MỤC LỤC
Xây dựng chiến lược marketing dịch vụ cho công ty du lịch Young Travel 42
PHẦN MỞ ĐẦU
1, Lí do chọn đề tài
Bạn ơi hãy đến quê hương chúng tôi,
Ngắm hàng dừa xanh xa tít chân trời.
Việt Nam ta là một nước đẹp, giàu tài nguyên về du lịch. Được trời phú cho nhiều
cảnh đẹp, Việt Nam là điểm đến của nhiều khách du lịch gần xa. Vì thế đã có rất nhiều
công ty du lịch ra đời, phục vụ nhu cầu du lịch cho du khách hang có nhu cầu. Nắm
bắt nhu cầu du lịch – công nghệ không khói là ngành dịch vụ quan trọng đem lại nhiều
lợi ích kinh tế và đồng thời tôn vinh vẻ đẹp Việt Nam, chúng tôi đã mở công ty du lịch
chuyên dành cho sinh viên Young Travel nhằm phục vụ nhu cầu du lịch của các bạn
sinh viên nói chung và giới trẻ nói riêng. Mục đích để các bạn giải trí và thỏa sức
khám phá, tìm hiểu về thiên nhiên trù phú nước nhà. Chúng tôi nhận thấy đây là một
vấn đề đáng quan tâm và hơn hết thị trường du lịch trẻ hiện nay ở Việt Nam còn đang
bỏ ngỏ nên đây sẽ là một cơ hội kinh doanh rất tốt nếu biết tận dụng đúng cách.
2, Mục tiêu nghiên cứu
Là bạn trẻ ai cũng có những ước mơ, hoài bão, muốn thỏa sức khám phá. Để phục vụ
cho việc học và hơn thế nữa là để học hỏi kinh nghiệm quản lí, sự trẻ trung táo bạo
trong công việc kinh doanh của những bạn trẻ và muốn khám phá nét đẹp non sông
nước mình nhóm chúng tôi đã chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu.
3, Đối tượng nghiên cứu
Cuộc hành trình du lịch, sự táo bạo của các bạn trẻ, các chiến lược kinh doanh cùng sự
quản lí trẻ trung không kém phần quyết đoán của những nhà quản lí trẻ.
Những hành trình, những khám phá và trải nghiệm thú vị.
3, Phương pháp nghiên cứu
Tìm hiểu về công ty từ khâu tổ chức tới khâu thực hiện. Các công việc nghiên cứu
được chia cho từng thành viên trong nhóm họp và cùng nhau thực hiện. Sau đó nhóm
trưởng sẽ tổng hợp lại và chỉnh sửa thành bài tiểu luận hoàn chỉnh.
4, Phạm vi nghiên cứu
Sự hướng dẫn của thầy bộ môn cùng sự tìm hiểu thông tin trong trang web công ty,
mặt hàng và dịch vụ nhỏ hơn. Ví dụ, khách đi máy bay là mua một dịch vụ chuyên
chở. Nhưng chuyến đi còn bao hàm một số món hàng cụ thể, như thức ăn, đồ uống và
một tạp chí của hãng hàng không.
Sau cùng một mặt hàng có thể là một dịch vụ thuần túy. Ví dụ một cuộc tâm lý trị
liệu hay uốn tóc. Nhà tâm lý trị liệu chỉ cung cấp một dịch vụ đơn thuần, và những thứ
cụ thể duy nhất là phòng mạch hay một cái máy xoa bóp. Như vậy sản phẩm của một
doanh nghiệp có thể là mặt hàng cụ thể hay dịch vụ, có thể có cả những dịch vụ bổ
sung.
1.1.2 Các đặc tính của dịch vụ
Dịch vụ có nhiều đặc tính. Theo các giáo trình tài liệu mà tôi từng tham khảo thì
mỗi nguồn mỗi khác nhau. Nhưng xin lấy bài giảng của thầy Phan Trọng Nhân làm
gốc. Tiểu luận này xin bổ sung thêm 3 đặc tính là: hàm lượng tri thức trong dịch vụ
chiếm tỷ lệ lớn, sự nhạy cảm của dịch vụ đối với tốc độ thay đổi nhanh chóng của
công nghệ và tính không mất đi. Chúng đều là những đặc điểm theo cá nhân tôi nghĩ
nên đưa vào trong tiểu luận.
1.1.2.1 Tính vô hình hay phi vật chất
Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng tư duy hay giác quan chứ ta không thể
"sờ mó" sản phẩm dịch vụ được, dịch vụ cũng không thể đo lường được bằng các
phương pháp đo lường thông thường về thể tích, trọng lượng. Bệnh nhân không thể
biết trước kết quả khám bệnh trước khi đi khám bệnh, khách du lịch không biết trước
GVHD: Thầy Phan Trọng Nhân
Xây dựng chiến lược marketing dịch vụ cho công ty du lịch Young Travel 42
tác động của những dịch vụ được cung cấp trước khi chúng được cung ứng và tiếp
nhận. Như vậy dịch vụ mang tính chất vô hình, phi vật chất.
