Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc trên bệnh nhân cao tuổi tại bệnh viện hữu nghị việt nam cu ba đồng hới tỉnh quảng bình - Pdf 29



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC ĐOAN TRANG ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THUỐC
TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI TẠI BỆNH VIỆN
HỮU NGHỊ VIỆT NAM – CU BA ĐỒNG HỚI
TỈNH QUẢNG BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ DƯỢC HỌC HÀ NỘI 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
Bình, cụ thể là các Khoa hệ Nội và Phòng Kế hoạch – Tổng hợp và Phòng Lưu
trữ bệnh án bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới tỉnh Quảng Bình đã
tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể thực hiện đề tài.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ba mẹ và bạn bè đã luôn bên
cạnh, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Hà nội, ngày 12 tháng 10 năm 2014
Học viên

Nguyễn Ngọc Đoan Trang
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
Chương 1. TỔNG QUAN
2
1.1. Dịch tễ học người cao tuổi
2
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc trên người cao tuổi
2
1.2.1. Các yếu tố liên quan đến dược động học
2
1.2.2. Các yếu tố liên quan đến dược lực học
6

3.1. Đặc điểm sử dụng thuốc trên bệnh nhân nghiên cứu
27
3.1.1. Đặc điểm về tuổi, giới tính, cân nặng và thời gian nằm viện của
bệnh nhân
27
3.1.2. Đặc điểm về chức năng thận của bệnh nhân
28
3.1.3. Đặc điểm về xét nghiệm enzyme gan của bệnh nhân
29
3.1.4. Đặc điểm về bệnh lý của bệnh nhân
30 3.1.5. Tiền sử dùng thuốc
35
3.1.6. Số lượng thuốc sử dụng trên một bệnh nhân
36
3.1.7. Các thuốc sử dụng trên bệnh nhân nghiên cứu
38
3.1.8. Ghi nhận các ADE, ADR
39
3.1.9. Tương tác thuốc
39
3.2. Đánh giá sử dụng thuốc theo tiêu chuẩn Beers 2012 và tiêu chuẩn
STOPP/START 2008
42
3.2.1. Tỷ lệ bệnh nhân gặp PIM và các PIM theo tiêu chuẩn Beers 2012
43
3.2.2. Tỷ lệ bệnh nhân gặp PIM và các PIM theo tiêu chuẩn STOPP
45

HỮU NGHỊ VIỆT NAM CU BA ĐỒNG HỚI
Phụ lục 2: TIÊU CHUẨN BEERS 2012 Phụ lục 3: TIÊU CHUẨN STOPP/START 2008
Phụ lục 4: CÁC TIÊU CHUẨN PHỤ TRONG NGHIÊN CỨU
Phụ lục 5: DANH SÁCH CÁC BỆNH NHÂN TRONG NGHIÊN CỨU
Phụ lục 6: LIỀU DÙNG, ĐƯỜNG DÙNG, CHẾ ĐỘ LIỀU, THỜI GIAN DÙNG
CỦA CÁC THUỐC BỆNH NHÂN SỬ DỤNG
Phụ lục 7: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH HỒI QUY ĐA BIẾN XÁC ĐỊNH MỨC ĐỘ
ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC BIẾN ĐỘC LẬP ĐẾN KHẢ NĂNG GẶP PIM THEO
TIÊU CHUẨN BEERS 2012 VÀ STOPP/START 2008

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ACE:
Men chuyển angiotensin (Angiotensin Converting Enzyme)
ADE:
Biến cố bất lợi của thuốc (Adverse Drug Event)
ADR:
Phản ứng bất lợi của thuốc (Adverse Drug Interaction)
ARB:
Ức chế thụ thể angiotensin (Angiotensin Receptor Blockers)
CCB:
Chẹn kênh calci (Calci Chanel Blocker)
COPD:
Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (Chronic Obstructive Pulmonary Disease)

