Số Điện thoại : 0973578668
CẢM NHẬN VỀ CHI TIẾT CÁI BÓNG
Đọc chuyện người con gái Nam Xương một chi tiết đặc sắc đó là hình ảnh cái bong mà người đọc không
thể nào quên.
Cái bóng là 1 chi tiết nghệ thuật snág tạo, độc đáo, giàu ý nghĩa. chi tiết này xuất hiện từ đầu tác phẩm có
tác dụngt hắt nút câu chuyện( đẩy các mâu thuẫn đến đỉnh điểm). cái bióng xuất hiện troing lời nói đùa của vũ
nương khi nói với người con. những ngày xa cách, bé đản luôn hỏi về bố, VN chỉ cái bóng mình trên vách và nói
vô tư con đó là cha Đản. trong những ngày tháng xa chồng, nàg luôn nghĩ về người chồng yêu dấu, trong suy nghĩ
của nàmg, chồng luôn ở bên cạnh, vợ chồng như hình với bóng. vậy mà không ngờ 1 lời nói đùa trong thương nhớ
laị trở thành sợi dây vô tình, oan nghiệt thắt chặt cuộc đời nàng.
chi tiết cái bóng không chỉ có tác dụng thắt nút câu chuyện, mà đièu thú vị là cũng chính câu chuyện này
lại mở nút câu chuyện. vũ nương đc giải oan cũng như hình tượng cái bóng:1 đêm phòng không vắng vẻ, bé đản
chỉ bóng bố mình trên vách nói rằng cha đản lại dến. trương sinh bây mới ngộ tỉnh ra, thấu hiểu nỗi oan của vợ,
mâu thuẫn câu chuyện đã đựôc giải quyết. có thể nói rằng: cái bóng là 1 hình tượng nghệ thuật đạt tới sự hoàn
chỉnh, là sự tập trung, khái quát hoá, hình tượng hoá sự hiểu lầm vô tình hay lưỡng ý của trương sinh.
Qua tác phẩm ta có cảm giác cái bóng đã quyết định số phận con người, đây phải chăng là nét vô lí, li kì vẫn có
trong các truyện cổ tích truyền kì? Không chỉ dừng lại ở đó, cái bóng còn là tượng trưng cho oan trái khổ đau, cho
bất hạnh của biết bao người phụ nữ sống dưới xã hội đương thời). Nỗi oan của họ rồi cũng chỉ là những cái bóng
mờ ảo, không bao giờ được sáng tỏ). Hủ tục phong kiến hay nói đúng hơn là cái xã hội phong kiến đen tối đã vùi
dập, phá đi biết bao tâm hồn, bao nhân cách đẹp, đẩy họ đến đường cùng không lối thoát. Để rồi chính những
người phụ nữ ấy trở thành “ cái bóng” của chính mình , của gia đình, của xã hội. Chi tiết “ cái bóng” được tác giả
dùng để phản ánh số phận, cuộc đời người phụ nữ đầy bất công ngang trái nhưng cũng như bao nhà văn khác ông
vẫn dành một khoảng trống cho tiếng lòng của chính nhân vật được cất lên, được soi sáng bởi tâm hồn người đọc.
“ Cái bóng” được đề cao như một hình tượng đẹp của văn học, là viên ngọc soi sáng nhân cách con người. Bạn đọc
căm phẫn cái xã hội phong kiến bao nhiêu thì lại càng mở lòng yêu thương đồng cảm với Vũ Nương bấy nhiêu. “
Cái bóng” là sản phẩm tuyệt vời từ tài năng sáng tạo của Nguyễn Dữ góp phần nâng câu chuyện lên một tầm cao
mới: chân thực hơn và yêu thương hơn.
Chi tiết cái bong này tạo nên sự bất ngờ cho câu chuyện. nó góp phần làm nên thành công trong việc xây
dựng tình huống truyện trong việc bộc lộ nội dung chủ đề của Tác phẩm.
GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG
Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta ở thế kỷ XVI, một tập truyện văn xuôi bằng
chồng giờ đây hoá đá Tuyệt vọng vì phải gành chịu nỗi oan khuất tày trời không phương giải bày, cứu chữa
nàng đành mượn cái chết để chứng tỏ tiết hạnh trong sáng của mình. lời khấn nguyện với thần linh vô cùng thảm
thiết: “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ
Nga Mĩ. Nhựợc bằng lòng chim, dạ cá, lừa dối chồng con, được xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho
diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ ” lời khấn nguyện đã làm cho người đọc xót xa - con người rơi
cảnh ngộ bế tắc, không thể tiếp tục sống để tự giải oan tình mà phải tìm đến cái chết để thần linh chứng dám.
Sau một năm ở thuỷ cung, khi nghe kể chuyện nhà, nàng đã ứa nước mắt khóc, nghĩ đến câu “ngựa Hồ gầm giá
Bắc, chim Việt đậu cành Nam” rồi hiện về trên dòng nước cho thoả lòng nhớ chồng, con.
Qua những hoàn cảnh khác nhau của vũ Nương, với những lời tự thoại của nàng, truyện đã khẳng định những
nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam - một người phụ nữ đẹp người, lại nết na, hiền thục, đảm đang,
tháo vát, rất mực hiếu kính với mẹ chồng, giữ vẹn lòng chung thuỷ sắt son với chồng, hết lòng vun đắp hạnh phúc
gia đình, lẽ ra phải được hạnh phúc trọn vẹn thế mà phải chết một cách oan uổng, đau đớn.
Cái chết của Vũ Nương có nhiều nguyên nhân sâu xa, bắt nguồn từ hiện thực nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến
của xã hội cũ, với chế độ “nam quyền”, coi rẻ thân phận của người phụ nữ, rồi tính đa nghi, ghen tuông của
chồng, thói hung bạo, gia trưởng của chồng đã làm khổ đau bao cuộc đời những người phụ nữ.
Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần không bình đẳng (thiếp vốn con nhà khó, được nương tựa
nhà giàu). Xã hội phong kiến lại coi trọng “nam quyền”, hơn nữa Trương Linh lại có tính đa nghi, đối với vợ thì
phòng ngừa quá mức. Những chi tiết này chuẩn bị cho những hành động độc đoán của Trương Sinh sau này.
Khi đánh giặc trở về, Trương Sinh cũng mang một tâm trạng nặng nề: mẹ qua đời, con vừa học nói, lòng
buồn bã. Trong hoàn cảnh như thế, lời của Bé Đản dễ kích động tính hay ghen của Trương Sinh: “trước đây,
thường có một người đàn ông đêm nào cũng đến.Điều đáng trách là thái độ và hành động độc đoán của Trương
Sinh khi ấy. Không đủ bình tĩnh để tìm hiểu vấn đề, chàng bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, những lời
bênh vực của họ hàng, làng xóm, không chịu nói ra duyên cớ ghen hờn. Cuối cùng, Sinh lại mắng nhiếc nàng và
đánh đuổi nàng đi. Thái độ và hành động của Trương Sinh vô hình dung dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ
Nương.Hành động gieo mình xuống sông Hoàng Giang của Vũ Nương phản ánh một thực trạng về thân phận
người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ bị buộc chặt trong khuôn khổ khắt khe của lễ giáo, bị đối xử bất công,
bị áp bức và chịu nhiều khổ đau, bất hạnh. Đó cũng chính là giá trị tố cáo hiện thực của tác phẩm. Đằng sau nỗi
oan của người thiếu phụ Nam xương, còn bao nhiêu oan tình bất hạnh mà người phụ nữ ngày xưa phải gánh chịu:
Nàng Kiều trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, người cung nữ trong “cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia
Thiều, người phụ nữ lỡ duyên tình trong thơ Hồ Xuân Hương.Phải nhận thấy rõ rằng với truyện ngắn đầu tiên viết
CẢM NHẬN BỨC TRANH XUÂN
Mùa xuân là đề tài bất tận của thi ca nói riêng và các lĩnh vực nghệ thuật khác nói chung. Cái đẹp của
mùa xuân là sự khám phá và sáng tạo bất biệt của nghệ thuật. Thế nhưng cứ nhắc đến mùa xuân trong thơ, ta
không khỏi bồi hồi nhớ đến câu thơ của Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du :
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
Nguyễn Du khi viết truyện Kiều đã tả bức tranh bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Cả bốn bức tranh đều chỉ
bằng những nét gợi tả nhưng cũng đủ vẽ ra cái thần thái của cảnh vật bốn mùa. Trong đó đáng chú ý là bức tranh
mùa xuân trong đoạn trích Cảnh ngày xuân của Truyện Kiều. Đoạn thơ Cảnh ngày xuân tả cảnh ngày xuân
trong tiết Thanh minh, chị em Thuý Kiều đi chơi xuân. Bức tranh khung cảnh ngày xuân được tác giả gợi tả với
hình ảnh cánh chim én. Chim én là hình ảnh A giới quan của con người. Mùa xuân cánh chim én bay về từ
phương Nam xa xôi, mang theo không khí ấm áp của phương Nam để xua đi cái giá lạnh của phương Bắc. Không
biết từ lúc nào hình ảnh cánh chim én đã trở thành hình ảnh mang tính biểu tượng của mùa xuân.Hình ảnh con én
đưa thoi được tác giả sử dụng biện pháp ẩn dụ nhân hoá. Ngày xuân với hình ảnh chim én bay đi, bay lại trong
bầu trời xuân, rất nhanh như chiếc thoi chạy trên khung cửi. Hình ảnh thơ vừa có tác dụng tả cảnh. Gợi ra sự liên
tưởng mùa xuân hình ảnh con chim én đang dệt nên bầu trời mùa xuân. Không những thế biện pháp tư từ ẩn dụ
còn gợi cảm giác ngày xuân trôi qua rất nhanh. Đó là một cảm giác nuối tiếc thời gian. Thời gian mùa xuân trôi
quan rất nhanh.Thiên tài Nguyễn Du không gợi tả bức tranh xuân vào thời khắc chớm xuân, thời khắc của sự tinh
khiết, trong trẻo và mơn mởn nhất của mùa xuân. Ngược lại Nguyễn Du lựa chọn một khoảng thời gian đặc biệt:
Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi.
