Quản trị rủi ro đối với mặt hàng nông sản ở Việt Nam - Pdf 13

TÓM TẮT ĐỀ TÀI o

Lý do chọn đề tài

Trong năm 2008, tình hình kinh tế thế giới đầy biến động phức tạp đã làm cho giá các
mặt hàng nông sản diễn biến khó lường cùng với sự biến động tỷ giá và lãi suất đã làm
cho nông dân, doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng nông sản rơi vào tình cảnh khó khăn,
điêu đứng. Mặc dù những nghiên cứu về quản trị rủi ro về phái sinh đã được quan tâm
rất nhiều nhưng đến nay người nông dân cũng như những doanh nghiệp kinh doanh
nông sản vẫn loay hoay trong những biến động bất thường của giá cả, lãi suất, và tỷ
giá. Người nông dân được mùa thì giá rớt. Những khó khăn của người nông dân và
doanh nghiệp trong thời gian qua đã là động lực thôi thúc để em nghiên cứu đề tài:
“Quản trị rủi ro đối với mặt hàng nông sản ở Việt Nam”.
o

Mục tiêu nghiên cứu

-

Tìm hiểu thực trạng quản trị rủi ro hàng nông sản ở một số nước
như:

Mỹ,
Brazil, Tanzania. Từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.
-

Phân tích những ảnh hưởng của rủi ro tài chính đối với người nông
dân,


Chương I: Rủi ro tài chính đối với hàng nông sản và các phương pháp ứng phó.
Trong đó tìm hiểu về rủi ro tài chính đối với mặt hàng nông sản, các chính sách bảo hộ
hàng nông sản, kinh nghiệm quản trị rủi ro ở một số nước và rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam.
Chương II: Phân tích các yếu tố rủi ro tài chính tác động đến hàng nông sản Việt
Nam.
Phân tích vai trò quan trọng của nông nghiệp trong nền kinh tế nước ta và những ảnh

hưởng của rủi ro tài chính đối với nông sản.

Chương III: Thực trạng đối phó với rủi ro tài chính trong thời gian qua.

Đề cập đến thực trạng đối phó với rủi ro tài chính của người sản xuất, doanh nghiệp và
Chính phủ trong thời gian vừa qua.
Chương IV: Quản trị rủi ro đối với mặt hàng nông sản ở Việt Nam.

Đưa ra các giải pháp nhằm quản trị rủi ro hàng nông sản ở Việt Nam.

o

Đóng góp của đề tài

Tìm ra thực trạng đối phó với rủi ro tài chính của người sản xuất, doanh nghiệp kinh
doanh mặt hàng nông sản và Chính phủ. Từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp với
thực tiễn.
o

Hướng phát triển của đề tài



MỤC LỤC

A – Lời mở đầu

1

B – Nội dung

Chương 1: Rủi ro tài chính đối với hàng nông sản và

các phương pháp ứng
phó3

1.1.

Các yếu tố rủi ro tài chính tác động đến hàng nông
sản
3

1.2.

Nam
11

2.2.

Giới thiệu sơ lược về cuộc điều tra khảo sát thực tế 14

2.3.

Phân tích các yếu tố rủi ro tác động trong lĩnh vực nông nghiệp 15

Chương 3: Thực trạng đối phó với rủi ro tài chính trong thời gian qua 27

3.1.

Cách đối phó của người sản xuất 27

3.2.

Thực trạng quản trị ở các doanh nghiệp 31

3.3.

Các chính sách của chính
phủ
41

Chương 4: Quản trị rủi ro đối với mặt hàng nông sản ở Việt Nam 45

4.1.