Một hình thức tồn tại đặc biệt của dịch vụ ngày càng phổ biến đó là thông tin,
đặc biệt trong những ngành dịch vụ mang tính hiện đại như tư vấn, pháp lý, dịch vụ
nghe nhìn, viễn thông, máy tính Quá trình sản xuất và tiêu thụ gắn với các hoạt động
dịch vụ này có thể diễn ra không đồng thời như thường thấy ở những dịch vụ thông
thường khác như phân phối, y tế, vận tải hay du lịch mà vốn đòi hỏi sự tiếp xúc trực
tiếp giữa người cung cấp dịch vụ và người tiêu dùng.
1.1.2.4 Tính bất khả phân
Còn gọi là tính không thể phân chia hay nhiều cái tên khác. Trong đó, quá trình
sản xuất và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời. Khác với sản xuất vật chất, sản xuất
dịch vụ không thể làm sẵn để lưu kho sau đó mới đem tiêu thụ. Dịch vụ không thể tách
rời khỏi nguồn gốc của nó, trong khi hàng hóa vật chất thì ngược lại.
GVHD: Thầy Phan Trọng Nhân
Xây dựng chiến lược marketing dịch vụ cho công ty du lịch Young Travel 42
1.1.2.5 Tính không mất đi
Kỹ năng dịch vụ không mất đi sau khi đã cung ứng. Người ca sĩ không hề mất đi
giọng hát sau một buổi trình diễn thành công, sau một ca phẫu thuật thành công, bác sĩ
không hề mất đi khả năng kỹ thuật của mình.
1.1.2.6 Hàm lượng tri thức trong dịch vụ chiếm tỷ lệ lớn
Người ta không cần các nguyên vật liệu đầu vào hữu hình như dây chuyền sản
xuất hay nhà máy để sản xuất ra dịch vụ, mà giữ vai trò quan trọng nhất trong hoạt
động dịch vụ là yếu tố con người, thể hiện qua quá trình sử dụng chất xám và các kỹ
năng chuyên biệt với sự hỗ trợ của các dụng cụ, trang thiết bị chứ không phải ở sức
mạnh cơ bắp hay các hoạt động gắn liền với các dây chuyền sản xuất đồ sộ. Ðối với
những ngành dịch vụ có tính truyền thống như phân phối, vận tải hay du lịch thì tầm
quan trọng của cơ sở vật chất kỹ thuật cũng rất đáng kể, tuy thế, vai trò của tri thức
vẫn là chủ yếu và không thể thiếu được. Điều này nhắc tới yếu tố con người (people)
trong marketing dịch vụ.
1.1.2.7 Sự nhạy cảm của dịch vụ đối với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công
nghệ
Ðây là đặc điểm nổi bật và quan trọng nhất của dịch vụ, thể hiện ở chất lượng
dịch vụ không ngừng được tinh vi hoá, chuyên nghiệp hóa và quan trọng hơn là sự
xuất hiện liên tục những dịch vụ mới. Thể hiện rõ nét nhất ở dịch vụ điện thoại di
động, từ thế hệ thứ nhất theo kỹ thuật anolog sang đầu thập niên 90 đã chuyển sang thế
hệ thứ hai là kỹ thuật số, hiện nay trong những năm đầu của thế kỷ 21 người ta đang
nói đến thế hệ điện thoại di động thứ ba có thể truy cập internet hết sức dễ dàng, mọi
lúc mọi nơi.
• Những vật phẩm hữu hình kèm theo cung cấp cho khách hàng
• Môi trường vật lý trong đó quá trình tiêu dùng dịch vụ xảy ra (nơi chốn, trang
thiết bị, người cung cấp dịch vụ)
• Các yếu tố hữu hình khác hiện diện trong quá trình cung cấp dịch vụ (Ví dụ như
quá trình tạo ra dịch vụ )
Dịch vụ ăn uống bao gồm thức ăn là các vật phẩm cung cấp cho thực khách. Đây
là loại sản phẩm hỗn hợp cả yếu tố vô hình và hữu hình. Do vậy, cần sử dụng lợi thế
của yếu tố hữu hình để tác động tích cực tới tâm lý khách hàng.
Môi trường vật lý ở đây là phòng ăn, dụng cụ ăn uống, sự sạch sẽ, trang phục thái
độ của nhân viên phục vụ, âm nhạc Yếu tố môi trường cũng tác động tích cực tới tâm
lý của thực khách.
GVHD: Thầy Phan Trọng Nhân
Xây dựng chiến lược marketing dịch vụ cho công ty du lịch Young Travel 42
Quá trình tạo ra dịch vụ mà khách hàng có thể quan sát thấy cũng là yếu tố tác
động tới giác quan của khách hàng. Nhà hàng ăn nhanh Mc Donald’s đã bỗ trí các
vách ngăn bằng kính trong suốt để khách hàng có thể nhìn thấy quá trình chế biễn thức
ăn rất sạch sẽ trong khu bếp của các nhà hàng.
