xảy ra thường xuyên và
sự hoà hợp với hình ảnh điện não đã làm cơn vắng ý thức trở thành một ví dụ điển
hình của sự liên quan với điện sinh học.
+ Lâm sàng: đặc điểm của cơn động kinh mang tính chất tự phát, thường xảy
ra ở trẻ em. Mất ý thức riêng rẽ là triệu chứng duy nhất tạo nên bệnh cảnh lâm sàng.
Trong cơn động kinh bệnh nhân ở tư thế bất động với cái nhìn trống rỗng, vẻ mặt
ngơ ngác, gián đoạn hoạt động đang làm dở trong khoảng từ 2 đến 5 giây. Sau cơn,
bệnh nhân tiếp tục hoạt động bình thường và không biết mình bị lên cơn. Cơn vắng
ý thức có thể biểu hiện mất ý thức đơn thuần hoặc kết hợp với giật cơ, tăng giảm
trương lực cơ, hoạt động tự động hoặc các rối loạn thực vật.
+ Cơn vắng ý thức điển hình thường là các cơn động kinh mang tính tự phát,
đặc biệt là xảy ra ở trẻ em và đáp ứng tốt với điều trị. Tỷ lệ lành tính ở 48% và có
xu hướng mạn tính ở 52% bệnh nhân, khoảng 57,5% vắng ý thức có thời gian ổn
định 15 năm và 36% bệnh nhân chuyển sang động kinh co cứng co giật. Như vậy,
mặc dù cơn vắng ý thức có tiên lượng tốt nhưng việc chuyển thành cơn co cứng co
giật là phổ biến và cơn khởi phát càng muộn, càng có nguy cơ chuyển thành các thể
động kinh khác.
Cơn động kinh cục bộ (focal seizures) [19][46][48]
Cơn động kinh cục bộ là do tổn thương khu trú tại vùng dưới vỏ và vùng vỏ
não. Mỗi cơn có một cách biểu hiện riêng biệt, liên quan mật thiết tới các vùng chức
năng của vỏ não và dưới vỏ. Cơn có thể biểu hiện bằng các triệu chứng mà ta quan
sát được như cơn co giật cục bộ; cũng có những cơn chỉ biểu hiện bằng những thay
đổi chủ quan của bệnh nhân như cơn rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn cảm giác,
điện thế kịch phát và sóng chậm. Tuần tự biến đổi điện não trong cơn cũng tương tự
về thời gian như biến đổi lâm sàng. Trước cơn một vài giây xuất hiện rải rác các
sóng chậm, biên độ thấp rồi chuyển nhanh thành các sóng nhọn, gai, biên độ cao,
tần số nhanh trên tất cả các kênh (tương ứng giai đoạn co cứng); tiếp theo là sóng đa
nhọn hoặc đa nhọn - sóng chậm. Ở giai đoạn sau cơn, các sóng chậm có thể còn
xuất hiện trên điện não đồ trong nhiều ngày.
- Cơn vắng ý thức điển hình:
Cơn khởi phát và kết thúc đột ngột với hình ảnh sóng nhọn - sóng 3 Hz xuất
hiện toàn thể, đồng thì, cân xứng; kịch phát sóng xảy ra trên nền hoạt động cơ bản
bình thường. Thời gian kéo dài trên bản ghi bằng thời gian lên cơn lâm sàng. Hoạt
động gai sóng toàn thể hoá xảy ra cả trong cơn và giữa cơn ở các bệnh nhân bị cơn
vắng ý thức điển hình.
- Cơn động kinh cục bộ: 11
Đặc điểm chung là có biến đổi điện não khu trú, do các neuron ở xung quanh
ổ tổn thương phát điện. Điện não đồ của cơn động kinh cục bộ là những sóng kịch
phát khu trú một diện giới hạn ở vùng vỏ não bị xâm phạm, có hoặc không lan rộng
đến các vùng còn lại của não.
Biến đổi điện não đồ ngoài cơn động kinh: Mức độ biến đổi bệnh lý trên điện
não đồ phụ thuộc vào tần số các cơn động kinh. Dấu hiệu biến đổi bệnh lý rõ nhất ở
những người bị động kinh thường xuyên, còn nếu trong một năm chỉ lên cơn một
hoặc hai lần thì điện não đồ có thể bình thường.[51]
Cần lưu ý rằng một bản ghi điện não bình thường không loại bỏ chẩn đoán
động kinh. Ngược lại cũng không dựa vào các bất thường của điện não đồ để kết
luận có động kinh.[51]
Hình ảnh kịch phát trên điện não đồ: Kịch phát sóng là biến đổi đặc trưng
của động kinh, được biểu hiện bằng sự xuất hiện đột ngột và biến mất cũng đột ngột
các hoạt động điện não với biên độ rất cao. Loạt kịch phát này có thể dưới dạng: gai
Kiểm tra lại CT, MRI.
Thời gian điều trị [2][58]
- Hai năm sau khi hết cơn với các động kinh không có tổn thương.
- Năm năm sau khi hết cơn với các động kinh có tổn thương.
Tuy nhiên các khuyến cáo hiện nay cho rằng thời gian điều trị tối thiểu là ba
năm. Một số trường hợp phải phối hợp với điều trị ngoại khoa (U, Dị dạng mạch
máu não …)
1.2. ĐIỀU TRỊ ĐỘNG KINH BẰNG THUỐC
1.2.1. Thuốc kháng động kinh
Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng động kinh là [13]:
Phải chọn thuốc kháng động kinh và theo dõi đáp ứng điều trị, bắt đầu liều
thấp rồi đến liều cao (liều cắt cơn) nhưng khi đến liều gây độc mà không cắt cơn
hay cơn thưa thì phải thay thuốc trong trường hợp cấp cứu.