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
Số Điện thoại : 0973578668
Một mùa được tính gồm có chín mươi ngày, nhưng khi thời gian đã ngoài sáu mươi có nghĩa đó là
khoảng thời gian tháng ba, tháng cuối cùng của mùa xuân. Không gian mùa xuân được gợi lên từ hình ảnh “thiều
quang” là một thứ ánh sáng đẹp. Ánh sáng đó gợi sự mênh mông, thoáng đãng bởi ánh sáng đẹp của ngày xuân. Ở
vào khoảng thời gian cuối của mùa xuân nhưng không gian xuân vẫn tràn trề sự trong trẻo của mùa xuân, giữ
được sự tươi mát của mùa xuân. Những yếu tố đó tạo ra bức tranh mùa xuân:
Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa
hơn thế. Một bức tranh làm say lòng người đọc như đang chiêm ngưỡng người họa sĩ - thi sí Nguyễn Du đang vẽ
đường nét sống động của mùa xuân.
PHÂN TÍCH NHÂN VẬT LỤC VÂN TIÊN ĐÁNH CƯỚP
Đọc tác phẩm “Lục Vân Tiên” cuarNguyễn Đình Chiểu ta bắt gặp nhiều nhân vật có tấm long sang ngời
nhân nghĩa.Trong đó tiêu biểu và được nhiều người biết đến nhất là Lục Vân Tiên . Đó là 1 đoạn thơ hay chói
ngời tinh thần nhân đạo trong xã hội phong kiến xưa được thể hiện Trong đoạn trích " Lục Vân Tiên Đánh Cướp "
thật là đặc sắc
Nhân vật chính trong tác phẩm là 1 nho sinh văn võ song tòan đang trên đường lên kinh ứng thí , giữa
đường bắt chợt gặp bọn cướp Phong Lai đang hoành hành hại dân . Không màng đến thân mình Lục Vân Tiên đã
ra tay đánh cướp cứu người . Qua đó chúng ta thấy nỗi bật phẩm chất đáng quý tinh thần hiệp nghĩa vong thân .
Vân Tiên ghé lại bên đàng
Bẻ cây làm gậy nhằm làng xông vô
Kêu rằng bớ đảng hung đồ
Chớ quen làm thói hồ đồ hại dân
Có cảm giác sự việc xảy ra qua nhanh chóng bất ngờ . Bất ngờ cũng phải thôi Vân Tiên chỉ mới dừng chân
thôi mà đã gặp chuyện bất bình . Chàng không kịp suy nghĩ gì cả đã "bẻ cây làm gậy" xông vào bọn cướp . Chàng
là ai! . Chỉ là 1 người nho sinh lên kinh ứng thí . Nhưng tại sao lại có 1 dũng khí đến như vậy ? Do Lục Vân Tiên
đã hội tụ những phẩm chất tốt đẹp của các bậc " chính nhân quân tử " xưa . Coi việc nghĩa trên hết quên cả bản
thân mình.Nếu Vân Tiên chỉ dừng lại 1 chút thôi để tính toán thiệt hơn thì có lẽ đã mất đi hình tượng đẹp đẽ lay
động lâu người này . Hình tượng " văn võ song tòan " Phảng phất đâu đây cái chỉ của anh hùng " triệu tử " thời
tam quốc.Nhưng nó có nét khác biệt bởi Triệu Tử Long xông vào giữa đám trăm vạn quân Tào Không quản than
mình để cứu chúa thì Vân Tiên xông vào giữa đám cướp không tiếc thân mình để cứu dân.
Vân Tiên tả đột hữu xung
Khác nào Triệu Tử phá vòng đương giang
Bọn cướp khá đông mà Vân Tiên không hề e sợ . Xông pha như Triệu Tử đột phá vòng vây vậy . thấy
cướp " quen thói hồ đồ hại dân " là xông vào đánh hết mình, đánh bằng lòng dũng cảm , bằng võ nghệ điêu luyện .
Hình ảnh Vân Tiên hiên ngang xông vào giữa đám thảo khấu giống như chính nghĩa đang trừng trị cáci ác cái xấu
vậy . Nhân nghĩa và can trừơng biết bao!
Chàng chỉ đánh cướp chỉ vì bản năng con người thôi ! Chứ không tính toán thiệt hơn . Nhưng chàng cũng không
ngờ rằng người mình cứu được chính là Kiều Nguyệt Nga . Thái độ của chàng đối với giai nhân thật thú vị ! Càng
ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn và một phong thái
ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế. Chút nữa đây không biết ai
sống chết, chút nữa đây cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn “mặc kệ”, vẫn say
sưa với ánh trăng.
Ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối, trăng toả sáng làm ngời ngời lòng người, trăng
như cùng tham gia, cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những ngươì lính. Trăng truyền
thêm sức mạnh cho họ, tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn, trong sạch hơn, trăng cũng là bạn, là đồng chí của anh
bộ đội Cụ Hồ.Đầu súng trăng treo- hình ảnh thật đẹp và giàu sức khái quát. Súng và trăng kết hợp nhau; súng
tượng trưng cho chiến đấu- trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. Súng là con người, trăng là đất nước quê
hương của bốn nghìn năm văn hiến. Súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường- Trăng là hình ảnh người
thi sĩ. Sự kết hợp hài hoà tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí tưởng, mục đích chiến đấu
mà người lính ấy đang tham gia. Họ chiến đấu cho sự thanh bình, chiến đấu cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên
đỉnh núi. Ta hãy tưởng tượng xem: giữa đêm khuya rừng núi trập trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng
đó với súng khoác trên vai, nòng súng chếch lên trời và ánh trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng. Đó là biểu tượng
Khát Vọng Hoà Bình, nó tượng trưng cho tư thế lạc quan bình tĩnh, lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc.
Cái thần của câu thơ “Đầu súng trăng treo” nằm ở từ “treo”,, làm tăng thêm nét lãng mạn? Chỉ có trăng “treo”.
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
Số Điện thoại : 0973578668
Phải, chỉ có “Đầu súng trăng treo” mới diễn tả hết được cái hay, cái bồng bềnh thơ mộng của một đêm trăng
“đứng chờ giặc tới”. Ta nên hiểu bài thơ dường như được sáng tác ở thời điểm hiện tại “đêm nay” trong một
không gian mà mặt đất là “rừng hoang sương muối” lạnh lẽo và lòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái
chết có thể đến từng giây từng phút. Thế nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành
vầng trăng. Nếu miêu tả hiện thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian . Ở đây, từ điểm nhìn xa, cả
vầng trăng và súng đều tồn tại trên một mặt phẳng trong hội hoạ nó mang tính biểu tượng cao. Tố Hữu cũng có
một câu thơ kiểu này: “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” và Phạm Tiến Duật thì “Và vầng trăng vượt lên trên
quầng lửa” hay Hoàng Hữu “Chỉ một nửa vầng trăng thôi một nửa. Ai bỏ quên ở phía chân trời…”. Nhưng có lẽ
cô kết nhất, hay nhất vẫn là “Đầu súng trăng treo”.Như đã nói ở trên, không phải ngẫu nhiên mà Chính Hữu lấy
hình ảnh “Đầu súng trăng treo” làm tựa đề cho tập thơ của mình. Nó là biểu tượng, là khát vọng và cũng là biểu
hiện tuyệt vời chất lãng mạn trong bài thơ cách mạng. Lãng mạng nhưng không thoát li, không quên được nhiệm
mẹ ,cảm giác mình là người có lỗi và nhất là đang hết sức đau xót cho thân phận mình .Bởi vậy cảnh vật ấy
được cảm nhận theo con mắt của Thúy Kiều :cánh buồm thấp thoáng nỗi trôi vô định ,hoa trôi man mác càng gợn
nỗi phân li ,nội cỏ không mơn mởn xanh mà " rầu rầu " trong sắc màu tàn úa Nỗi bậc lên trong cảnh vật đó là
những âm thanh mê hoặc :
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi .
Trong Truyện Kiều Nguyễn Du cũng đã nhiều lần miêu tả âm thanh .Nguyễn Du đặc biệt thành công khi ông tả
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
Số Điện thoại : 0973578668
tiếng đàn của Kiều .Tùy theo tâm trạng ,mỗi lần tiếng đàn của Kiều cất lên là một lần nhười nghe phỉ chảy nước
mắt khóc cho số phận oan nghiệt của nàng .
Nguyễn Du không tả tiếng đàn mà tả tiếng sóng .Khung cảnh bát ngát mênh mang ,tiếng song vỗ " ầm ầm ",nhà
thơ đã đảo ngữ để cho ấn tượng đó càng rõ hơn quả là một thứ âm thanh hết sức bất thường .Dường như nó muốn
phá vỡ khung cảnh nặng nề nhưng yên tĩnh ,nó dứt Kiều ra khỏi dòng suy tư về gia đình ,người thân mà trả nàng
về với thực tại nghiệt ngã
Tám câu thơ ,mỗi cặp câu gợi ra một nỗi buồn sâu thẳm " Buồn trông " là buồn mà nhìn xa ,nhưng cũng là buồn
mà trông ngóng một cái gì mơ hồ sẽ đến làm đổi thay tình trạng hiện tại .Hình như nàng trong một cánh buồm
,nhưng cánh buồm chỉ thấp thoáng xa xa ,không rã ,như một ước vọng mơ hồ sẽ đến làm đổi thay tình trạng hiện
tại mỗi lúc một xa .Nàng lại trong ngọn nước mới từ cửa sông chảy ra biển ,ngọn sóng xô đẩy cánh hoa phiêu
dạt ,không biết về đâu .Kiều ngồi trên lầu cao làm sao thấy được cánh hoa trôi trên dòng nước .Đây chỉ là cảnh
tưởng tượng về số phận mình .
Tám câu thơ câu nào cũng vừa thực vừa hư ,vừa là thực cảnh vừa là tâm cảnh .Toàn là hình ảnh về sự vô
vọng ,sự dạt trôi ,sự bế tắc và sự chao đảo ,nghiêng đổ .Đây chính là lúc mà tình cảm Kiều trở nên mong manh và
yếu đuối nhất ,là lúc mà nàng rất dễ rơi vào cạm bẫy .
Nhìn chung tám câu thơ cuối của đoạn thơ này là những câu thơ tả cảnh ngụ tình rất đặc sắc .Tả xung quanh cảnh
là để tả tâm trạng Kiều ,nói lên tâm trạng đau buồn da diết của Thúy Kiều .Nguyễn Du đã khắc họa được một bức
tranh sinh động về ngoại cảnh và tâm cảnh ,trong đó nỗi lên tâm trạng Thúy Kiều bề bộn bao nỗi buồn đau ,chua
xot ,lo sợ ,vô vọng ,góp phần tạo nên vẻ đẹp thủy chung ,hiếu thảo và nhân hậu ở Thúy Kiều cùng với tâm
trạng cô đơn thương nhớ ở hai phần trên .
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
Số Điện thoại : 0973578668
Mỹ mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm. Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết, sự linh
hoạt của nhạc điệu, bài thơ đã khắc hoạ, tôn vính vẻ đẹp phẩm giá con người, hoà nhập với cảm hứng lãng mạn
cách mạng và âm hưởng sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống Mĩ xâm lược .
CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ BẾP LỬA
Ai đã một lần đọc bài thơ “bếp lửa” của Bằng Việt thì không thể nào quên cái tình cản thiêng liêng,đượm nồng
mà sâu lắng bao hàm cả nỗi tri ân của người cháu đối với bà.
Thơ của bằng Việt thật thiết tha và nồng đượm . chỉ là 1 bếp lửa chờn vờn sương sớm mà sao tha thiết
nghĩa tình thế , mà sao lắng sâu đến thế Thì ra có khi những điều nhỏ nhoi , giản dị nhất lại ẩn chứa tâm tình , chắt
đọng những điều thiêng liêng , lại hiện hình lên những tình cảm thiết tha , chân thành không thể nao quên . Cứ thế
bài thơ Bếp lửa đã đọng trong lòng ta nhưng dư vị ngọt ngào .
. với bằng việt hình ảnh bếp lửa, nó là biểu tượng cho sự ấm áp , nồng đượm của tình bà cháu . Bếp lửa đã khơi
gợi nhóm lên , lan tỏa , tan chảy mãi dòng hồi ức tuổi ấu thơ , thao thức , đượm đùa Hình ảnh bếp lửa thật giàu
ý nghĩa cho nên mở đầu bài thơ chính là mở đầu cho nỗi nhớ của tác giả . Nỗi nhớ bà , nhớ chính cái bếp lửa thân
quen ấy .
Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
Một bếp lửa ấp iu nộng đượm
Cháu thương bà biết mấy nắng mưa
Những hình ảnh mở đầu vừa thực vừa hư như trong truyện cổ tích . Ngọn lửa nhỏ mờ trong sương sớm mai
hình ảnh lúc ẩn lúc hiện tạo nên 1 quãng cảnh trữ tình làm lay động cảm xúc dạt dào của tác giả . Bếp lửa !
.hình ảnh bếp lửa từ trong sâu thẳm tiềm thức khi ẩn khi hiện , khi mờ trong nỗi nhớ nôn nao của đứa cháu khi xa
cách lâu ngày . Từ "ấp iu" được dùng rất sáng tạo . Đó là kết quả rút gọn và nối kết của bao từ " ấp lửa , chắt
chiu , nâng niu " Đi với động từ này là tính từ " nồng đượm " Những điều đó đã nói lên rằng bếp lửa đã có 1 linh
hồn , trờ thành bếp lửa ủ chứa tình thương của cháu đôi với cuộc đời lam lũ , trải qua " nắng mưa " của người Bà .
Từ đây 2 hình ảnh , 2 nỗi nhớ đan xen nhau thành làm cho cảm xúc nhà thơ thăng hoa . Rồi tác giả đã vận dụng
các giác quan để làm sống lai đời thơ bé cùng sống với người bà chịu thương chịu khó :
Lên 4 tuổi cháu đã quen mùi khói
Năm ấy là năm đói mòn đói moỉ
Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy
to lớn . Năm tháng đã trôi qua , thế mà bà vẫn khó nhọc vất vả nhóm bếp. Ngẫm nghĩ ngọn lửa hồng và tiếng
chim tu hú gọi bầy , đứa cháu nhỏ bỗng thốt lên câu nói giản dị những dạt dao tình yêu thương " chim tu hú kêu
chi hoài " Câu thơ cảm thán và câu hỏi tu từ diễn tả nỗi thương nhớ bà da diết . Cảm xúc cứ trào lên như sóng vỗ :
Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc
Tu hú ơi ! Chẳng đến ở cùng bà
Kêu chi hòai trên những cánh đồng xa
Cháu cảm thông với nỗi nhọc nhằn của bà , cháu đã dần khôn lớn trong vòng tay chở che ấm áp ấy . Cháu
càng lớn càng cảm thấy xót thương cho mảnh đời bất hạnh của tu hú .Cháu muốn tu hú cũng được sự chăm sóc
như bà đối với mình . Kỷ niệm cứ hiện dần lên và trong xúc cảm hình ảnh bà và hình ảnh bếp lửa đã hòa quyền
đồng nhất thành 1 . Trong lòng cháu , 2 hình ảnh như 1 . Tuy 1 mà 2 . Để chỉ còn hiện lên trong tâm trí người
cháu 1 xúc cảm mãnh liệt , 1 cái gì đó rất nồng đượm :
Bố ở chiến khu , bố còn việc bố
Mày có viết thư chớ kể này kể nỏ
Cứ bảo nhà vẫn được bình yên !