1.1.3.4 Phân loại theo mức độ sử dụng lao động cung cấp dịch vụ
Có các dịch vụ cần nhiều lao động cung cấp dịch vụ như ca nhạc, bưu chính, y tế,
giáo dục. Ngược lại, có các dịch vụ có thể dùng máy móc thiết bị để cung cấp dịch vụ
cho khách hàng hàng như bán vé tự động, soát vé tự động, rút tiền tự động, điện thoại
thẻ. Các dịch vụ bưu chính sử dụng nhiều nhân lực, trong khi đó các dịch vụ viễn
thông sử dụng nhiều thiết bị.
Quản lý hai loại dịch vụ này đòi hỏi các cách tiếp cận khác nhau vì đối tượng
quản lý khác nhau. Đối với con người cách quản lý khó khăn và phức tạp hơn nhiều so
với quản lý .
1.1.3.5 Phân loại theo tần suất mua và sử dụng
Có những dịch vụ được tiêu dùng thường xuyên, nhanh chóng, thường là có giá
trị thấp. Người tiêu dùng hầu như không cân nhắc khi mua. Ví dụ: dịch vụ ô tô buýt
công cộng, dịch vụ điện thoại thẻ. Loại dịch vụ này tương ứng với hàng hoá tiêu thụ
tố chính tạo ra dịch vụ và quyết định tới chất lượng dịch vụ cung ứng. Bởi vì con
người là nhân tố không thể thiếu tham gia vào quy trình cung ứng dịch vụ của công ty.
Do vậy chất lượng dịch vụ cũng như sự thành công của một công ty, Marketing dịch
vụ phụ thuộc rất nhiều vào việc tuyển chọn đào tạo con người. Chính vì thế khả năng
lựa chọn, tuyển dụng và giữ chân những con người thích hợp với những năng lực và
kỹ năng tốt để hoàn thành công việc được giao phó là rất quan trọng.
Con người ở đây còn là phía khách hàng tiếp nhận dịch vụ. Sự tham gia của
khách hàng vào quá trình cung cấp dịch vụ, mối quan hệ giữa khách hàng với nhau
cũng được quan tâm trong Marketing dịch vụ.
1.2.2 Sử dụng các yếu tố hữu hình (điều kiện vật chất)
Môi trường vật chất của công ty cung ứng dịch vụ là nơi dịch vụ được tạo ra, nơi
khách hàng và người cung ứng dịch vụ giao tiếp, thêm vào đó là những phần tử hữu
hình được sử dụng để hỗ trợ vai trò của dịch vụ. Do đặc trưng của dịch vụ là vô hình
cho nên trong kinh doanh dịch vụ các nhà Marketing phải cố gắng cung cấp các đầu
mối vật chất để hỗ trợ vị trí và tăng cường cho dịch vụ bao quanh nhằm làm giảm bớt
tính vô hình của dịch vụ. Do vậy có thể khẳng định bằng chứng vật chất của công ty
cung ứng dịch vụ là hết sức quan trọng. Nó giúp cho việc tạo ra vị thế của công ty và
trợ giúp hữu hình cho dịch vụ. Chính vì vậy mà các ngân hàng đã phải chi ra những
khoản tiền lớn để tạo ra kiểu dáng kiến trúc các trang trí nội thất, trang bị đồng phục
cho nhân viên… nhằm gây ấn tượng về tiếng tăm, uy tín vị thế của mình.
1.2.3 Quá trình
Đối với các ngành dịch vụ, quá trình (Process) cung cấp và tiêu thụ dịch vụ xảy
ra đồng thời, và trong nhiều loại dịch vụ, khách hàng tham gia vào quá trình tạo ra
dịch vụ. Khách hàng không chỉ quan tâm đến kết quả của dịch vụ, mà còn quan tâm
đến quá trình cung cấp dịch vụ, vì quá trình đó diễn ra trước mắt khách hàng. Quá
trình này tác động mạnh tới tâm lý, cảm nhận của khách hàng.
Vì cũng do tính đồng thời trong quá trình cung ứng dịch vụ, chất lượng của sản
phẩm dịch vụ được đảm bảo chủ yếu thông qua một quy trình cung ứng rõ ràng, chuẩn
xác. Loại trừ được những sai sót từ cả hai phía. Một quy trình hiệu quả cũng hạn chế
được đặc điểm không đồng nhất trong quá trình cung ứng dịch vụ.
người đều nghĩ “tiền nào của nấy”.
Địa điểm: là một yếu tố khác tạo ra giá trị cho khách hàng. Không ai lại đi hàng
chục cây số để đến một nhà hàng dùng bữa, vì vậy địa điểm phù hợp sẽ tạo sự tiện lợi
và giúp khách hàng tiết kiệm thời gian. Một nguyên tắc là vị trí càng gần khách hàng
thì khả năng khách hàng đến sử dụng dịch vụ càng cao.