E – Phụ lục 52
1 1/ Lý do chọn đề tài:
LỜI MỞ ĐẦU
a ee a

Sau những thập kỷ suy giảm 80 và 90 của thế kỷ 20, những năm đầu của thế kỷ
21 giá nông sản trên thị trường thế giới tăng lên. Có thể kể đến những nguyên nhân
sau:
Thứ nhất, dân số toàn cầu tăng nhanh làm tăng cầu lương thực cũng như nền
kinh tế Trung Quốc và Ấn Độ tăng trưởng mạnh làm tăng nhu cầu tiêu thụ nông sản
của hai nước đông dân nhất thế giới này.
Thứ hai, trong vòng 1 thập kỷ trở lại đây, sự sụt giá USD so với Euro và những
đồng tiền chính khác đã kích thích tăng xuất khẩu nông sản, do các nước xuất khẩu
nông sản chủ yếu thu về bằng đồng đô la. Ngoài ra, đồng USD giảm làm cho các nhà
đầu cơ có xu hướng chuyển đầu tư từ nắm giữ đô la sang nắm giữ các hàng hóa trong
đó có nông sản.
Thứ ba, chính sách sản xuất ethanol từ ngô ở Mỹ (và nhiên liệu sinh học từ dầu
thực vật ở châu Âu) làm tăng nhu cầu tiêu dùng lương thực bù đắp cho một phần sản
lượng ngô chuyển sang sản xuất ethanol.
Thứ tư, các nhà đầu cơ đang tìm kiếm những cơ hội từ một số mặt hàng mang

doanh
nghiệp kinh doanh hàng nông sản, và nền kinh tế.
-

Phân tích thực trạng đối phó với rủi ro tài chính của nông dân, doanh nghiệp
và Chính phủ trước những biến động bất thường trong thời gian qua.
Tìm

hiểu
nguyên
nhân tại sao quản trị rủi ro đối với mặt hàng nông sản vẫn chưa hiệu quả.
-

Từ đó, đề ra những biện pháp nhằm giúp người nông dân và các
doanh

nghiệp
kinh doanh nông sản có thể chủ động đối phó với rủi ro.
3/ Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu:
-

Đề tài chỉ nghiên cứu về lĩnh vực nông sản cụ thể là 3 mặt hàng: gạo, cao su,
cà phê. Do đây là 3 mặt hàng Việt Nam xuất khẩu nhiều và sự biến động giá cả của 3
mặt hàng nông sản này được cả thế giới và Việt Nam quan tâm hơn cả.
-

Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là ở Việt Nam và sơ lược 1 số nước
như

Mỹ,

nhật
tình hình đối phó với rủi ro của nông dân và doanh nghiệp hiện nay. Qua đó, tìm ra
những bức xúc của họ và đưa ra những giải pháp phù hợp.
-

Việt Nam đã là thành viên của WTO, đã tham gia vào quá trình hội
nhập

toàn
cầu do đó những giải pháp và chính sách cũng phải thay đổi để thích ứng linh hoạt với
luật chơi chung.
3
CHƯƠNG 1: RỦI RO TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI HÀNG NÔNG SẢN
VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP ỨNG PHÓ
Nước ta là một nước nông nghiệp, hơn nữa lại là nước xuất khẩu nông sản có
hạng trên thế giới. Tuy nhiên vấn đề sản xuất ra các loại nông sản lại phụ thuộc rất
nhiều vào điều kiện tự nhiên (mưa, bão, lũ lụt…). Vì thế ảnh hưởng không ít đến chất
lượng cũng nhưng giá cả của các mặt hàng nông sản. Và đó cũng là điều mà những
nhà sản xuất, cả cá nhân lẫn doanh nghiệp lo ngại trong suốt quá trình trồng trọt, kinh
doanh của mình.
1.1.

CÁC YẾU TỐ RỦI RO TÀI CHÍNH TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNG NÔNG SẢN
1.1.1.

Rủi ro giá cả hàng hóa
Rủi ro giá cả hàng hóa xuất hiện khi giá sản phẩm xuống thấp hoặc giá đầu vào

của doanh nghiệp là vậy, nhưng thực tế, lãi suất luôn biến động với bất kỳ một đồng
tiền nào.
Đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu nông sản, vốn luôn là yếu tố hết sức
quan trọng trong kinh doanh. Doanh nghiệp vay tiền đồng để thu mua nông sản từ
nông dân. Nếu lãi suất tiền đồng không ổn định sẽ làm cho chi phí sử dụng vốn của
doanh nghiệp biến động dẫn tới làm sai lệch các kế hoạch kinh doanh, giảm lợi nhuận
thậm chí đối với 1 số doanh nghiệp có doanh thu thấp sẽ lâm vào tình trạng kiệt quệ tài
chính.
1.1.3.