Năm ấy giặc đốt nhà bà ! . Cuộc sống bà đã khổ rồi giờ còn khó khăn thêm . Nhưng vẫn giữ vừng niềm tin
sắt đá . vẫn mang trong mình dòng máu bà mẹ Việt Nam anh hùng . Vẫn quan tâm ko muốn con lo lắng . Bà đã
nén chịu đau thương để con mình chuyên tâm đánh giặc để đem lại hòa bình cho đất nước . Lúc ấy thì nhà bà có
sá gì so với cuộc sống bình yên . Cho nên bà đã dặn cháu không được kể . Đến đây ta thấy thật cảm động trước
hành đồng cao cả ấy . Chỉ cần ai ai cũng làm theo tấm gương bà thì ngày hòa bình độc lập không còn quá xa vời .
Lận đận đời bà biết mấy nắng mứa
Mấy chục năm rồi đến tân bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sơm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Công lao của bà thật to lớn , ngay từ nhỏ cháu đã không được sống trong bàn tay chăm sóc dạy dỗ của cha
mẹ . Chỉ có bà là ngừơi quan tâm chăm sọc dạy dỗ cháu " bà bảo cháu nghe bà chăm cháu học " Công lao dưỡng
dục của bà khó có bậc cha mẹ nào bì kịp . Cứ thế bà đã sống cực khổ , lam lũ cả mấy chuc năm . Đời bà đã trải
qua biết bao nhiều nắng mưa . Vậy mà cuộc sống của bà vẫn thế. Vẫn không có gì đổi thay . Bà vẫn giữ thói quen
sum họp cùng bà lúc cuối đời . Là ngọn lửa của niềm tin đứa cháu mình sau này sẽ nên người , sẽ noi gương được
cha mẹ , sẽ nhận ra được sự khó nhọc của bà trong công việc nuôi dạy cháu tù đó người cháu có thể quyết tâm học
thành tài để xây dựng đất nước tươi đẹp hơn , giàu đẹp hơn . Bà luôn mong cháu sẽ cống hiến mãi không nguôi
cho tổ quốc . Nếu bài thơ dừng lại ở đây thì đã có thể xem là 1 áng thơ hay lắm rồi . Vỡi nhưng cảm xúc của đứa
cháu khi nhớ về bà , nhớ về quãng đời cơ cục cùng bà nhóm lửa , nhớ về công lao dạy dỗ của bà qua những
vần thơ giản dị mà thắm thía , với những điệp ngữ và từ ngữ được vận dụng 1 cách rất linh hoạt sáng tạo . Nhưng
đến đây dòng tâm niệm của tác giả vẫn chưa nguôi . Vẫn thốt lên những câu thơ lay động tâm hồn.
Giờ cháu đã đi xa
Có lửa trăm nha, niềm vui trăm ngả
Những vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhỏ
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?
Dù cho tác giả đã hòan thành nguyện ước của bà . Đã là 1 con người thành đạt , sống có ích cho xa hổi .Đã
sống trong 1 điều kiện đầy đủ tiện nghi" có lửa trăm nhà niềm vui trăm ngả " Nhưng lòng tác giả vẫn luống hướng
về cội nguồn sinh dưỡng của mỗi con người . Bằng Việt sẽ mãi mãi không quên cái bếp lửa bà nhen , công lao
nuôi dưỡng . Tác giả luôn luôn tự hỏi với lòng : bà bây giờ sống thế nào ? có khỏe mạnh không ? bà nhóm bếp lên
chưa ? Chắc chắn rồi sẽ có 1 ngày tác giả quay về nơi chôn rau cắt rồn của mình để chăm sóc người bà thân yêu
trong những phút cuối cùng . Đây kà 1 bài thơ dạt dào cảm xúc . Tác giả đã khéo léo sủ dụng các biện pháp nghệ
thuật đặc sắc , cách gieo vần , láy điệp từ và những hình ảnh có sức thuyết phục cao và những liên tưởng độc đáo
tạo nên giá trị cho bài thơ. Ta cảm nhận được ở đây tám lòng biết ơn sâu nặng , nhớ nhung da diết , tâm chân tình
của nhà thơ đối với người bà yêu dấu ( mở rộng) Đặc biệt qua 2 khổ cuối này ta đã hiểu thêm được nguyên do vì
sao tác giả lại có tình thương yêu vô bờ đối với quê hương như vậy ? . Do công lao trời biển của bà mà chắc hẳn
rất ít 1 sánh được . Khâm phục , cảm động , bất giác ta có thể thốt lên rằng " Ôi bà thật là con người vĩ đại " .
Đọc bài thơ thêm một lần nữa , chúng ta cảm thấy trong lòng lại trao dâng niêm cảm xúc . Bài thơ đã khơi
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
Số Điện thoại : 0973578668
dậy cho chúng ta 1 tình cảm cao đẹp đối với gia đình , quê hương và xã hội . Càng suy ngẫm , thấm từng lời thơ
của bằng việt ta càng hiểu thế nào là nỗi nhớ quê hương . Ôi! làm sao có thể quên cho được
Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa!
CẢM NHẬN VỀ NHÂN VẬT BÉ THU
anh Sáu cứ nôn nao cả người. Anh đang nghĩ tới đứa con, nghĩ tới giây phút hai cha con gặp nhau như thế nào.
Những điều ấy choáng hết tâm trí khiến anh không còn biết mình đang ngồi trên xuồng với người bạn. Khi xuồng
vừa cập bến, anh Sáu đã nhón chân nhảy thót lên bờ. Người bạn đi cùng cũng rất hiểu anh nên không hề trách. Tôi
không thể quên được giây phút vô cùng thiêng liêng và trọng đại của anh Sáu, là giây phút người cha mong chờ
đứa con sẽ chạy tới ôm xiết lấy mình, là bước trở về sau bao xa cách…
Hẳn vì quá xúc động nên lúc ấy anh Sáu đã có những cử chỉ mà ngay cả người bạn của anh cũng không ngờ tới
“giọng anh tập bập run run”, anh dang hai tay chờ đó con và sải những bước dài đến gần con. Tưởng rằng con bé
sẽ chạy tới nhào vào lòng anh nhưng không ngờ bỗng nó hét lên “má…má” và bỏ chạy. Tại sao Thu lại có những
hành động như vậy ? Nó yêu ba nó lắm cơ mà ? Nó mong ba về từng ngày từng giờ. Vậy mà tất cả đều lật ngược
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
Số Điện thoại : 0973578668
với nó. Ba nó thật đây, sao nó không nhận ? Hành động của con bé khiến anh sững sờ. Bao yêu thương, mong chờ
mà anh dồn nén bấy lâu dường như tan biến hết chỉ còn lại trong anh là nỗi đau khổ vô bờ.
Nỗi đau ấy còn dày vò anh trong suốt ba ngày ở nhà. Ba ngày ở nhà anh Sáu không đi đâu xa mà chỉ quanh
quẩn ở nhà chơi với con. Anh muốn dùng lời nói, hành động của mình để bù đắp những mất mát về tình cảm cho
con bé. Dường như anh muốn bằng những cử chỉ và lời nói yêu thương tràn đầy âu yếm, anh sẽ xoa dịu đi những
nghi ngờ, xoá tan những lạnh lùng của con bé đối với anh. Anh muốn ôm con mà nói rằng: “Ba yêu con nhiều lắm
Thu à!” và có lẽ chắc anh cũng mong đứa con gái của mình có thể chạy sà vào lòng mà rằng “Con cũng yêu bố
nhiều lắm ạ!” thế nhưng không… những gì anh từng mơ ước, từng suy nghĩ, giờ chỉ như giấc mơ không thật bởi
chính thái độ của Thu đối với ba nó. Khi mẹ bảo nó gọi bố vào ăn cơm thì con bé đã nói trổng: “Vô ăn cơm!”.
Câu nói của con bé như đánh vào tâm can anh, nhưng anh vẫn ngồi im giả vờ không nghe, chờ nó gọi “Ba vô ăn
cơm.” Thế nhưng Thu vẫn bướng bỉnh không chịu gọi ba, đã vậy còn bực dọc nói mấy câu “Cơm chín rồi!” và
“Con kêu rồi mà người ta không nghe”. Đến lúc này anh chỉ biết “nhìn con bé vừa khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có
lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi.” Tôi thoáng nghĩ đến cảm xúc lúc này và
những câu hỏi xoay quanh anh. Tại sao thế nhỉ? Thu làm vậy là sao? Ba nó sao nó không chịu nhận? Nhìn nó tôi
như có cảm giác nó cự nự, quyết không chịu gọi ba. Thái độ này thật không đúng với tình cha con xa cách bấy
lâu, hay con bé đang giận ba vẩn vơ gì đó chăng?