Trang
Bảng 2.1:
Số lượng bệnh nhân tại các khoa hệ Nội năm 2013
22
Bảng 3.1:
Thời gian nghiên cứu tại các khoa và phân bố bệnh nhân theo khoa
27
Bảng 3.2:
Đặc điểm về tuổi, giới tính, cân nặng và thời gian điều trị tại khoa
nghiên cứu của bệnh nhân
28
Bảng 3.3:
Đánh giá chức năng thận của bệnh nhân theo Clcr
29
Bảng 3.4:
Đặc điểm về enzyme gan của bệnh nhân
30
Bảng 3.5:
Tiền sử bệnh lý của bệnh nhân
31
Bảng 3.6:
Phân bố bệnh nhân theo số bệnh lý được chẩn đoán
32
Bảng 3.7:
Các bệnh lý được chẩn đoán của bệnh nhân
33
Bảng 3.8:
Phân bố bệnh nhân theo tình trạng sa sút trí tuệ
34
Bảng 3.9:

43
Bảng 3.19:
Các loại PIM theo tiêu chuẩn Beers 2012 trên bệnh nhân
44
Bảng 3.20:
Phân bố bệnh nhân theo khả năng gặp PIM theo tiêu chuẩn
STOPP 2008
45
Bảng 3.21:
Các loại PIM theo tiêu chuẩn STOPP 2008 trên bệnh nhân
46
Bảng 3.22:
Phân bố bệnh nhân theo khả năng gặp PPO theo tiêu chuẩn
START 2008
47 Bảng 3.23:
Các PPO theo tiêu chuẩn START 2008 trên bệnh nhân
47
Bảng 3.24:
Sự đồng thuận khi đánh giá theo tiêu chuẩn Beers 2012 và STOPP
2008
48

(PIM - Potentially Inappropriate Medication) trên người cao tuổi. Tuy nhiên, tại
Việt Nam chưa có một tiêu chuẩn cũng như hướng dẫn sử dụng thuốc chính thức để
đánh giá sử dụng thuốc trên người cao tuổi.
Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam Cu Ba Đồng Hới tỉnh Quảng Bình là bệnh viện
có sứ mệnh chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trong tỉnh Quảng Bình. Theo thống kê
năm 2013, bệnh viện đã điều trị cho 6410 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên chiếm 19,8 %
tổng số bệnh nhân toàn viện, qua đó cho thấy đối tượng bệnh nhân cao tuổi chiếm tỷ
lệ không nhỏ. Vì thế sử dụng thuốc trên bệnh nhân cao tuổi như thế nào tại bệnh
viện là một mối quan tâm lớn.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc trên bệnh nhân cao tuổi tại bệnh viện Hữu
Nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới tỉnh Quảng Bình.”
Với các mục tiêu:
1. Khảo sát đặc điểm sử dụng thuốc trên bệnh nhân cao tuổi tại bệnh viện Hữu
Nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới.
2. Đánh giá sử dụng thuốc trên bệnh nhân cao tuổi theo tiêu chuẩn Beers 2012
và tiêu chuẩn STOPP/START 2008 tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam – Cu
Ba Đồng Hới.
2

Chương 1. TỔNG QUAN
1.5. Dịch tễ học người cao tuổi
Định nghĩa
Có nhiều cách để định nghĩa về người cao tuổi, nhưng theo Tổ chức Y tế thế
giới (WHO) năm 1963 và Hội nghị quốc tế về người già tại Viên năm 1982 đã quy
định những người trên 60 tuổi (không phân biệt giới tính) là người cao tuổi (người
già) [10]. Tuy nhiên, hầu hết các nước phát triển chấp nhận ngưỡng tuổi từ 65 trở
lên như là định nghĩa về người cao tuổi.
Hiện nay, mặc dù chưa có tiêu chuẩn cụ thể nhưng Liên hiệp quốc nhất trí
ngưỡng từ 60 tuổi trở lên được xem là người cao tuổi [79].