Truyền thông: nhằm tạo sự nhận biết cũng như cảm nhận ban đầu của khách hàng
về các dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Để đảm bảo sự nhất quán và gia tăng tính
hiệu quả của truyền thông thì mọi thông điệp truyền tải cần phải bám sát với định vị
thương hiệu.
Con người: là phần mấu chốt trong việc thực hiện dịch vụ. Nếu nhà hàng có
những món ăn ngon mà người phục vụ quá kém thì cũng không tạo được sự hài lòng
của khách hàng. Sự ân cần và tươi cười luôn được đánh giá cao bởi khách hàng.
Quy trình: là một phần quan trọng khác của chất lượng dịch vụ. Vì đặc tính của
dịch vụ là trừu tượng vì vậy quy trình sẽ giúp đảm bảo chất lượng và nối kết giữa các
công đoạn trong quy trình cung ứng dịch vụ. Ngoài ra, quy trình dịch vụ còn giúp
doanh nghiệp tiết kiệm khoảng thời gian chờ đợi của khách hàng và điều này tạo ra giá
trị lớn, chẳng hạn một khách hàng không thể đời hàng chục phút để mua được phần
thức ăn nhanh…
Môi trường dịch vụ: là một yếu tố khác ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách
hàng. Đặc điểm của dịch vụ là sự trừu tượng nên khách hàng thường phải tìm các yếu
tố “hữu hình” khác để quy chuyển trong việc đánh giá. Ví dụ, khi một bệnh nhận tìm
đến một nha sĩ thì yếu tố phòng khám sạch sẽ, trang nhã, yên tĩnh hay trên tường treo
nhiều giấy chứng nhận, bằng khen, bằng cấp, bài báo viết về vị nha sĩ này sẽ tạo ra
một niềm tin rất lớn từ bệnh nhân.
Marketing dịch vụ là một mô hình hoàn toàn khác với sản phẩm vì vậy với loại
hình dịch vụ thì bạn cầu thấu hiểu 7P để mang đến chất lượng dịch vụ như mong đợi
của khách hàng.
GVHD: Thầy Phan Trọng Nhân
Xây dựng chiến lược marketing dịch vụ cho công ty du lịch Young Travel 42
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÔNG TY DU LỊCH YOUNG
với khách hàng mục tiêu.
2.1.5. Giá trị cốt lõi
- Luôn tuân thủ các quy chuẩn và cam kết chất lượng đã công bố với khách hàng.
- Xem chất lượng dịch vụ và sự tiện ích của khách hàng là tiêu chí hàng đầu trong các
định hướng và hoạt động kinh doanh của Young Travel.
GVHD: Thầy Phan Trọng Nhân
Xây dựng chiến lược marketing dịch vụ cho công ty du lịch Young Travel 42
- Tiên phong trong việc gợi mở những cảm hứng, mong đợi tiềm ẩn của khách
hàng để mang đến cho khách những sản phẩm du lịch độc đáo, mới lạ chỉ có thể tìm
thấy ở Young Travel.
2.1.6 Slogan
Với thị trường mục tiêu là đối tượng sinh viên nên công ty có câu slogan “Young
Travel - du lịch trẻ - du lịch rẻ - du lịch khỏe”.
Ý nghĩa của các chuyến đi sẽ nâng cao các kĩ năng mềm và nhiều kinh nghiệm sống
cho các bạn sinh viên. Vì sinh viên là đối tượng có nguồn thu nhập thấp nên chi phí là
điều rất quan trọng, để đáp lại nỗi lo đó công ty sẽ đưa ra mức giá ưu đãi nhất.
2.1.7 Cơ cấu công ty
1. Hoàng Nguyễn Ngọc Hưng - Giám Đốc
Điện thoại: 016655.1234.2
2. Hoàng Thị Hồng Ngọc - Phó Giám đốc
ĐT: 0982017356.
3. Đỗ Thị Quỳnh Như - Phó Trưởng phòng Xúc tiến và Tư vấn du lịch
Điện thoại : 0986 658 222.
4. Nguyễn Thị Tố Loan - Phó trưởng phòng Hành chính - Tổng hợp
Điện thoại: 01659181979
5. Đặng Thị Ngọc - Phòng Xúc tiến và Tư vấn Du lịch
Điện thoại: 0986637428
6. Nguyễn Thị Thảo - phòng Hành chính - Tổng hợp
Điện thoại : 0979 746 078
Phân công nhiệm vụ
- Phụ trách phát hành các ấn phẩm nhằm giới thiệu, tuyên truyền quảng bá về tiềm
năng Du lịch trên địa bàn tỉnh; tham gia phát hành bản tin du lịch của ngành.
Bà Phạm Thị Ngoan - Viên chức
- Chịu trách nhiệm về công tác Tài chính - Kế toán cơ quan;
- Phụ trách công nghệ thông tin; quản lý cơ sở vật chất, thiết bị thông tin.