Cao trào của câu chuyện càng nâng cao khi nồi cơm sôi, một mình nó bé, không thể tự nhấc nồi để chắt nước,
nó đã phải cầu cứu đến người lớn. Tình thế khiến người đọc ngỡ rằng nó sẽ phải thua không thể “chiến tranh
Tiếng kêu bật lên sau bao năm kìm nén, chờ đợi khắc khoải. Đó cũng là cái tiếng ba mà anh Sáu đã chờ đợi suốt
tám năm trời xa con, đã chờ đợi suốt mấy ngày về bên con, ông đã tưởng chẳng thể còn được nghe thì bất ngờ nó
thét lên. Nó vỡ ra còn lòng người đọc thì nghẹn lại. Người cha không cầm nổi nước mắt vì bất ngờ, vì sung
sướng, vì thương yêu và vì cả sự éo le của tình cảm nữa. Cùng với cử chỉ “vừa kêu vừa chạy xô tới nhanh như
một con sóc, nó nhảy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó, làn tóc tơ sau ót nó dựng đứng lên”. “Vừa ôm
chặt lấy cổ ba, nó vừa nói trong tiếng khóc “Ba…ba…không cho ba đi nữa, ba ở nhà với con”. Nó ôm hôn anh
Sáu và “hôn cả vết thẹo dài trên ** của ba”, biểu hiện một tình yêu ruột thịt nồng nàn của đứa con đối với ba. Và
khi nghe anh Sáu nói “Ba đi rồi ba về với con”, cô bé hét lên “không”, rồi hai tay xiết chặt cổ, dang cả hai chân
quặp chặt lấy ba, đôi vai nhỏ run run! Chắc cô bé khóc. Phải chăng lúc ấy Thu thật sự thấy xót xa, ân hận về lỗi
lầm của mình, thật sự thấy xót thương người cha đau khổ? Nó mếu máo “Ba về! Ba mua cho con một cây lược
nghe ba…”. Tất cả lời nói thể hiện rõ tính cách của một cô bé bồng bột thơ ngây và chứng tỏ lòng yêu thương vô
bờ của em đối với ba. Thật sâu sắc và cao đẹp biết bao. Có lẽ lúc này bé Thu đã trở thành một nguời lớn thực sự.
Tất cả sự dỗi hờn của bé Thu lúc này đều chuyển thành lòng yêu thương sâu sắc ba nó. Trong cái ương ngạch,
bướng bỉnh, trong cái giận dỗi và cả sự hối hận của Thu, ta vẫn thấy bé thật thơ ngây, thật đáng yêu. Về phần anh
Sáu hạnh phúc đến với anh quá đột ngột khiến cổ anh nghẹn lại. Không kìm được xúc động, anh Sáu đã khóc.
Giọt nước mắt của anh là giọt nước mắt của vui sướng, hạnh phúc. Và không muốn cho con thấy mình khóc, anh
Sáu một tay ôm con một tay rút khăn lau nước mắt rồi hôn lên mái tóc con…Thế là con bé đã gọi anh bằng ba. Ai
có thể ngờ được một người lính đã dày đạn nơi chiến trường và quen với cái chết cận kề lại là người vô cùng mềm
yểu trong tình cảm cha con. Sau bao năm tháng mong chờ, đau khổ, anh Sáu đã được đón nhận một niềm vui vô
bờ. Bây giờ anh có thể ra đi với một yên tâm lớn rằng ở quê nhà có một đứa con gái thân yêu luôn chờ đợi anh,
từng giây từng phút mong anh quay về.
Gấp trang sách lại mà hình ảnh bé thu cứ lắng mãi trong ta.Càng thương bé thu bao nhiêu chúng ta càng
căm thù chiến tranh bấy nhiêu.Chúng ta phải đấu tranh để hòa bình vĩnh viễn trên đất nước này.
TÂM TRẠNG BÉ THU LÚC CHIA TAY ÔNG SÁU
Đọc truyện ngắn “chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng ấn tượng sâu sắc đối với chúng ta là tâm
trạng bé Thu lúc chia tay ông Sáu.
Ở đoạn cuối,khi mà bé Thu nhận ra cha,thật khó để phủ nhận bé Thu là đứa bé giàu tình cảm.Tình cha con
trong Thu cất giữ bấy lâu nay,giờ trỗi dậy,vào cái giây phút mà cha con phải tạm biệt nhau.Có ai ngờ một cô bé
không được gặp cha từ năm 1 tuổi vẫn luôn vun đắp một tình yêu bền bỉ và mãnh liệt với cha mình,dù người cha
ấy chưa hề bồng bế nó,cưng nựng nó,săn sóc,chăm lo cho nó,làm cho nó một món đồ chơi kể từ khi nó bắt đầu
kiến lớn: làm lược cho con bằng ngà voi. Có lẽ không đơn thuần vì ở rừng rú chiến khu, anh không thể mua được
cây lược nên làm lược từ ngà voi là một cách khắc phục khó khăn. Mà cao hơn thế, sâu hơn thế, ngà voi là thứ quí
hiếm - chiếc lược cho con của anh phải được làm bằng thứ quý gí ấy. Và anh không muốn mua, mà muốn tự tay
mình làm ra. Anh sẽ đặt và trong đấy tất cả tình cha con của mình. Kiếm được ngà voi, mặt anh “hớn hở như một
đứa trẻ được quà”. Vậy đấy, khi người ta hoá thành con trẻ lại chính là lúc người ta đang hiện lên cái tư cách
người cha cao quý của mình. Rồi anh “ngồi cưa từng chiếc răng lược, thận trọng tỉ mỉ và khổ công như người thợ
bạc ”, “gò lưng tẩn mẩn khắc từng chữ: “Yêu nhớ tặng Thu con của ba”. Anh thường xuyên “lấy cây lược ra ngắm
nghía rồi mài lên tóc cho cây lược thêm bóng thêm mượt”. Lòng yêu con đã biến người chiến sĩ trở thành một
nghệ nhân - nghệ nhân chỉ sáng tạo ra một tác phẩm duy nhất trong đời cho nên chiếc lược ngà đã kết tinh trong
nó tình phụ tử mộc mạc mà đằm thắm sâu xa, đơn sơ mà kỳ diệu làm sao!
Nhưng ngày ấy đã vĩnh viễn không bao giờ đến nữa. Anh không kịp đưa chiếc lược ngà đến tận tay cho con thì
người cha ấy đã hi sinh trong một trận đánh lớn của giặc. Nhưng “hình như chỉ có tình cha con là không thể chết
được”. Không còn đủ sức trăn trối điều gì, tất cả tàn lực cuối cùng chỉ còn cho anh làm được một việc “đưa tay
vào túi, móc cây lược” đưa cho người bạn chiến đấu thân thiết và cứ nhìn bạn hồi lâu. Nhưng đó là điều trăn trối
không lời, nó rõ ràng là thiêng liêng hơn cả một lời di chúc, bởi đó là sự uỷ thác, là ước nguyện cuối cùng của
người bạn thân, ước nguyện của tình phụ tử! Bắt đầu từ giây phút ấy, chiếc lược ngà của tình phụ tử đã biến người
đồng đội thành một người cha - người cha thứ hai của cô bé Thu.
Các bạn ạ! Trong những ngày đen tối ấy, người sống phải sống bí mật cũng đã đành một lẽ còn người chết
cũng phải chết bí mật nữa. Mộ của anh không thể đắp cao lên được, vì tìm thấy mồ mã bọn chúng sẽ đào lên và
tìm ra dấu vết, cho nên ngôi mộ của anh là ngôi mộ bằng, bằng phẳng như mặt rừng vậy. Bác Ba bạn của anh đã
lấy dao khắc vào một gốc cây rừng cạnh chỗ anh nằm làm dấu cho dễ nhớ. Sống như thế và chết như thế hỏi vậy
làm sao mà chịu được. Chúng ta buộc phải cầm súng. Và bé Thu không còn là cô bé ngày xưa nữa mà là một cô
giao liên thông minh, quả cảm. Thu đi theo con đường mà ba cô đã chọn. Thu đi để trả thù cho quê hương, cho
cha mình đã bị bọn giặc giết hại.
Tuy anh Sáu đã hi sinh nhưng câu chuyện vè hai cha con anh sẽ còn sống mãi. Hình ảnh chiếc lược ngà với
dòng chữ sẽ mãi là kỉ vật, là nhân chứng về nỗi đau, bi kịch của chiến tranh. Cảm ơn nhà văn Nguyễn Quang
Sáng đã khắc hoạ rõ nét tâm hồn, tình cảm của anh Sáu và bé Thu. Truyện dẫn người đọc dõi theo số phận và lòng
quả cảm, dõi theo tâm tình của cha con một người chiến sĩ diễn ra hàng chục năm trời đi qua hai cuộc chiến tranh.