đường này giảm hoặc không ổn định. Nói chung nên tránh tiêm bắp ở lứa tuổi này
vì hấp thu thất thường và nguy cơ nhiễm trùng cao [3] [75].
Hấp thu thuốc qua đường uống
Những biến đổi trên đường tiêu hóa liên quan đến tuổi tác có thể ảnh hưởng đến
hấp thu thuốc bao gồm: giảm tốc độ tháo rỗng dạ dày, giảm hoạt động tiết HCl của
tế bào viền ở thành dạ dày (làm tăng pH), giảm diện tích bề mặt hấp thu, giảm tưới
máu đường tiêu hóa.
Hầu hết các thuốc khuếch tán thụ động qua đường tiêu hóa chậm hấp thu
nhưng mức độ hấp thu không thay đổi. Thay đổi đáng kể ở các thuốc:
- Giảm hấp thu các thuốc được hấp thu theo cơ chế tích cực như sắt, calci, acid
amin, vitamin; các thuốc có bản chất acid yếu (acid salicylic, barbiturat…), các
thuốc cần thủy phân ở pH dạ dày trước khi hấp thu (ester của ampicillin,
cloramphenicol).
- Tăng phá hủy các thuốc không bền trong môi trường acid (ampicilin,
erythromycin).
- Tăng hấp thu các thuốc có bản chất acid yếu (theophyllin, quinidin) [3] [6] [77].
1.6.1.2. Phân bố
Ở người cao tuổi tổng lượng nước trong cơ thể giảm 10 – 15 %, do đó giảm thể
tích phân bố của các thuốc thân nước như: aminosid, digoxin, yêu cầu phải giảm
liều để tránh độc tính. Sử dụng các thuốc lợi tiểu có thể giảm thể tích dịch ngoại bào
dẫn đến tăng độc tính của thuốc. Mặt khác, tổng lượng mỡ tăng lên 18 – 36% ở nam
và 33 – 45% ở nữ, dẫn đến tăng thể tích phân bố của các thuốc thân lipid như:
4

amiodaron, diazepam, làm tăng t
1/2
, kéo dài thời gian tác dụng [45] [75] [77].
Albumin huyết tương thường không thay đổi ở người già khỏe mạnh nhưng
giảm đáng kể ở bệnh nhân già yếu, suy dinh dưỡng, suy giảm chức năng gan dẫn
đến tăng tỷ lệ dạng tự do của các thuốc liên kết mạnh với albumin như warfarin,

tuổi cao [49].
Những tác động này có thể biến thiên, điều này gây ra khó khăn khi đo lường
mức độ suy giảm chức năng gan và ảnh hưởng của nó để tính toán liều dựa trên
chức năng gan. Vì tuổi tác, giới tính, gen di truyền và các yếu tố khác đóng vai trò
quan trọng trong khả năng chuyển hóa thuốc nên bất kì công thức tính liều dựa trên
chức năng gan đơn độc nào sẽ không chính xác [77]. Mặc dù chưa có xét nghiệm
đặc hiệu để đánh giá chức năng gan [6] [51] nhưng khuyến cáo chung là nên giảm
liều các thuốc chuyển hóa nhiều qua gan ở người cao tuổi. Liều khởi đầu nên giảm
1/2 - 1/3 liều người trẻ rồi hiệu chỉnh dần cho đến khi đạt tác dụng mong muốn [6]
[77].
1.6.1.4. Thải trừ
Thải trừ thuốc trong cơ thể chủ yếu thông qua thải trừ qua thận. Cũng như
chuyển hóa thuốc, thời gian bán thải của thuốc tăng khi chức năng thận suy giảm. Ở
người cao tuổi, chức năng thận suy giảm là kết quả của nhiều biến đổi sinh lý bao
gồm giảm lưu lượng máu đến thận, giảm khối lượng thận và giảm kích thước và số
lượng các nephron chức năng. Không giống như các ảnh hưởng trên gan, sự suy
giảm chức năng thận là đồng nhất giữa các bệnh nhân [77]. Ở tuổi già, khối lượng
thận giảm 20%, lưu lượng máu qua thận giảm 45 -53%, từ 618 – 689 ml/phút xuống
349 – 485 ml/phút. Mức độ giảm tốc độ lọc cầu thận sau tuổi 20 là 10% cho mỗi 10
năm, trung bình giảm 0,40 – 1,02 ml/phút mỗi năm. Những biến đổi trên ở người
cao tuổi là nguyên nhân làm giảm độ thanh thải của nhiều thuốc. Điều này đặc biệt
quan trọng với những thuốc bài xuất trên 60% ở dạng nguyên vẹn qua thận và có
độc tính cao như aminosid, cephalosporin, digoxin, methotrexat [3] [6] [45].
Khác với sự thay đổi chức năng gan do tuổi tác, thay đổi chức năng thận có thể
dự đoán trước phần nào, do đó cho phép tính toán liều dựa trên chức năng thận. Có
nhiều công thức để đánh giá chức năng thận, hai trong số đó là công thức Cockcroft
– Gault và MDRD. Trong đó, được sử dụng rộng rãi nhất là công thức Cockroft –
Gault và được dùng để tính toán hiệu chỉnh liều tốt hơn MDRD [23] [77].
6