- Cập nhật, khai thác, thông tin liên quan ngành VHTTDL
Bà Nguyễn Thị Thảo - Cán bộ
- Chịu trách nhiệm về công tác Văn thư - Hành chính như: Đánh máy, photo, nhận, gửi
công văn đến, công văn đi
- Công tác báo cáo Thống kê - Tổng hợp theo công việc hàng ngày;
- Công tác trưng bày giới thiệu quảng bá sản phẩm du lịch địa phương;
- Giới thiệu và cung cấp các thông tin về khu điểm du lịch tại Bắc Giang;
• Phòng Xúc tiến và Tư vấn du lịch
Ông Dương Thành Sang - Phó Trưởng Phòng Xúc tiến và Tư vấn Du lịch
- Cung cấp dịch vụ tư vấn cho doanh nghiệp về thông tin thị trường và sản phẩm du
lịch; tư vấn cho các doanh nghiệp đi khảo sát thị trường và việc đặt chi nhánh, đại diện
về chương trình hợp tác du lịch;
- Theo dõi khai thác tài nguyên du lịch trên địa bàn tỉnh bao gồm: Việc điều tra, khảo
sát khu, điểm du lịch, tuyến du lịch địa phương.
- Tham mưu, tư vấn, tổ chức trong các lớp tập huấn về tuyên truyền, quảng bá tiếp thị
du lịch. Hướng dẫn ứng dụng các tiến bộ khoa học công nghệ và lĩnh vực du lịch ở địa
phương.
GVHD: Thầy Phan Trọng Nhân
Xây dựng chiến lược marketing dịch vụ cho công ty du lịch Young Travel 42
- Tổng hợp báo cáo tháng, quý, năm cung cấp tin bài phục vụ cho công tác phát triển
du lịch.
- Khai thác tin bài trên mạng, các phương tiện tuyên truyền khác phục vụ cho trang
thông tin điện tử.
Bà Trần Ánh Ngọc - Viên chức
- Tham mưu đề xuất xây dựng sản phẩm du lịch
Du lịch có rất nhiều tour, có tour ngắn, tour dài tùy theo nhu cầu của khách hàng. Vào
các dịp cuối tuần, tết, lễ hoặc ngay cả trong tuần… thời gian mà sinh viên rảnh và
muốn nghỉ ngơi. Dự án được xây dựng nhằm cung cấp những chuyến du lịch liên hồi.
GVHD: Thầy Phan Trọng Nhân
Xây dựng chiến lược marketing dịch vụ cho công ty du lịch Young Travel 42
2.2.4 Why?
Các bạn sinh viên, học sinh thuộc dạng khách ít tiền nhưng đầy tính “hiếu động” và
thích khám phá. Do đó, làm các loại tour này thường không có lời bao nhiêu nhưng lại
nặng lo về trách nhiệm nhưng vì đều là sinh viên nên chúng tối thấu hiểu khó khăn
muốn được đi, học hỏi và đáp ứng kỹ năng sống của các bạn nhiều như thế nào? Tuy
vậy, công ty chúng tôi vẫn muốn mình là cầu nối đưa lối và bù đắp các thiếu sót cho
các bạn trẻ.
Chuyến du lịch của chúng tôi không chỉ nhằm mục đích kinh tế mà điều quan trọng là
chúng tôi muốn cung cấp cho các bạn học sinh - sinh viên các kỹ năng sống, kỹ năng
tổ chức, kỹ năng mềm…. Những kỹ năng mà sinh viên Việt Nam còn yếu, tuy thời
gian ngắn ngủi nhưng hứa hẹn sẽ trau dồi và cung cấp cho các bạn nhiều thông tin bổ
ích không chỉ cho cuôc sống, học tập mà còn cho cả công việc tương lai sau này
2.2.5 How
Khi muốn tham gia chuyến du lịch của công ty khách hàng có thể trực tiếp tới văn
phòng của công ty để mua vé, hay cũng có thể đặt vé qua mạng, gọi điện thoại
Tới ngày khởi hành hành khách sẽ tới văn phòng của công ty để lên xe và bắt đầu
chuyến du lịch.
Công ty sẽ liên lạc trước với các điạ điểm mà hành trình sẽ dừng lại như khách sạn,
nhà hàng, quán ăn hay nhà dân để hành khách có thể ở chung với những người dân để
tìm hiểu thêm về phong tục, tập quán, văn hóa của các vùng miền.
Trong chuyến du lịch hành khách có thể khám phá những điều mới là chưa bao giờ
biết đến, ăn những món ăn đặc sản của các vùng miền, tìm hiểu những nền văn hóa
đặc trưng.