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
ngất người đọc trước vẻ đẹp tuyệt vời của trời biển Việt nam.Nhưng bức tranh huyền ảo ấy chỉ diễn ra trong chốc
lát rồi nhường chỗ cho màn đêm lan tỏa.Với những động từ mạnh “cài,sập” kết hợp với biện pháp nhân hóa đã thể
hiện được sự dứt khoát của biển sau một ngày vất vả đã đi vào nghỉ ngơi thư giãn,Trong lúc đó thì con người lại
bắt tay vào lao động.Cách sử dụng hình ảnh tương phản đó đã cho thấy đươgj tinh thần lao động không quản ngày
đêm của người dân làng chài trong những năm tháng lao động xây dựng CNXH ở Miền Bắc.Đây không phải là
lần đầu tiên đoàn thuyền ra khơi mà đây là công việc thường xuyên của họ,từ “lại” trong câu thơ đã cho ta biết
điều dó.Họ ra đi với tinh thần vui vẻ lạc quan.Câu hát của họ vang lên hoàh vào trong gió đẩy thuyền thaawnhr
tiến ra khơi.Đó là tiếng hát khỏe khoắn thể hiện niềm vui say lao động,tinh thần phấn chấn của người lao động
mới.Với cặp mắt quan sát tinh tế kết hợp với sử dụng nghệ thuật tài tình nhà thơ đã phác họa nên một bức tranh
tuyệt đẹp về biển lúc hoàng hôn.
Phân tích " Lặng Lẽ Sa Pa"
Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long là một câu chuyện nhẹ nhàng mà sâu sắc, mang đậm tính trữ tình. Tác
giả đã khắc họa hình ảnh người lao động bình thường, tiêu biểu là anh thanh niên làm công tác khí tượngkiêm vật
lí địa cầu.
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
Số Điện thoại : 0973578668
" Sa Pa không chỉ là sự yên tĩnh, mà dưới sự yên tĩnh đó người ta làm việc". Quả thật khi đến Sa Pa, k ai có
thể cưỡng nổi vẻ đẹp nên thơ của nơi đây " nhà họa sĩ và cô gái bỗng nín bặt, vì cảnh trước mặt đẹp một cách kì
lạ". Ai cũng nghĩ Sa Pa là nơi của nghỉ ngơi, vì khung cảnh ở đây mang lại sự thanh bình cho tâm hồn " nắng bắt
đầu len tới, đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng những ngón tay bằng bạc,
dưới cái nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên màu xanh của rừng. Mây bị
nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe."
Theo lời giới thiệu của bác lái xe, cái con người "cô độc nhất thế gian" là "một anh thanh niên hai mươi bảy
tuổi, sống một mình trên đỉnh núi Yên Sơn cao hai nghìn sáu trăn mét. Anh làm công tác khí tượng kiêm vật lí địa
cầu". A sống trong hoàn cảnh khắc nghiệt " bốn bề chỉ có cây cỏ và mây mù lạnh lẽo". Đó là một thử thách của a
thanh niên.
Trước khi xuất hiện, a thanh niên đã gợi được sự tò mò, cuốn hút qua lời giới thiệu độc đáo của bác lái xe. Cho
đến khi gặp a, nhà họa sĩ già không khỏi xúc động mạnh. " Người con trai tầm vóc nhỏ bé, nét mặt rạng rỡ từ trên
sườn núi trước mặt chạy lại chỗ xe đỗ". Người thanh niên đã khơi gợi sự tò mò trong ông họa sĩ già và cô kĩ sư
cô kĩ sư cảm mến, bâng khuâng. Họ như cùng hiểu ra rằng cuộc sống của mỗi chúng ta được tạo nên từ bao nỗ lực
hy sinh thầm lặng của những con người vô danh. Thực sự câu chuyện đã đọng lại trong tim mỗi chúng ta một lòng
cảm phục và biết ơn vô hạn với sự cống hiến lớn lao của họ. Bằng nghệ thuật xây dựng tình huống hợp lí, cách kể
chuyện hết sức tự nhiên, có sư kết hợp trữ tình và nghị luận đã tạo nên một câu chuyện vô cùng sâu sắc. Qua đó,
tác giả ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn của những con người lao động và ý nghĩa của công việc thầm lặng.
Phân tích diễn biến tâm trạng của ông Hai trong đoạn trích 'làng' khi làng chợ dầu theo giặc
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
Số Điện thoại : 0973578668
Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn về nông thôn và cuộc sống của những người nông dân. truyện
ngắn 'làng' được ông viếtvào thời kì đầu cho cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong truyện ngắn này, ông đã xây
dựng thành công nhân vật ông Hai- một con người giàu lòng yêu làng, yêu nước tha thiết, chính vì vậy khi nghe
tin làng chợ Dầu theo giặc ông cảm thấy rất đau khổ, nhục nhã.
Ngôi làng đối với mỗi người nông dân rất quan trọng. Nó là ngôi nhà chung cho cộng đồng, họ mạc. đời
này qua đời khác, người nông dân gắn bó với cái làng như máu thịt, ruột rà. Nó là nhà cửa, đất đai, là tổ tiên, là
hiện thân cho đất nước đối với họ. Vốn là một người có tình yêu làng, yêu nước sâu sắc, ông Hai không muốn đi
tản cư bởi ông nghĩ:' mình sinh ra ở đây từ bé, giờ gặp lúc hữu sự mà bỏ đi thì còn ra gì nữa' Nhưng khi nghe các
chến sỹ cán bộ giảng giải, ông hiểu rằng ' đi kháng chiến cũng là kháng chiến ' nên ông mới đồng ý.Những ngày
đầu ở nơi tản cư, do mới lên lạ đất , lạ người lại không có việc gì để làm nên ông hớ làng da diết, cháy bỏng, ông
nhớ những ngày làm việc cùng với anh em, ông cảm thấy như mình được trẻ ra. Hơn thế nữa, gia đình ông lại ở
nhờ nhà của một mụ xấu tính nên ông phải sống trong tâm trạng ngột ngat, khó chịu. Lúc này, niềm vui của ông
chỉ là hàng ngày đi nghe tin tức thời sự kháng chiến và khoe cái làng chợ Dầu của ông đánh Tây. Hôm nay, ở
phòng thông tin ông nghe được rất nhiều tin chiến thắng từ trẻ con đến người phụ nữ ; điều này 'làm rột gan ông
cứ múa cả lên, vui quá'. Đang tràn ngập trong niềm vui và sự sung sướng, ông Hai có cảm giác cảnh vật bên
đường như đẹp hơn rất nhiều.
Cũng trên đoạn đường trở về, trong tâm trạng vui vẻ ấy , nhà văn Kim Lân đã khéo léo đan cài vào đó 1 kịch
tính thứ 2- một biến cố bất ngờ xảy ra. Ông gặp những người đàn bà tản cư từ Gia Lâm lên, khi gặp họ, ông tưởng
mình sẽ nghe được nhiều tin vui hơn nữa nhưng thật bất ngờ, ông Hai nhận được tin cả làng chợ Dầu làm việc
gian theo Tây. Cái tin ấy là một tin chết người, nó chẳng những làm mất hết niềm tin, sụp đổ niềm tự hào về làng
của ông mà còn khiến ông tủi khổ, nhục nhã vì đã khoe bao điều hay về nó. Vừa nghe như vậy, ông Hai thấy cổ
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
Số Điện thoại : 0973578668
TÂM TRẠNG ÔNG HAI KHI NGHE TIN LÀNG ĐƯỢC CẢI CHÍNH
khi nghe tin làng Dầu theo Tây được cải chính, ông Hai là người sung sướng nhất. Ông vui tươi rạng rỡ hẳn
lên, “ mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ…” Ông mua quà cho con,Ông chạy đi khoe” cái tin
làng Dầu không theo giặc.Đặc biệt là ông “khoe” cái tin nhà mình bị đốt, “.Đối với người nông dân thì căn nhà là
cả một gia tài lớn thế nhưng ông không buồn không khóc mà ngược lại rất vui sướng.Bởi viftrong cuộc kháng
chiến thánh thần của dân tộc gia đình ông cũng có đóng góp một phần nhỏ bé ở trong đó. Nỗi mất mát về nhà cửa
dường như tan biến trong niềm hạnh phúc dâng trào – Làng chợ Dầu, ngôi làng mà ông luôn yêu mến tự hào giờ
đây vẫn là làng kháng chiến. Có thể nói, ông Hai là nhân vật điển hình cho lớp nông dân trong kháng chiến. Vốn
là những con người chân thực, chất phác, những ngày đầu tiếp xúc với cách mạng, họ vẫn còn bỡ ngỡ. Nhưng rồi
cảm giác ấy tan đi nhanh chóng, họ đón nhận cách mạng với tình cảm chân thành, với lòng hăm hở nhiệt tình. Họ
háo hức hoà nhịp cùng phong trào kháng chiến, học hăng hái cầm súng bảo vệ quê hương. Cách mạng đã trở
thành một phần trong cuộc đời của họ. Lòng trung thành, tình cảm gắn bó bền chặt của người nông dân trong
kháng chiến làm cho chúng ta xúc động. Nhà văn Kim Lân đã tinh tế phát hiện những nét đẹp tâm hồn của người
nông dân để từ đó khắc hoạ nên một bức chân dung gần gũi và sống động.