Rủi ro tỷ giá
Rủi ro tỷ giá xuất hiện do biến động tỷ giá hối đoái khi chi phí đầu vào và
nguồn thu từ đầu ra bằng các đồng tiền khác nhau. Rủi ro này xảy ra với người xuất
khẩu hoặc có nguồn thu phụ thuộc vào tỷ giá hối đoái tại thời điểm thu hoạch hoặc bán
sản phẩm. Hay có thể hiểu rủi ro tỷ giá xảy ra khi có sự chênh lệch giữa tỷ giá giao
ngay tương lai so với tỷ giá kỳ vọng.
Trong các loại rủi ro, rủi ro tỷ giá là rủi ro thường gặp và đáng lo ngại nhất đối
với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Nó làm thay đổi giá trị kì vọng của các khoản
phải thu chi ngoại tệ trong tương lai, làm ảnh hưởng đến kết quả hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Ngoài ra, thay đổi trong tỷ giá còn tạo ra những
đối thủ mạnh mới.
1.2.

CÁC CHÍNH SÁCH BẢO HỘ HÀNG NÔNG SẢN
Bảo hộ nông nghiệp là những biện pháp, chính sách của Nhà nước nhằm hỗ trợ
sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng nông sản trong nước và đối phó với
hàng hóa nhập khẩu có thể gây “thiệt hại” cho nền kinh tế hoặc cho những sản phẩm
nông nghiệp của quốc gia nhập khẩu. Bảo hộ nông nghiệp thường được thực hiện bởi
hai cách: một là, các rào cản về thương mại hàng nông sản như thuế quan và phi thuế
quan; hai là, các biện pháp “hỗ trợ trong nước” bao gồm: trợ cấp giá đầu vào, thu mua

thiết lập do hai bên có kỳ vọng khác nhau.
Ưu nhược điểm của hợp đồng kỳ hạn. (Xem Phụ lục 2)
b)

Hợp đồng giao sau (future)
Là hợp đồng mua bán hàng hóa hay chứng khoán mà tại ngày giao dịch 2 bên
thỏa thuận với nhau các điều khoản như: loại hàng hóa, số lượng, giá cả, ngày thực
hiện hợp đồng.
Đặc điểm và mục tiêu của hợp đồng giao sau. (Xem Phụ lục 3)
c)

Hợp đồng quyền chọn (option)
Một công cụ khác để giảm rủi ro là quyền chọn. Quyền chọn là những hợp đồng
đưa cho người mua quyền, quyền mua hoặc bán một loại hàng hóa nào đó tại giá cả
chỉ định gọi là giá thực hiện trong một khoảng thời gian đến ngày đáo hạn.
Có hai loại hợp đồng quyền chọn: quyền chọn theo kiểu Mỹ có thể thực hiện tại bất kỳ
thời gian nào cho tới ngày đáo hạn của hợp đồng; quyền chọn theo kiểu châu Âu chỉ
thực hiện hợp đồng tại ngày đáo hạn.
Đặc điểm và các dạng hợp đồng quyền chọn. (Xem Phụ lục 4)
d)

Hợp đồng hoán đổi (swap)
Hợp đồng hoán đổi hàng hóa là giao dịch đàm phán trực tiếp giữa hai phía đối
tác hay thông qua trung gian, đồng ý trao đổi một loạt những thanh toán được tính trên
những cơ sở khác: thanh toán giá cả hàng hóa với mức cố định (fixed) được hoán đổi
cho mức giá trôi nổi (floating), thanh toán dựa trên chỉ số giá hàng hóa A thay bằng
chỉ số giá hàng hóa B, mua hoặc bán hàng hóa A thay bằng mua hoặc bán hàng hóa B
và ngược lại, mua hàng ở mức giá cơ bản giao ngay và bán lại hàng với mức giá kỳ
hạn,…
Chức năng và các loại hợp đồng hoán đổi. (Xem Phụ lục 6)


Thiếu tầm nhìn chiến lược: ít có những biện pháp chuẩn bị trước
để
phòng
ngừa rủi ro mà đối phó bằng những biện pháp hành chính khắc phục hậu quả của rủi ro
giá.
-

Quan điểm, nhận thức lạc hậu và thiếu năng động: không dám đi tiên phong
trong việc áp dụng những công cụ tài chính mới để giải quyết vấn đề. Nếu có áp dụng
thì cũng với tâm lý ngập ngừng, e ngại.
-

Hiệp hội ngành nghề hoạt động kém hiệu quả và vai trò của họ trong cuộc
chiến chống rủi ro giá quá mờ nhạt.
-

Chưa có thị trường các công cụ phòng ngừa rủi ro giá mà cụ thể là thị trường
chứng khoán phái sinh.
1.4.2.