Ngoài ra còn tăng thêm kĩ năng mềm khi làm quen với nhau để tham gia các trò chơi,
hòa đồng trong chuyến di
cung vua, phủ chúa, lăng tẩm, chùa chiền, đền đài, miếu mạo, những di tích khảo cổ học,
… và những giá trị phi vật thể như ngôn ngữ, nghệ thuật thanh sắc, lễ hội, ẩm thực, trang
phục truyền thống, phong cách ứng xử, giao tiếp,… Các giá trị đó tồn tại rộng khắp trên
GVHD: Thầy Phan Trọng Nhân
Xây dựng chiến lược marketing dịch vụ cho công ty du lịch Young Travel 42
đất nước Việt Nam, trong mỗi con người Việt Nam. Đó là lý do Việt Nam sở hữu một con
số rất đáng tự hào, 1/34 nền văn hóa của thế giới.
• Du lịch kể từ khi hình thành đã được coi là “sự mở rộng không gian văn hóa của con
người”. Con người ở những nền văn hóa khác nhau có nhu cầu di chuyển để tìm kiếm,
trao đổi, học hỏi những cái mới lạ, trau dồi những cái tốt, bổ sung những cái thiếu, làm
giàu vốn tri thức của mình sau khi những giá trị vật chất đã được thỏa mãn. Đó là một
trong những lý do chính yếu để hoạt động du lịch hình thành và phát triển nhanh chóng.
Các quốc gia phương Đông, trong đó có Việt Nam với nền văn hóa huyền bí, đầy màu sắc
là điểm đến thu hút rất nhiều khách du lịch phương Tây. Những di tích lịch sử, công trình
kiến trúc tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục tập quán, lễ hội,… ngay lập tức trở thành sản
phẩm du lịch. Các trung tâm du lịch văn hóa nổi tiếng của Việt Nam như Hà Nội, Huế,
Hội An,… luôn có tên trên các chương trình du lịch quảng bá rộng khắp cho khách du lịch
nước ngoài. Tiếp xúc với một nền văn hóa khác, người ta không những cần hiểu mà còn
thích thú được đắm mình vào nền văn hóa ấy để tự khám phá. Ðiều đó lý giải tại sao du
khách phương Tây không chỉ thấy hứng thú khi ở trong căn phòng như chiếc "chuồng
chim" vắt vẻo trên ngọn phi lao ven biển Nha Trang, họ còn say sưa tìm đến những bản
làng vùng cao heo hút, để được ở nhà sàn, uống rượu ngô, ăn mèn mén, nhiệt tình múa hát
trong những đêm "xòe", và thích thú khoác lên mình chiếc khăn, tấm áo thổ cẩm
3.1.3 Pháp luật – Chính trị
• Có thể nói không một ngành kinh tế nào có thể nhạy cảm với tình hình pháp luật – chính
trị như ngành du lịch. Xét cho cùng, đi du lịch không phải thử thách lòng dũng cảm mà là
đi du lịch để nghỉ ngơi, tham quan tìm hiểu cuộc sống. Chính vì vậy chỉ cần một sự bất ổn
nhỏ của pháp luật – chính trị cũng sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến ngành du lịch.
• Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với phát triển du lịch thể hiện qua các Nghị quyết
các kỳ Đại hội đảng lần thứ VII, VIII, IX, X và XI, Chỉ thị của Ban Bí Thư, Nghị quyết
3.2.1 Tình hình thị trường
Từ lâu ngành du lịch không chỉ được coi như 1 ngành kinh tế mà còn là ngành giúp
quảng bá đất nước, con người, văn hoá đến với toàn bộ thế giới. Tất cả chúng ta đều
biết ngành du lịch là ngành kinh tế không khói, mang lại nguồn lợi nhuận lớn. Thực tế
cho thấy, rất nhiều nước đã cải thiện được đáng kể nền kinh tế của mình nhờ việc phát
triển hiệu quả ngành du lịch.
Hơn một phần ba tổng sản phẩm trong nước được tạo ra bởi các dịch vụ, trong đó bao
gồm khách sạn và phục vụ công nghiệp và giao thông vận tải; đóng góp 4,5% trong
tổng sản phẩm quốc nội (năm 2007). Năm 2012 nước ta đón 6.847.678 lượt khách và
mang về doanh thu đạt hơn 6,6 tỷ USD. Ngày càng có nhiều dự án đầu tư trực tiếp
nước ngoài đổ vào ngành du lịch. Sau các ngành công nghiệp nặng và phát triển đô thị,
đầu tư nước ngoài hầu hết đã được tập trung vào du lịch, đặc biệt là trong các dự án
khách sạn.
Với khí hậu ôn hòa,quanh năm nắng ấm và TP HCM là thành phố trung tâm kinh tế,
văn hóa đầy sôi động đã tạo điều kiện cho sự phát triển của ngành du lịch. Có rất nhiều
GVHD: Thầy Phan Trọng Nhân
Xây dựng chiến lược marketing dịch vụ cho công ty du lịch Young Travel 42
công ty du lịch ở phía Nam được thành lập đã đáp ứng phần nào nhu cầu tham quan,
nghỉ ngơi của con người. Thị trường du lịch ở đây phát triển nhanh chóng với hàng
trăm khu du lịch được thành lập. Tuy nhiên, trong một thị trường tiềm năng như vậy
không hẳn mọi thứ là hoàn hảo, bằng chứng là thị trường du lịch dành cho giới trẻ hiện
nay còn chưa được khai thác sâu; hầu hết các tour du lịch còn đơn điệu và thiếu sự
khác biệt. Vì vậy đây cũng là một điều kiện khá thuân lợi cho công ty phát triển một
thị trường mới, tập trung vào phân khúc là giới trẻ thích du lịch, khám phá và năng
động.