Ðối với trẻ em sốt cao co giật thì cho uống 2 tháng để xóa ổ phản xạ nhằm
tránh tái phát có thể gây động kinh về sau. Ở người lớn sau khi điều trị khỏi nguyên
nhân thì điều trị thêm 2 năm sau cơn cuối cùng và theo dõi điện não, điều trị suốt
đời với nguyên nhân không giải quyết được như sẹo.
Lượng thuốc chia uống nhiều lần trong ngày để có đủ nồng độ điều trị 24 giờ
tùy từng dạng thuốc. Hiện nay đã có các loại thuốc tác dụng kéo dài.
Không ngừng thuốc đột ngột, khi đổi thuốc phải từ từ giảm dần liều thuốc
cũ, tăng dần liều thuốc mới. Song song phải đề phòng các biến chứng do thuốc gây
ra. Chỉ nên dùng một loại thuốc, nếu cơn động kinh thuộc loại phối hợp thì dùng
nhiều loại thuốc do vậy dễ gây độc tính và thận trọng các tương tác thuốc bất lợi.
Nếu chỉ phát hiện cơn trên điện não mà không có cơn trên lâm sàng thì không
cần thiết phải điều trị. Khi cho thuốc phải theo dõi 10 ngày đầu sự dung nạp thuốc
để tiếp tục hoặc ngừng thuốc, theo dõi một tháng để đánh giá kết quả. 13
Nếu không còn cơn trong 2-3 năm thì nên giảm 25% liều dùng trong mỗi
nhóm này tương đương các thuốc cũ về hiệu quả sử dụng và ít tác dụng không
mong muốn hơn. Bao gồm các đại diện như: felbamate, gabapentin, lamotrigine,
levetiracetam, oxcarbazepine, tiagabine, topiramate, zonisamide. 14
Hiện nay, tương ứng với các hoạt chất có các biệt dược sau của một số nhà
phát minh đã được thừa nhận và sử dụng rộng rãi trên thế giới: [23][42]
Bảng 1.1. Các thuốc kháng động kinh hiện nay trên thế giới
Thuốc kinh điển Thuốc thế hệ mới
Tên quốc tế Biệt dược Tên quốc tế Biệt dược
Carbamazepine Tegretol Felbamate Felbatol
Clonazepam Klonopin Gabapentin Neurontin
Clorazepate Tranxene Lamotrigine Lamictal
Ethosuximide Zarontin Levetiracetam Keppra
Phenobarbital Gardenal Oxcarbazepine Trileptal
Phenytoin Dilantin Tiagabine Gabitril
Primidone Mysoline Topiramate Topamax
Valproic acid Depakine Zonisamide Zonegran
Bệnh viện tâm thần Nghệ An là một bệnh viện tuyến tỉnh, nhận quản lý và
điều trị bệnh động kinh trên địa bàn. Cũng như nhiều bệnh viện cùng cấp khác trong
cả nước, danh mục thuốc kháng động kinh của bệnh viện đang hạn chế. Các thuốc
gặp trong nghiên cứu của chúng tôi gồm có:
Bảng 1.2. Các thuốc kháng động kinh gặp trong nghiên cứu
1.2.2. Thuốc an thần
STT
Tên thuốc Biệt dược Dạng dùng
của acid gamma amino butyric (GABA) nên có tác dụng kháng động kinh. Tuy vậy,
thuốc chỉ được khuyến cáo khuyên dùng cho các trường hợp nặng như: nhiều cơn
co giật kéo dài, trạng thái động kinh, và không khuyên dùng cho những loại cơn
động kinh thông thường [49]. Do đó trong nghiên cứu này, chúng tôi không xếp
diazepam vào nhóm thuốc kháng động kinh thông thường, mà là thuốc thuộc nhóm
dùng với mục đích an thần.
1.2.3. Thuốc bổ trợ
Ngoài hai nhóm thuốc trên, trong thực tế bệnh nhân động kinh nội trú còn
được dùng thêm một số thuốc có tác dụng hỗ trợ. Gồm các thuốc bổ sung vitamin,
chất khoáng, thuốc bổ gan, tăng sức đề kháng v.v.
1.3. CÁC THUỐC CỤ THỂ
1.3.1. Carbamazepin
Tác dụng và cơ chế
Cơ chế tác dụng của carbamazepin còn chưa được biết đầy đủ. Tác dụng
chống co giật liên quan đến giảm tính kích thích nơron và chẹn sinap, chủ yếu bằng
cách hạn chế nơron duy trì sự khởi động liên tiếp, ở tần số cao, điện thế hoạt động
và bằng cách tác động ở trước sinap để chẹn giải phóng chất dẫn truyền thần kinh,
điều này làm giảm dẫn truyền qua sinap. Carbamazepin có tác dụng chống các cơn
đau kịch phát ở người bệnh đau dây thần kinh, người đang cai rượu và bị động kinh.
Carbamazepin làm tăng ngưỡng động kinh, làm giảm nguy cơ co cứng và giảm các
triệu chứng cai nghiện rượu.[5]
Chỉ định
Với bệnh động kinh: Ðộng kinh cục bộ có triệu chứng phức tạp như động
kinh tâm thần vận động và động kinh thùy thái dương. Người động kinh loại này tỏ
ra đáp ứng tốt với thuốc hơn các loại động kinh khác. Ðộng kinh cơn lớn và các
kiểu động kinh hỗn hợp gồm các loại trên, hay các loại động kinh cục bộ hoặc toàn
bộ khác. [3][5]