Trong tác phẩm, nhà văn Kim Lân đã xây dựng những tình huống đầy kịch tính đẩy nhân vật vào
trong sự bế tắc đến tuyệt vọng, qua đó làm nổi bật tâm hồn tính cách và tình yêu của ông Hai đối với
làng quê, đất nước. Ngôn ngữ diễn đạt mộc mạc chân quê càng giúp người đọc hiểu và yêu mến ông
Hai nhiều hơn.
Đề 9: So sánh hình ảnh người lính cách mạng qua hai bài thơ Đồng chí của Chính Hữu và Bài thơ về tiểu
đội xe không kính của Phạm Tiến Duật
BÀI LÀM
Trong hai cuộc kháng chiến chống pháp và chống Mỹ thì người lính là điểm tựa của lịch sử vì vẫy văn học
luôn phản ánh và ca ngợi họ.Tuy ra đời trong hai hoàn cảnh khác nhau nhưng họ đều giống nhau đó là tình yêu
quê hương đất nước,lòng căm thù giặc đó là phẩm chất anh bộ đội cụ Hồ. Hình ảnh rõ nét nhất của các anh được
thể hiện qua hai bài thơ “Đồng chí”của Chính Hữu trong kháng chiến chống pháp và “Bài thơ về tiểu đội xe
không kính” Phạm tiến Duật trong khang chiến chống Mỹ.
Dân tộc ta đứng lên tiến hành hai cuộc chiến tranh cách mạng oanh liệt chống Pháp và chống Mỹ. Lẽ tất nhiên,
ở đất nước hơn ba mươi năm chưa dời tay súng. Hình ảnh anh Bộ đội cụ Hồ là hình ảnh con người đẹp nhất đáng
thần lạc quan tin tưởng. Cả hai bài thơ đều thể hiện tinh thần lạc quan của người lính. Từ miệng cười buốt giá của
anh bộ đội kháng chiến chống Pháp đến nhìn nhau mặt lấm cười ha ha của anh lính lái xe thời chống Mỹ đều thể
hiện tinh thần lạc quan, khí phách anh hùng.
Tuy có nhiều nét tương đồng nhưng ở họ vẫn có những điểm khác nhau. Bài thơ Đồng chí của Chính Hữu khắc
hoạ hình ảnh người lính nông dân thời kỳ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp với vẻ đẹp giản dị, mộc mạc mà sâu
sắc. Tình đồng chí thiềng liêng hòa quyện với tình yêu nước khi lý tưởng chiến đấu đã rực sáng trong tâm hồn.
Súng bên súng đầu sát bên đầu
Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ
Đồng chí!
Còn “bài thơ Tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật thể hiện người lính lái xe trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ với vẻ đẹp trẻ trung, ngang tàng. Đây là thế hệ những người lính có học vấn, có bản lĩnh chiến đấu, có
tâm hồm nhạy cảm, có tính cách riêng mang chất lính đáng yêu. Họ tất cả vì miền Nam ruột thịt với trái tim yêu
nước cháy bỏng.
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Hình tượng người lính dù ở thời kỳ kháng chiến chống Pháp hay kháng chiến chống Mỹ đều mang phẩm
chất cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ thời đại đã cung cấp cho các nhà thơ những nguyên mẫu đẹp đẽ, họ tạo nên
những hình tượng làm xúc động lòng người. Viết về những người lính, các nhà thơ nói về chính mình và những
người đồng đội của mình. Vì thế, hình tượng người chân thật và sinh động.
PHÂN TÍCH KHỔ THƠ CUỐI BÀI THƠ VÈ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH
Đọc “bài thơ về tiểu đội xe không kính” của PTD ấn tượng sâu sắc nhất đối với chúng ta đó là tinh thần và ý
chí quyết tâm giải giải phóng Mền Nam ở khổ thơ cuối cùng.
! "#$%&$'()*+,
-# /01 #-"/$2$3456789:$;+,97<=978 >+,4?+,8+@'5
(ABC59785@/D ! /EF ! G*+,()@H>9/
*+,$3$!&I/&4I-$JH>&(678H> K8 L(M/
L*:M-!N$!::OPK$#+,8 L$J 5$J @N: /=$J
GQR>MM 8S:R>&% MB8 H (T'N2FU@N8-@N4V
>2G4>@24":"W 4-2XU>-YM@N+,$U>&@N$@NZ2O"[
M U4'H >E7\4/R>&U>N-!!B V9894>&] ]$$Y0H)
nên sâu lắng thiết tha.
Trần trụi giữa thiên nhiên
Hồn nhiên như cây cỏ
Ngỡ không bao giờ quên
Cái vầng trăng tình nghĩa
Trăng hồn nhiên như trẻ thơ, trăng chân thành như bè bạn,trăng gắn bó sâu nặng với con người mà
không trở lực nào có thể ngăn cách. Những năm tháng con người sống thật nhất với mình, trần trụi,hồn
nhiên là khi con người ta trân trọng, đinh ninh một lời thề son sắt “ngỡ không bao gìơ quên,cái vầng
trăng tình nghĩa” Từ ngỡ là chiếc cầu nối ngôn từ vừa khép lại thời qua khứ vừa mở ra thời hiện tại tạo
nên sự chuyển tiếp cho khổ thơ thứ 3.
Từ hồi về thnàh phố
Quen đèn điện cửa gương
Vầng trăng đi qua ngõ
Như người dưng qua đường
Cuộc sống hiện đại với ánh sáng chói loà của ánh điện cửa gương,với những vật dụng ngày càng
hiện đại dường như đã làm lu mờ ánh sáng của vầng trăng.Tác giả đã tạo ra sự đối lập giữa vầng trăng
nghĩa tình trong quá khứ với vầng trăng xa lạ như người dưng qua đường bây giờ.Là ánh trăng đã khác
ánh trăng của ngày xưa?Không! Ánh trăng vẫn thế vẫn gần gũi thân thương dịu dàng,chỉ có hoàn cảnh
sống của con người đã thay đổi khiến họ không nhận ra vẻ đẹp của vầng trăng tri kỉ ngày xưa hay chính
họ đã thờ ơ,họ quên đi.Thật xót xa cho vầng trăng tuổi thơ vầng trăng đi bên nhau một thời chinh chiến
như tri kỉ,vậy mà khi người ta sống giữa phồn hoa đô thị thị nó lại bị lãng quên .Ánh trăng đã đựơc tác
giả nhân hoá để gửi gắm suy tư về nhân tình thế thái.Lời thơ so sánh của Nguyễn Duy “vầng trăng đi
qua ngõ, như người dưng qua đường” như xoáy vào lòng người một nỗi niềm xót xa nhức nhối,bới sự
phản bội ở đây không chỉ với lịch sử,với thiên nhiên mà còn với chính bản thân mình nữa.Cuộc đời như
một dòng sông khi duị êm lặng lẽ, lúc cuộn sóng trào dâng,bởi thế cuộc sống thời hiện đại sao có thể êm
đềm mãi cho được.
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
Số Điện thoại : 0973578668
Thình lình đèn điện tắt
con người. Đối lập giữa hiện tại và quá khứ.Suy nghĩ của tác giả ở khổ thơ này đã được nâng lên tầm
cao triết lí.Nếu ai đó có lúc quên đi những điều thiêng liêng tốt đẹp của quá khứ thì phải có những lúc
giật mình tỉnh thức trong hiện tại mới mong đạt được những ân nghĩa tốt lành ở tương lai.Bởi đó là chân
lí đã trở thành đạo lí của người Việt ta:”Uống nước nhớ nguồn”.
“Ánh trăng” nhẹ nhàng,trong sáng về câu chữ,tự nhiên, thuần thục về kết cấu,bình dị, dễ hiểu về ý
thơ,tha thiết trong giọng điệu.Bài thơ đã đem đến cho người đọc một bài học sâu sắc:con người cần sống
có trước có sau,có tình có nghĩa để không bao giờ phải giật mình day dứt về những năm tháng vô tình
hờ hững đã qua.Dù XH ngày càng văn minh, hiện đại nhưng ánh trăng trên trời cao và cả ánh trăng của
Nguyễn Duy vẫn thật sự cần thiết với mỗi con người bởi nó là tấm gương sáng nhất giúp chúng ta soi
vào để nhận ra những gì trong lành tinh khôi nhất của cuộc đời.Vầng trăng soi sáng những tâm hồn vô
tình lãng quên.