Giới trẻ là những người ham đi, ham tìm hiểu, khám phá những điều lạ. Đó là một thị
trường đầy tiềm năng của các công ty du lịch nói riêng và ngành du lịch nói chung.
Thế nhưng, hiện nay, thị trường du lịch đầy tiềm năng này vẫn còn bỏ ngỏ.
3.2.2 Khách hàng
Là những bạn trẻ, có thể là các sinh viên hay học sinh, chủ yếu là các bạn đang sinh
giới trẻ, tập trung vào các thị trường ở khu vực Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ với
những danh lam thắng cảnh hay nhưng khu rừng sinh thái, miệt vườn, các bãi biển.
Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn:
Trong tương lai có thể sẽ xuất hiện những công ty hoạt đông tương tự như Young
Travel, với dịch vụ du lịch đã tồn tại lâu nay nhưng tập trung vào thị trường mới với
phân khúc dành cho các bạn trẻ, hướng tới mục tiêu phát triển thị trường du lịch trẻ.
3.3 Phân tích năng lực marketing của doanh nghiệp
3.3.1 Bản thân doanh nghiệp
a) Nguồn nhân lực: Không chỉ xây dựng những hành trình du lịch, vui chơi, khám
phá mới mẻ, thú vị dành cho giới trẻ, Young Travel còn là nơi đào tạo, nâng cao kiến
thức kĩ năng của mỗi người, đặc biệt là sinh viên, yêu thích ngành du lịch. Vì vậy 70%
lao động được sẽ được tuyển dụng, huấn luyện từ những sinh viên (đang học hoặc mới
ra trường) tại các trường cao đẳng, đại học, không phân biệt ngành học. Có thể nói lực
lượng lao đông sinh viên tuy còn thiếu trình độ và kinh nghiệm nhưng là lực lượng lao
động trẻ, năng động và sáng tạo, đây là lực lượng khá tiềm năng và đang có xu hướng
ngày càng tăng, chỉ tính riêng ở địa bàn thành phố HCM đã có hơn 60 trường cao đẳng
đại học, với hơn 300 nghìn sinh viên. Và 30% lao động còn lại là chuyên gia, những
người có kinh nghiệm tổ chức, đào tạo nhân lực trong nghành du lịch có tâm huyết với
công việc.
b) Tài chính: Trong giai đoạn mới thành lập với rất nhiều khoản chi cho việc xây
dựng cơ sở vật chất, tổ chức các hoạt động Marketing vì vậy doanh nghiệp sẽ gặp rất
nhiều khó khăn về vốn. Vì vậy ngoài vốn góp cổ phần từ các cổ đông sáng lập doanh
nghiệp sẽ vận động thêm vốn từ các tổ chức tài chợ, đầu tư phát triển, vay ngân hàng,
…để đảm bảo nguồn lực tài chính mạnh, bên cạnh đó sẽ cố gắng thực hiệc các giải
pháp tiết kiệm chi phí.
c) Cơ sở vật chất: Đầu tư xây dựng hệ thống văn phòng, khu vực huấn luyện, cùng
những trang thiết bị đầy đủ cần thiết với quy mô vừa.
d) Hệ thống quy trình: Tổ chức hệ thống, quản lý quy trình chặt chẽ từ khâu tiếp
nhận đăng kí các tour du lịch, đến khâu tổ chức hành trình, liên hệ các chi nhánh các
địa điểm du lịch, đăng kí đặt phòng, nhà hàng,…
ích và nhiều hoạt động vui
chơi thú vị.
WEEKS
- Nhân lực trẻ chủ yếu là
sinh viên còn thiếu
những trải nghiệm thực
tế.
- Cơ sở vật chất còn yếu
kém.
- Nguồn vốn còn hạn
chế, khó huy động vốn.
- Các đầu mối quan hệ
với khách hàng, và các
nhà cung ứng trong
ngành còn rất hạn chế.
- Thiếu năng lực cạnh
tranh
OPORTUNITIES
- Nền kinh tế quốc gia đang
hội nhập toàn cầu
- Du lịch là ngành công
nghệ không khói hứa hẹn
đầy tiềm năng.
- Nhu cầu du lịch đặc biệt
là ở giới trẻ đang ngày càng
cao.
- Khu vực Miền Nam Việt
Nam với nhiều danh lam
thắng cảnh đep, nhiều khu
du lịch, vui chơi nổi tiếng
- Thị trường đi vào phân
khúc mới mang nhiều rủi
ro.
- Phải cạnh tranh với nhiều
doanh nghiệp lớn có nhiều
kinh nghiệm trong ngành.