 Thuốc tác dụng trên hệ thần kinh trung ương
Nhiều thay đổi xảy ra ở não lão hóa, ảnh hưởng đến dẫn truyền thần kinh và
làm bệnh nhân cao tuổi dễ gặp các tác dụng bất lợi của các thuốc tác dụng trên hệ
thần kinh trung ương. Các thay đổi này phức tạp, có thể không giống nhau giữa các
7

vùng não khác nhau và chưa được làm sáng tỏ đầy đủ. Chúng bao gồm các thay đổi
về số lượng tế bào thần kinh và receptor, thay đổi về chuyển hóa các chất dẫn
truyền thần kinh [45]. Trong khoảng tuổi từ 20 và 80, khối lượng não giảm đi 20%,
chất xám giảm liên tục cùng với tuổi tác, chất trắng hầu như không thay đổi [75].
Ngoài ra, khả năng thấm qua hàng rão máu não tăng lên cùng với sự lão hóa. Ý
nghĩa của sự thay đổi này chưa được đánh giá đầy đủ nhưng dường như có ý nghĩa
lâm sàng và đáng chú ý hơn với các bệnh nhân sa sút trí tuệ mạch máu và bệnh
Alzemer [45].
Benzodiazepin: Bệnh nhân lớn tuổi đặc biệt nhạy cảm với tác dụng của
benzodiazepin trên hệ thần kinh trung ương như mất điều vận, an thần, lú lẫn và suy
giảm nhận thức vì các thay đổi dược động học và dược lực học [45]. Tuy nhiên,
nhiều nghiên cứu trên người cao tuổi ghi nhận sự thay đổi lớn về độ nhạy cảm với
tác dụng lâm sàng của benzodiazepin không phải do khác biệt về nồng độ trong
huyết tương, nửa đời hay thể tích phân bố của thuốc [74]. Thay đổi về độ nhạy cảm
có thể do thay đổi của phức hợp receptor benzodiazepin – GABA
A
về số lượng lẫn
tiểu đơn vị thành phần [75].
Chống loạn thần: Ở hệ thần kinh trung ương, giảm số lượng thụ thể dopamin
D2 khiến bệnh nhân cao tuổi dễ bị mê sảng gây ra bởi các tác nhân kháng
cholinergic và dopaminergic. Giảm số lượng tế bào thần kinh dopaminergic làm
tăng tần suất và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng ngoại tháp gây ra bởi các
thuốc có đặc tính kháng dopaminergic [45] [75].
Chống trầm cảm: Tuổi tác ảnh hưởng đến dẫn truyền thần kinh acetylcholin, và

Thuốc ức chế thụ thể angiotensin (ARB): Mặc dù nồng độ các thuốc ARB trong
huyết tương ở người cao tuổi cao hơn so với người trẻ tuổi nhưng sự khác biệt về
dược động học này có thể được cân bằng nhờ sự giảm hoạt tính hệ renin –
algiotensin – aldosteron ở người cao tuổi. Vì thế, không cần giảm liều ban đầu của
bất kì thuốc ARB nào trên người cao tuổi [74].
Chẹn kênh calci (CCB): Dữ liệu hiện có gợi ý rằng các bệnh nhân cao tuổi nhạy
cảm hơn với dihydropyridin, điều này dường như xuất hiện thoáng qua và biến mất
trong 3 tháng. Để giải thích cho sự thay đổi này, khả năng chính là do giảm đáp ứng
của thụ thể áp lực ở mạch máu với huyết áp thấp khi tiếp xúc lần đầu với
9