Kinh nghiệm quản trị rủi ro hàng nông sản ở một số nước
a)

Mỹ
Mỹ là nước tiên phong trong phòng ngừa rủi ro giá cả. Sự bất ổn giá cả làm
tăng rủi ro cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản. Để tránh tình trạng đó, thương
nhân và người nông dân đã gặp nhau trước mỗi vụ mùa để thỏa thuận giá cả trước.
Như vậy, rủi ro về giá của cả hai bên đã được giải quyết.
Năm 1848, trung tâm giao dịch The Chicago Board of Trade (CBOT) đã được

rates), hợp đồng giao sau về chỉ số chứng khoán…
Từ đó đến nay, Mỹ không ngừng phát triển thị trường chứng khoán phái sinh và
nó là công cụ quản lý rủi ro nông sản và các sản phẩm khác rất hiệu quả. Và tháng
7/2007, CBOT được sát nhập với Sàn Chicago Mercantile Exchange (CME), được
thành lập vào năm 1874, để trở thành CME group, một trong những sàn giao dịch hàng
hóa lớn nhất thế giới với các sản phẩm được giao dịch trên sàn từ nông sản (bắp, đậu,
lúa mì, ), gia cầm, gia súc đến trái phiếu kho bạc của chính phủ Mỹ.
b)

Brazil
Nông dân mất các khoản tín dụng khi chính phủ Brazil ngừng tài trợ cho khu
vực nông nghiệp từ những năm 80. Khu vực sản xuất nông nghiệp không thể tìm được
những khoản tài trợ khác để bù đắp thiệt hại. Khi đó các ngân hàng tìm cách bù đắp lỗ
thủng khi Chính phủ ngưng tài trợ. Tuy nhiên công việc này không phải dễ dàng mà có
thể thực hiện được vì khả năng hoàn trả của các nông dân không phải lúc nào cũng tốt
cả. Chính vì vậy trong năm 1994 Chính phủ Brazil thông qua State – Owned Banco do
Brazil (đây là một ngân hàng nông nghiệp lớn nhất trên thế giới) đi đến quyết định
khắc phục những ảnh hưởng do chương trình tín dụng của Chính phủ gây ra bằng cách
giới thiệu các cơ chế mua bán mới trên thị trường Cedula De Product Rural (CPR) ra
đời từ đây.
8
Việc Brazil đã có thị trường quyền chọn và hợp đồng giao sau cho hàng hóa
nông sản của họ, cụ thể là sàn giao dịch The Bolsa De Mercadorias E Futuros (BMEF)
đã giúp CPR thực hiện tốt chức năng trả tiền trước cho các hợp đồng kỳ hạn, mục đích
chính là giới thiệu những công cụ tài chính cho các nông dân và hợp tác xã có thể bán
sản phẩm kỳ hạn cho Banco do Brazil thông qua CPR và nhận những khoản tiền mặt
tương đương. CPR có thể chuyển và giao dịch các hàng hóa trên ở thị trường thứ cấp