Phân tích khổ thơ đầu bài "Mùa xuân nho nhỏ"
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
Số Điện thoại : 0973578668
Đề:Suy nghĩ của em về khổ thơ đầu bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải.
Nếu ở dòng văn học trung đại ta bắt gặp cảm xúc dâng trào trước vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời mùa xuân của đại thi hào Nguyễn Du:
“Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vào bông hoa”
thì với dòng thơ hiện đại,nối tiếp mạch cảm xúc ấy đến với một hồn thơ sắp kề cận cát bụi- Thanh Hải nhưng tình yêu thiên nhiên đất trời
vẫn luôn mãnh liệt,luôn dâng trào qua khổ thơ mở đầu bài thơ “Mùa xuần nho nhỏ” viết tháng 11 năm 1980:
“ Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời ”
Khổ thơ đẹp như một bức tranh với âm thanh,màu sắc,với sức xuân hài hòa,sống động:
Từ “mọc” được đặt ở đầu câu với lối đảo ngữ tạo nên sự khỏe khoắn,tạo nên sức sống tiềm ẩn,tạo nên sự vươn lên trỗi dậy.Giữa dòng sông
rộng lớn ,không gian mênh mông,chỉ một bông hoa thôi,một bông hoa tím biếc cũng làm nên sức xuân,cũng làm nên ánh xuân lung linh sắc
màu.Bức tranh xuân được tô điểm với gam màu thật hài hòa,dịu nhẹ,tươi tắn: màu xanh lam của nước sông Hương hài hòa cùng màu tím
biếc của hoa,một màu tím thật giản dị,thủy chung mà cũng thật mộng mơ,quyến rũ. Đó cũng chính là màu đặc trưng của xứ Huế.
khiêm tốn, chỉ muốn làm một con chim trong muôn vàn loài chim trên đất nước, chỉ muốn cất một tiếng hót trong bao nhiêu rung động của
đất trời góp thêm một sắc xuân nhỏ nhoi cho đất nước. Kế nữa, tác giả lại muốn làm một cành hoa, có lẽ chỉ là một cành hoa dại ven đường
thôi, cành hoa mang một màu sắc nhẹ nhàng và quyến rũ, một cành hoa của “mùa xuân nho nhỏ” chen chút với bao cành hoa đẹp đẽ, quí
hiếm khác để đi vào cái “mùa xuân của đất nước” một niềm khao khát nhưng đáng quí biết bao! Đẹp đẽ biết bao! Sau đó tác giả lại muốn
nhập vào một bài ca chỉ bởi “một nốt trầm xao xuyến”, chỉ một nốt trầm trong một bài ca thôi, một nốt trầm mà khi nghe xong ta lại còn
vương vấn. Tác giả muốn cất lên một âm vọng bình thường mà lặng lẽ, muốn góp thêm cho cuộc đời một nốt nhạc trong những âm vang
hấp dẫm hơn khi đất nước đang bước vào một mùa xuân rực rỡ.
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
Số Điện thoại : 0973578668
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời.
Đến đây, có lẽ giọng thơ đã trầm lại. Bây giờ, tác giả đã muốn dâng cả cuộc đời mình cho đất nước, nhưng thực chất lại là dâng một
cái rất nhỏ “một mùa xuân nho nhỏ”, tuy mùa xuân cũa tác giả nhỏ nhưng nó là cả hàng triệu trái tim của những con người Việt Nam dâng
cho đất nước một mùa xuân, một mùa xuân trong một mùa xuân rộng lớn của đất nước. Thanh Hải âm thầm, “lặng lẽ dâng cho đời” một
món quà rất đặc biệt, đó là “mùa xuân nho nhỏ”, một mùa xuân mà chưa ai nghĩ đến. Thơ rất độc đáo, rất hay và rất tình cảm. Tác giả luôn
muốn cống hiến tất cả cuộc đời mình vào đất nước dù ở bất cứ thời điểm nào của cuộc đời :
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
Điệp từ “dù” nó như là một lời hứa, một sự khẳng định là mãi mãi, là vĩnh viễn sẽ không bao giờ phai theo thời gian. Dù khi còn trẻ hay
khi đã già thì tác giả vẫn cống hiến. tác giả thật là một người đáng khâm phục, một người rất thơ, rất tình cảm!
Với những âm điệu rộn ràng, rồi lại trầm lặng, từ ngữ sâu sắc, luyến láy rất vần tác giả đã đưa ta một “Mùa xuân nho nhỏ” của riêng
mình để rồi ước nguyện cùng tác giả. Chỉ những hình ảnh ước muốn: con chim, cành hoa, một nốt trầm trong một bản hòa ca,… mà tác giả
khiến ta thấu được biết bao nhiêu là tình cảm. Những ước nguyện thật khiêm tốn giản đơn mà lại đầy ý nghĩa, tác giả thật là một người
đáng kính nể! Luôn muốn dâng hết tất cả cuộc đời mình cho đất nước. Gấp trang sách lại, em lại cảm thấy một cái gì đó bồi hồi, xao xuyến
muốn đọc lại lần nữa. Những ước nguyện nhỏ nhoi, khiêm tốn của tác giả lại khiến cho ngưới đọc động lòng. Thật độc đáo!
Cảm nhận về bài thơ mùa xuân nho nhỏ
• Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu, thiết tha và thanh thản, không hề gợn một nét u
buồn nào của một cuộc đời sắp tắt. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông, nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt, muôn
thuở và nguyện dâng hiến cho đời.
Với tôi, tất cả như vô nghĩa,
Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau!
Với những vầng thơ giản dị nhưng Thanh Hải vẫn miêu tả được mùa xuân cách mạng quê hương của tác giả:
“Mùa xuân người cầm súng,
Lộc giắt đầy trên lưng.
Mùa xuân người ra đồng,
Lộc trãi dài nương mạ.
Tất cả như hối hả,
Tất cả như xôn xao…”
Hai câu thơ đầu tác giả muốn nhấn mạnh đến mùa xuân của người cầm súng và của người ra đồng biểu thị cho hai nhiệm vụ
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng
Số Điện thoại : 0973578668
chính lúc bấy giờ là bảo vệ và xây dưng đất nước. Từ "Lộc" có hai tầng nghĩa: "Lộc" có nghĩa đen là cành non, lá mới, là cành lá
ngụy trang trên lưng người chiến sĩ ra mặt trận. "Lộc" còn là mạ non theo chận người nông dân ra đồng ruộng. Với biện pháp ẩn
dụ "Lộc" còn mang ý nghĩa tượng trưng hơ. "Lộc" biểu thị cho một niềm tin, một sức sống, là sự trẻ trung vươn lên quyết giành
chiến thắng, giành lấy những kết quả tốt đẹp, đem sự bình yên đến với mọi nhà. Mà chính người chiến sĩ sẽ mang mùa xuân yên
vui đến cho mọi nơi trên đất nước. "Lộc" tượng trưng cho sự ấm no, "trúng mùa" của công việc sản xuất. Người dân lao động
muốn mình cống hiến hết sức lực, tài năng vào công việc xây dựng quê hương ngày một giàu mạnh bởi vậy tất cả mọi người đều
tự nguyện:
"Tất cả như hối hả,
Tất cả như xôn xao…
Điệp từ "tất cả" xuất hiện liên tục nhấn mạnh đây là nhiệm vụ chung của mỗi người. Từ láy "hối hả", "xôn xao" gợi hình gợi tả
thể hiện nhịp độ khẩn trương, tươi vui, thể hiện nhiệt tình và trách nhiệm của những con người đang bắt tay xây dựng chủa nghĩa
xã hội.
Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả, những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn
năm, trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy,
được hình dung qua hình ảnh so sánh rất đẹp:
“Đất nước bốn ngàn năm
Vất và vào gian lao
đời. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất, dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất
nước. Điều tâm niệm đó thật chân thành, giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là
“một nốt trầm xao xuyến”. Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người, ở mọi lứa
tuổi, chứ đâu phải của riêng ai. Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước,
cho cuộc đời, bởi vậy, xuất phát từ tiếng lòng thiết tha, nhỏ nhẹ, chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp
nhận và chia sẻ cho nhau. Quan niệm sống ấy của Thanh Hải thật giống với quan niệm sống của Tố Hữu:
• “Nếu là con chim, chiếc lá,
Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không trả,
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.”
Đến khổ thơ tiếp theo, tác giả đã giúp ta hiểu rõ hơn nhan đề của bài thơ – Mùa xuân nho nhỏ:
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”.
“Mùa xuân” là ý niệm chỉ thời gian nhưng “mùa xuân nho nhỏ ở đây của tác giả đã trở thành lẽ sống đẹp, lý tưởng. “Lặng lẽ
Hoàng văn Dân Trường THCS Quỳnh Thắng