- Xu hướng tiết kiệm chi
tiêu của xã hội cao.
ST
- Tăng cường thêm các
hoạt động quảng cáo,
khuyến mãi
- Xây dựng chiến lược
quản lý chất lượng sản
phẩm du lịch đạt chuẩn
quốc tế.
- Sử dụng lợi thế giá cả
định vị lại sản phẩm du
lịch, nâng cao tính cạnh
tranh.
WT
- Đẩy mạnh công tác cải
thiện cảnh quan môi
trường du lịch.
- Liên doanh liên kết với
các hảng du lịch nổi
tiếng. Du lịch kết hợp
sinh thái hổn hợp.
- Tổ chức công tác tuyển
dụng hợp lý, huấn luyện
thêm 50% nhân viên thời vụ trong đó 20% sẽ là lực lượng nòng cốt của doanh nghiệp
qua các hình thức chiêu mộ, quảng bá doanh nghiệp đến các trường cao đẳng, đại học.
Mục tiêu 3: Trong vòng 2 năm xây dựng được hệ thống liên kết các đầu mối trong
ngành hoàn chỉnh, rộng khắp khu vực Miền Nam thông qua việc đẩy mạnh các chính
sách quan hệ.
Mục tiêu 5: Đạt mức tăng trưởng doanh thu 5% và tiếp tục duy trì, phát triển hơn trong
5 năm tiếp theo qua việc nâng cao chất lượng dịch vụ, đẩy mạnh các hình thức quảng
bá, khuyến mãi.
Mục tiêu 6: Trong 5 năm phấn đấu đạt thị phần đứng đầu trong thị trường du lich trẻ
tại khu vực Miền Nam, tăng mức độ nhận thức của giới trẻ với doanh nghiệp lên 80%,
thu hút hơn 40% sinh viên tại các trường cao đẳng, đại học tham gia, thông qua những
chiến lược giá rẻ, sự đa dạng các hình thức dịch vụ. tạo cơ sở mở rộng thị trường sang
các khu vực mới, mở rộng đối tượng trong phân khúc thị trường sang các trường
THCS, THPT,…
3.5 Xây dựng chiến lược marketing 7P
Giới thiệu Marketing Mix của Young Travel
GVHD: Thầy Phan Trọng Nhân
Xây dựng chiến lược marketing dịch vụ cho công ty du lịch Young Travel 42
3.5.1 Sản phẩm
Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành, tạm trú, trong mục
đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc trong mục đích nghỉ ngơi,
giải trí, thư giãn; cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa, trong
thời gian liên tục nhưng không quá một năm, ở bên ngoài môi trường sống định cư;
nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền. Du lịch cũng là một
dạng nghỉ ngơi năng động trong môi trường sống khác hẳn nơi định cư.
Du lịch sinh viên là một trong những phân khúc thị trường mới được khai thác nhằm
đánh vào nhu cầu đông đảo của một bộ phận dân cư có thu nhập thấp trong thành
phố.Hoạt động mang lại cho các bạn sinh viên những kì nghỉ ngắn hoặc dài ngày sau
những chuỗi ngày làm việc, học tập căng thẳng.
Công ty chúng tôi hoạt động trên tiêu chí mang lại cho khách hàng( đặc biệt là các bạn
1. Công viên văn hóa Đầm Sen và Suối Tiên
GVHD: Thầy Phan Trọng Nhân
Xây dựng chiến lược marketing dịch vụ cho công ty du lịch Young Travel 42
Đầm Sen và Suối Tiên là hai công viên văn hóa, giải trí nổi tiếng nhất trong số các
điểm du lịch Sài Gòn. Điểm nhấn của hai công viên này ngoài cảnh quan tuyệt đẹp là
hệ thống trò chơi phong phú với ba cấp bậc khác nhau, phục vụ tất cả các đối tượng
đến vui chơi và thư giãn.
Bên cạnh đó, hai công viên này liên tục làm mới mình với hàng loạt trò chơi, trang
thiết bị nên dù có đến bao nhiêu lần, bạn vẫn cảm thấy mới mẻ và đáng để trải nghiệm.
Địa chỉ: Công viên văn hóa Đầm Sen, 3 Hòa Bình, phường 3, quận 11, TP.HCM; Suối
Tiên: 120 Quốc lộ 1A, Tân Phú, Quận 9.
2. Khu du lịch Kỳ Hòa
Tọa lạc ngay trung tâm thành phố, KDL Kỳ Hòa xanh mát với khu công viên, trung
tâm hội chợ quốc tế, khách sạn hiện đại và cả một hệ thống nhà hàng. Tại đây có đủ
các loại hình vui chơi giải trí dành cho người lớn và trẻ em như bơi thuyền trên hồ, đu
quay đứng, bập bênh, đi xe lửa vòng quanh đất nước, nhà cười, sở thú mini…
Địa chỉ: 12 đường 3 tháng 2, Q 10.
GVHD: Thầy Phan Trọng Nhân