9
hóa, qua đó thiết lập mối quan hệ ngày càng chặt chẽ của các thương gia và nông dân.
Vấn đề tiền mặt của các nông dân sẽ được CPR giúp đỡ và được ghi rõ ràng dựa trên
mức giá mà CPR sẽ mua để các nông dân có thể thanh toán lại cho CPR. Đến lúc này
những nhà đầu tư xét thấy rằng CPR ngày càng hấp dẫn lớn đối với họ, và họ đã tham
gia vào CPR bằng nhiều cách như mua trái phiếu CPR, phát hành hay thiết lập các
hiệp hội vận tải để cùng với CPR thu mua các sản phẩm nông sản của nông dân. Cuối
cùng, CPR chịu trách nhiệm chính trong việc ký các hợp đồng xuất khẩu cà phê thông
qua các hợp đồng giao sau đối ứng tại các sàn giao dịch như LIFFE ở London hay
New York. Do tập hợp được một khối lượng lớn cà phê nên ngày nay CPR đã có
những ảnh hưởng nhất định trong việc điều phối thị trường cà phê thế giới.
Nhờ những cải cách năng động đầy quyết đoán của Chính phủ Brazil mà ngành
cà phê của Brazil đã có những bước phát triển nhất định, loại trừ được phần lớn các tác
động của rủi ro giá cả nhằm ổn định đời sống của các nông dân trồng cà phê tại đất
nước này.
c)

Tanzania
❖ Bối cảnh ngành cà phê ở Tanzania. (Xem Phụ lục 8)
❖ Nguyên tắc tránh rủi ro của Tanzania:

Duy trì hệ thống định giá theo nhiều cấp để trả cho nông dân mức giá đầu tiên
vào đầu vụ, giúp ổn định giá để nông dân có cơ sở lên kế hoạch sản xuất và ngân sách
cho hộ.

Bảo vệ lợi nhuận chung tránh những tác động tiêu cực do mức giá ban đầu quá
cao so với giá thị trường thực tế bán được trong vụ.

trong

ngành
cà phê,
loại trừ được phần lớn các tác động của rủi ro giá cả nhằm ổn định đời sống của các
nông dân. Việt Nam cần tiếp tục củng cố, học hỏi, cũng như mở rộng sàn giao dịch cà
phê ở Buôn Ma Thuột. Vì đây là bước đệm để doanh nghiệp và nông dân trong nước
10
tiến tới làm quen với phương thức buôn bán trên mạng, điều mà thế giới đã làm từ rất
lâu. Đắk Lắk là trung tâm sản xuất cà phê lớn nhất của cả nước nên việc xây dựng sàn
giao dịch ở đây là hợp lý. Tuy nhiên, về lâu dài chúng ta sẽ phải mở sàn giao dịch cà
phê tại những trung tâm có lợi thế buôn bán trao đổi lớn hơn.


Các công ty cung cấp công cụ bảo hiểm rủi ro (có thể là
các

nhà
đầu cơ
quốc tế, công ty buôn bán, ngân hàng, bảo hiểm…) cần có cái nhìn tích cực và cam kết
thực hiện sáng kiến này.


Ngân hàng có thể cung cấp bảo hiểm rủi ro giá vì có động cơ cho người sản
xuất vay nếu có thể bảo hộ được rủi ro hoặc nếu biết rằng khách hàng vay tiền được
bảo vệ. Có mối quan hệ chặt chẽ giữa quản lý rủi ro giá và tài chính. Ở Tanzania, các
hiệp hội và ngân hàng cho vay phải chịu rủi ro giá. Các tổ chức tài chính cần tăng

xa lạ với việc sử dụng công cụ phái sinh để phòng ngừa rủi ro. Quá trình học hỏi kinh
nghiệm trong việc sử dụng sử dụng chúng vẫn đang dần được đúc kết để rủi ro có thể
giảm thiểu đến mức đáng kể nhất.
11
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ RỦI RO TÀI CHÍNH
TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM
Nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế nước ta. Tuy nhiên
việc sản xuất hàng nông sản lại gánh chịu nhiều rủi ro tài chính như giá cả, lãi suất, tỷ
giá. Vậy những yếu tố rủi ro tài chính tác động như thế nào đến người nông dân, các
doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam?
2.1.