dihydropyridin ở người cao tuổi. Khả năng khác bao gồm thay đổi về ái lực receptor
tế bào cơ trơn mạch máu và ngưỡng cao huyết áp ở những người cao tuổi cao hơn
người trẻ. Tác dụng hạ huyết áp và nhịp tim của verapamil và diltiazem trên người
cao tuổi mạnh hơn so với người trẻ, điều này có thể do lão hóa về dược động học
(giảm thải trừ) và dược lực học (giảm đáp ứng của thụ thể hạ áp ở mạch máu). Cơ
chế chính xác cho sự thay đổi này vẫn chưa sáng tỏ. Bác sĩ nên theo dõi chặt chẽ
bệnh nhân cao tuổi điều trị CCB, đặc biệt là trong giai đoạn đầu điều trị. Khuyến
cáo hiệu chỉnh liều CCB trên bệnh nhân cao tuổi cao huyết áp khi sử dụng đồng
thời thuốc hạ huyết áp khác để tránh hạ huyết áp thế đứng và nguy cơ ngã [74].
Thuốc chống đông: Để đạt được chỉ số bình thường hóa quốc tế người cao tuổi
cần liều thuốc chống đông thấp hơn [45]. Có bằng chứng cho thấy với cùng nồng độ
warfarin trong huyết tương, tác dụng ức chế tổng hợp yếu tố đông máu phụ thuộc
vitamin K ở người cao tuổi mạnh hơn người trẻ. Mặc dù cơ chế chính xác của sự
tăng đáp ứng này vẫn chưa rõ nhưng có các bằng chứng thuyết phục cho thấy tuổi
tác là một trong những yếu tố dự báo mạnh mẽ tác dụng của warfarin [49] [74].
Ngược lại, mối liên quan giữa nồng độ heparin trong huyết tương và tác dụng chống
đông không thay đổi cùng với tuổi tác [49].
 Nước và điện giải
Cơ chế cân bằng nội mô dịch và điện giải giảm cùng với sự lão hóa, và điều này

bệnh) cũng là một nguyên nhân khác dẫn đến tỷ lệ cao các ADR trên người cao
tuổi. Một yếu tố quan trọng góp phần vào tỷ lệ cao các ADE gặp phải trên người
cao tuổi đó là trong khi các hướng dẫn lâm sàng thường dựa trên kết quả thử
nghiệm lâm sàng lớn, thì các nghiên cứu này thường loại những người cao tuổi với
nhiều bệnh mắc kèm, khuyết tật, đang sử dụng nhiều thuốc ra khỏi nghiên cứu. Do
đó, rất khó ngoại suy kết quả từ các nghiên cứu này để áp dụng trên bệnh nhân cao
tuổi [22] [66]. Các yếu tố liên quan khác bao gồm các lỗi liên quan đến kê đơn và
sử dụng thuốc, không tuân thủ điều trị và không giám sát điều trị thích hợp. Một số
thuốc chịu trách nhiệm chính cho các ca nhập viện cấp cứu ở người cao tuổi là
thuốc chống đông và ức chế kết tập tiểu cầu, thuốc điều trị đái tháo đường và
corticoid toàn thân, thuốc tim mạch (gồm nhiều thuốc: thuốc hạ huyết áp, digoxin,
chống loạn nhịp, các statin), các thuốc giảm đau (NSAID, opioid, acetaminophen),
các thuốc tác động trên hệ thần kinh trung ương (chống trầm cảm, chống loạn thần,
11

chống trầm cảm và hưng cảm, chống Parkinson và sa sút trí tuệ) [66].
Ngày càng tăng sử dụng và tăng số lượng loại thuốc mà chúng ta được tùy ý sử
dụng, hiểu biết không đầy đủ nguyên nhân và các yếu tố dự báo các ADE và thiếu
các công cụ và kĩ thuật được chứng minh là hiệu quả trong cải thiện an toàn dùng
thuốc đặc biệt là với bệnh nhân ngoại trú là lí do cho tương đối thiếu các tiến triển
trong kiểm soát ADE. Nhưng vấn đề lớn nhất là thiếu thực thi các công cụ đã cho
thấy có hiệu quả [30].
1.7.1. Tương tác thuốc
Một nguyên nhân phổ biến dẫn đến ADR ở người cao tuổi là các tương tác
thuốc. Người cao tuổi dễ nhạy cảm với tương tác thuốc hơn do các thay đổi sinh lý
liên quan đến tuổi tác làm ảnh hưởng đặc tính dược động học và dược lực học của
một loạt các thuốc [34], ngoài ra còn do tình trạng dinh dưỡng, đa dược học, đa
bệnh tật [67]. Các thay đổi này có thể ảnh hưởng bởi gen, lối sống, và/hoặc môi
trường, góp phần vào sự khác biệt lớn giữa các bệnh nhân và sự phức tạp trong
quản lý tương tác thuốc ở người cao tuổi [34].