NÔNG NGHIỆP – NỀN KINH TẾ CHỦ LỰC CỦA VIỆT NAM
Những năm gần đây, thế giới biết đến Việt Nam như là một đất nước đang tiến
hành thành công công cuộc đổi mới, trong đó có sự đóng góp đáng kể của ngành nông
nghiệp và phát triển nông thôn. Ngành nông nghiệp đang gánh vác sứ mệnh cao cả:
đảm bảo an ninh lương thực cho toàn xã hội. Trong cuộc suy thoái kinh tế hiện nay,
ngành này còn đóng vai trò hỗ trợ ngành công nghiệp và dịch vụ để kìm chế đà suy
giảm.
Theo đánh giá của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Cao
Đức Phát, bức tranh kinh tế xã hội nông thôn Việt Nam đã có những chuyển biến đáng
kể với tốc độ tăng trưởng bình quân 5,4%/năm về giá trị sản xuất nông, lâm, ngư
nghiệp; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống 14,7% năm 2007. Sản xuất nông nghiệp từ tự cung,
tự cấp sang đa dạng hàng hóa, hướng mạnh ra xuất khẩu. Nhìn từ khía cạnh xuất khẩu
nông sản, những mặt hàng chủ lực của nền nông nghiệp Việt Nam vẫn đang chứng tỏ
thế và lực của một đất nước với không ít sản phẩm nông nghiệp được ghi danh trên
thương trường thế giới như gạo, cà phê, hạt điều, thuỷ sản. Kim ngạch xuất khẩu các


60000

Hình 2.1:Sản lượng một số loại cây trồng qua các năm
(1000 tấn)
50000

40000

30000

20000

10000



Hồ tiêu
Lạc

Hạt điều
Mía đường
Cao su

Cà phêChè
LúaNguồn: Tổng cục thống kê.
Gạo, cà phê, cao su, chè, hạt điều đã trở thành những mặt hàng nông sản chính
xuất khẩu của Việt Nam. Việt Nam hiện đang là một trong hai, ba nước xuất khẩu gạo
hàng đầu trên thế giới. Xuất khẩu gạo tăng từ khoảng 3,5 triệu tấn năm 2000 lên mức
hơn 4,6 triệu tấn năm 2008. Xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản khác cũng tăng nhanh
như cà phê xuất khẩu năm 2000 đạt gần 734 ngàn tấn, năm 2008 đạt hơn 1 triệu tấn,
cao su năm 2000 xuất 273,4 ngàn tấn đã tăng lên mức 645 ngàn tấn vào năm 2008.
(Xem bảng 2.2 phần Phụ lục)
13

Hồ
tiêu

Đi

u
Chè

Cao
su

phê
G

o10000

20

00

2004

2006

8000700060005000400030002000Hồ tiêu

Điều
Chè

Cao su



Việc tham gia ngày càng sâu rộng kinh tế khu vực và quốc tế sẽ ảnh hưởng
mạnh mẽ đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, và qua đó ảnh hưởng sâu rộng
dến đời sống kinh tế của toàn xã hội. Một mặt, gia nhập các tổ chức kinh tế và tham
gia các hiệp định thương mại song phương và đa phương sẽ tạo cơ hội cho Việt Nam
phát huy lợi thế so sánh, giải quyết được trở ngại lớn nhất đang cản trở sức phát triển
của sản xuất nông nghiệp là sự hạn chế về thị trường xuất khẩu, mặt khác hội nhập
đồng nghĩa với mở cửa, trong hoàn cảnh trình độ sản xuất nông nghiệp còn thấp kém,
công nghiệp chế biến còn non trẻ, phải chấp nhận cạnh tranh trên nhiều lĩnh vực chưa
đủ mạnh là một thách thức to lớn cho nông nghiệp Việt Nam.
Tỷ trọng trong GDP của ngành nông nghiệp đã giảm nhanh từ 38,1% năm 1990
xuống 20,25% năm 2007. Theo Tổng cục thống kê, tổng sản phẩm trong nước (GDP)
năm 2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 6,23% so với năm 2007, trong đó khu
vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%. Xét theo ngành kinh tế, mức tăng của
khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2008 cao hơn mức tăng năm 2007 và 2006.
Điều này do sản xuất nông nghiệp được mùa, sản lượng lúa cả năm tăng 2,7 triệu tấn
so với năm 2007 và là mức tăng cao nhất trong vòng 11 năm trở lại đây. Tỷ trọng khu
vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21,99% GDP. (Xem hình 2.4 phần Phụ lục)
2.2.

GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CUỘC ĐIỀU TRA KHẢO SÁT THỰC TẾ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Cùng với việc thu thập dữ liệu và các bài phân tích
trên các báo, đề tài nghiên cứu, website, em đã thực hiện 1 cuộc khảo sát thực tế ở một
số tỉnh nhằm cập nhật mới những tác động của các loại rủi ro trên đối với nông dân,
doanh nghiệp kinh doanh nông sản và các biện pháp ứng phó của họ trước rủi ro đó.
Bảng câu hỏi khảo sát gồm 14 câu dành cho nông dân và 12 câu dành cho doanh
nghiệp kinh doanh nông sản.
Xác định các biến đo lường:
Sử dụng thang đo Likert 5 mức độ, với 1 là mức thấp nhất và 5 là mức cao nhất.
Nghiên cứu định tính và định lượng nhằm xác định các nhân tố, các thuộc tính đo

8/15/2008

9/15/2008

10/15/2008

11/15/2008

12/15/2008
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU: sẽ được sử dụng trong những phần tiếp theo của đề tài
này nhằm mục đích phân tích và đánh giá. (Xem chi tiết trong phần Phụ lục)
2.3.

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ RỦI RO TÁC ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC
NÔNG NGHIỆP
2.3.1.

Tác động đến người nông dân
a)

Rủi ro giá cả
Một đặc điểm chính của thị trường nông sản và cũng là thách thức lớn nhất cho
xuất khẩu Việt Nam là tính biến động cao của giá cả. Những biến động trong năm
2008 đã là những minh chứng cụ thể cho đặc điểm này. Bắt đầu là mặt hàng gạo, giá
thế giới có khi tăng vọt, sau đó lại suy giảm.
Hình 2.5: Diễn biến giá gạo thô kỳ hạn tại Chicago, Mỹ năm
2008


Nguồn: agroviet.gov.vn
Ngày



Tình hình giá nông sản có sự biến động thất thường từ năm 2008 đến nay
là do:
Thứ nhất, thị trường nông sản bị ảnh hưởng bởi các nguyên nhân cung cầu cơ
bản như sản lượng, tiêu dùng, tồn kho hoặc các yếu tố liên quan như tỷ giá hối đoái,
giá dầu mỏ, nhu cầu tiêu thụ ethanol… Các phân tích trước đây thường chỉ quan tâm
đến các yếu tố cung cầu cơ bản này. Tuy nhiên, theo báo cáo của Trung tâm Thông tin
“Biến động và triển vọng giá nông sản trong bối cảnh khủng hoảng tài chính toàn cầu”
thì trong vòng 10 năm trở lại đây kết cấu thị trường nông sản đã có những sự chuyển
mình mạnh mẽ. Trong giao dịch nông sản quốc tế đã xuất hiện các quỹ đầu tư tham gia
thị trường ngày càng sâu rộng. Luồng tài chính từ các quỹ này đã dần đến mức chi
phối cung cầu nhất thời trên thị trường.
Thứ hai, đối với các mặt hàng cây công nghiệp như cao su, cà phê, hồ tiêu,
điều do suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính làm cho các quỹ đầu cơ rút tiền
khỏi các hoạt động đầu tư dẫn đến giảm cầu tức thời trên các thị trường kỳ hạn, làm
cho giá giảm đột ngột. Đây chính là nguyên nhân chính tác động đến sự giảm sút tức
thời của thị trường hàng nông sản thế giới.
16
Thứ ba, nguyên nhân giá cà phê, cao su giảm một phần là do ảnh hưởng cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu nên giảm lượng tiêu thụ, nhưng không loại trừ khả
năng những nhà nhập khẩu nước ngoài lợi dụng khó khăn để ép giá bán cà phê, cao su
của Việt Nam.


và Hình 2.7 phần Phụ lục)
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, trong 7 tháng đầu
năm 2008, nước ta đã nhập khẩu tới 2,23 triệu tấn phân bón với kim ngạch 1,14 tỷ
USD cộng với 40 triệu USD tiền thuốc bảo vệ thực vật, tương đương với kim ngạch
xuất khẩu gạo là 1,7 tỷ USD, như vậy chứng tỏ hiệu quả sản xuất nông sản của chúng
ta quá thấp.
Từ tháng 11/2007 đến nay, giá phân bón đã biến động liên tiếp với giá tăng gấp
2-3 lần, thậm chí như phân urê tăng từ 440 lên 1.200 USD/tấn. Điều này đã làm tăng
chi phí đầu vào đối với sản xuất nông nghiệp của người nông dân. Giá phân bón tăng,
trong khi sử dụng không hiệu quả càng khiến phân bón bị lãng phí ghê gớm. Và tình
hình này có thể sẽ ngày càng trầm trọng khi đến năm 2020, nước ta vẫn phải nhập
khẩu lượng lớn phân bón.
17
Hình 2.8: Diễn biến giá gạo tẻ thường và phân NPK Đầu trâu từ 1/2008
đến
3/2009