1.7.2. Đa dược học
Đa dược học được hiểu là sử dụng đồng thời nhiều thuốc hoặc sử dụng nhiều
hơn số thuốc được chỉ định lâm sàng. Tuy nhiên, không có định nghĩa chuẩn về đa
dược học được sử dụng một cách nhất quán. Đa dược học thường phổ biến và ngày
càng tăng ở người cao tuổi [39] [62], theo y văn tỷ lệ đa dược học dao động trong
khoảng 5 – 78% tùy theo sự khác nhau về định nghĩa đa dược học được sử dụng và
cỡ mẫu nghiên cứu [67]. Đa dược học cũng là vấn đề đối với người cao tuổi vì nó
thường liên quan đến hậu quả y tế tiêu cực bao gồm tăng chi phí chăm sóc sức khỏe
và tăng nguy cơ gặp các phản ứng bất lợi liên quan đến thuốc, tương tác thuốc,
không tuân thủ điều trị và các hội chứng lão khoa như tiểu tiện không tự chủ, suy
giảm nhận thức và mất cân bằng dẫn đến ngã, suy dinh dưỡng và suy giảm tình
trạng chức năng [48] [62] [67].
Các nguyên nhân dẫn đến đa dược học ở người cao tuổi có thể phân thành 3
nhóm: các yếu tố về nhân khẩu học như tuổi cao, là phụ nữ, chủng tộc da trắng và
trình độ giáo dục, kinh tế xã hội (điều này vẫn có một số kết quả trái ngược); các
yếu tố về tình trạng sức khỏe như sức khỏe kém, bệnh mạn tính và các bệnh cụ thể
bao gồm trầm cảm, tăng huyết áp, thiếu máu, hen, đau thắt ngực, viêm khớp, gút,
13

đái tháo đường, kém hài lòng về cuộc sống và nhận thức kém về sức khỏe, thói
quen tự dùng thuốc của bệnh nhân; và các yếu tố liên quan đến tiếp cận chăm sóc
sức khỏe như số lần thăm khám sức khỏe, bảo hiểm và dịch vụ chăm sóc sức khỏe,
tương tác giữa bệnh nhân và bác sĩ [35] [62]. Nhiều hướng dẫn điều trị nhằm ngăn
ngừa và quản lý các bệnh phổ biến ở người cao tuổi thường khuyến cáo sử dụng
thêm các thuốc để ngăn ngừa bệnh thứ phát do đó, sử dụng các hướng dẫn lâm sàng
có thể thúc đẩy đa dược học trên người cao tuổi [62].
Đa dược học cũng có thể coi là thích hợp khi kết quả các thử nghiệm lâm sàng
khuyến cáo sử dụng nhiều thuốc để điều trị một bệnh cụ thể. Đa dược học thích hợp
ngày càng được chấp thuận, có thể mang lại lợi ích và có nhiều trường hợp sử dụng
kết hợp 3 thuốc hoặc nhiều hơn là có lợi và thích hợp, đặc biệt trên người cao tuổi

chế về giác quan, khuyết tật, có thể ngăn cản bệnh nhân sử dụng một số thuốc), hệ
thống chăm sóc sức khỏe (chi phí, hạn chế trong tiếp cận với thuốc và chuyên gia
sức khỏe) và các yếu tố thuộc về nhân viên y tế (người phát thuốc/kê đơn, giáo dục
thích hợp bệnh nhân/người nhà bệnh nhân ví dụ: những bệnh nhân cao huyết áp
không được bác sĩ ưu tiên thảo luận về tình trạng tăng huyết áp của họ có khả năng
không tuân thủ điều trị thuốc điều trị huyết áp cao hơn đáng kể do đó, cải thiện mối
quan hệ giữa bác sĩ – bệnh nhân có thể cải thiển tuân thủ của bệnh nhân) [29] [66].
1.8. Công cụ đánh giá sử dụng thuốc trên người cao tuổi
Thuốc có khả năng không phù hợp (PIM) là thuốc trong đó nguy cơ xảy ra biến
cố bất lợi vượt quá lợi ích lâm sàng của nó, đặc biệt khi có sẵn các liệu pháp thay
thế an toàn và hiệu quả hơn cho tình trạng tương tự [22] [70] [76]. Ngoài ra, PIM
còn bao gồm các thiếu sót trong điều trị, bỏ sót bất kì thuốc nào được chỉ định trên
lâm sàng cho thấy có lợi tích tiềm tàng và không có chống chỉ định rõ ràng [26]
[28] [57].
Các vấn đề liên quan đến thuốc ở người cao tuổi xảy ra phổ biến, gây tốn kém,
dẫn đến hậu quả xấu và thường có thể ngăn chặn. Tránh sử dụng các thuốc không
phù hợp và có nguy cơ cao là một chiến lược quan trọng, đơn giản và hiệu quả
nhằm giảm các vấn đề liên quan đến thuốc và các ADE trên người cao tuổi [15]. Có
nhiều công cụ sàng lọc khác nhau được phát triển để phát hiện các PIM gồm công
cụ mở (dựa trên tiêu chuẩn) và công cụ đóng (dựa trên đánh giá). Vai trò của các
công cụ này là tối ưu hóa sự phù hợp trong thói quen kê đơn và làm giảm các hậu
15

quả tiêu cực bao gồm các ADE có thể ngăn chặn [52]. Để có hiệu lực khi áp dụng
trên bệnh nhân, các công cụ đo lường phải có liên kết nhân quả với các hậu quả bất
lợi khi dùng thuốc ví dụ như tỷ lệ tử vong, tỷ lệ mắc bệnh, biến cố bất lợi của thuốc
và nhập viện, chất lượng cuộc sống [15] [28] [70].
Tiêu chuẩn mở thường được phát triển từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm các
hướng dẫn điều trị dựa trên bằng chứng, các đánh giá được công bố, ý kiến của
chuyên gia và các kĩ thuật đồng thuận [55] [57] [70]. Ý kiến chuyên gia thường cần

sử dụng thuốc trên người cao tuổi [60], mỗi quốc gia nên sửa đổi và sử dụng công
cụ sàng lọc có thể chấp nhận nhất.
Các công cụ sàng lọc được thiết kế để làm giảm các biến cố bất lợi của thuốc và
cải thiện việc điều trị của bệnh nhân cao tuổi [63]. Tuy nhiên, không có công cụ
sàng lọc nào (tiêu chuẩn đóng và mở) có thể thay thế kiến thức và kinh nghiệm lâm
sàng, sự cân nhắc kĩ lưỡng trên từng bệnh nhân cụ thể và đánh giá lâm sàng của bác
sĩ [15] [43] [52]. Không phải tất cả các PIM có thể tránh sử dụng, đặc biệt là khi bác
sĩ và bệnh nhân đồng ý rằng lợi ích của thuốc vượt trên nguy cơ. Do đó, quyết định
kê đơn nên được cá nhân hóa dựa trên điều kiện xã hội, y tế, chức năng, chất lượng
cuộc sống và chẩn đoán [63].
1.8.1. Tiêu chuẩn Beers
Ra đời năm 1991, Beers là tiêu chuẩn đầu tiên định nghĩa các PIM phổ biến ở
người cao tuổi áp dụng cho viện dưỡng lão và sau đó được mở rộng cho nhiều đơn
vị lão khoa khác [15] [22]. Tiêu chuẩn Beers hình thành dưới sự hỗ trợ của Hiệp hội
lão khoa Mỹ và ban liên ngành gồm 11 chuyên gia về lão khoa, sử dụng tổng quan
hệ thống toàn diện và phân loại bằng chứng về các vấn đề liên quan đến thuốc và
các biến cố bất lợi trên người cao tuổi, đạt được đồng thuận dựa trên phương pháp
Delphi [15].
Từ khi hình thành đến nay đã 2 thập kỉ, tiêu chuẩn Beers được sửa đổi 3 lần, lần
gần đây nhất là năm 2012, nội dung của tiêu chuẩn Beers cập nhật 2012 gồm có:
- Bảng 1: gồm 34 thuốc và nhóm thuốc có khả năng không phù hợp và tránh sử
dụng ở người cao tuổi. Các bổ sung đáng chú ý là megestrol, glyburid, insulin
xuống thang.
- Bảng 2: tổng hợp các thuốc và nhóm thuốc có khả năng không phù hợp và tránh
sử dụng ở người cao tuổi có một số bệnh hoặc triệu chứng có thể bị trầm trọng thêm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status