Nguồn: agro.gov.vn
Theo các chuyên gia kinh tế thì sự “tuột dốc” theo chiều thẳng đứng của giá cao
su và cả cà phê chưa có dấu hiệu dừng. Điều đáng lo hơn, thời gian qua do được giá
nên phong trào trồng cao su lan tỏa khắp nơi, thậm chí có nhiều địa phương đưa cả cao
su xuống trồng ở ruộng lúa. Dịp này cũng là cơ hội “thẩm định” lại thời của cao su,
mở rộng diện tích ngoài quy hoạch, kế hoạch.
o

Cà phê: Giá cà phê từ ở mức cao kỷ lục trong lịch sử trồng cà phê của
nông dân, 40.000 – 42.000 đồng/kg vào ngày 4/3/2008 nhưng chỉ một ngày sau, giá
đột ngột giảm mạnh 4.000 – 5.000 đồng/kg khiến nông dân, đại lý và doanh nghiệp
điêu đứng vì trở tay không kịp.
18

đ/kg
1/2/2008

2/2/2008

3/2/2008

4/2/2008

5/2/2008

6/2/2008

7/2/2008


Hình 2.10: Diễn biến giá gạo thô nguyên liệu tẻ thường tại Cần Thơ năm 2008

Giá gạo thô nguyên liệu tẻ thường tại Cần Thơ năm 2008
Nguồn: Agroviet

14,000

12,000

10,000

8,000

6,000

4,000

2,000

0
Nguồn: agroviet.gov.vn
Ngày
Tại một số địa phương, nông dân còn lúa ế, chưa bán được nhiều. Nhiều người
bị "nghẹn" không bán được lúa đông xuân lên đến 5 – 10 tấn. Khó nhất là lúa cũ không


Sản xuất nông nghiệp rủi ro trước thị trường thế giới và diễn biến dịch bệnh,
gây nhiều tổn thất và tạo khoảng trống để nông sản nhập khẩu chiếm chỗ.
Thứ sáu, quy mô sản xuất nhỏ, chưa đúng quy trình làm cho năng suất, chất
lượng sản phẩm chưa cao, giảm giá trên thị trường. Quy mô sản xuất mở rộng nhưng
thị trường lại không mở rộng và ổn định cũng là thiệt hại khiến nông dân đã phá bỏ
một số cây trồng lâu năm.
Thứ bảy, hỗ trợ của Nhà nước còn hạn chế về quy mô, phương thức nên hiệu
quả không cao. Chưa có nghiên cứu sâu sắc về tác động của ngân sách hỗ trợ, đôi khi
hỗ trợ đó chuyển vào những đơn vị thực hiện nhiều hơn đối tượng thụ hưởng phát huy
thành quả của hỗ trợ. Nông dân chưa hẳn đã được tham gia thảo luận và giám sát đầu
tư phát triển nông thôn. Thiếu cơ chế quản lý, bảo dưỡng, duy tu làm giảm tác dụng
của công trình hạ tầng ở nông thôn


Theo kết quả khảo sát, rủi ro giá cả ảnh hưởng đến thu nhập của người nông
dân nhiều nhất so với các loại rủi ro tài chính khác (rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất) và là
mối quan tâm hàng đầu của nông dân. Với rủi ro giá cả thì rủi ro giá nông sản xuống
thấp cũng như rủi ro giá nguyên liệu đầu vào tăng cao (phân bón, thuốc trừ sâu ) ảnh
hưởng tương đương nhau ở mức điểm 4,29 – 4,56 ( tác động nhiều) so với mức tối đa
là 5 điểm.
20

Mean
Hình 2.11:Biểu đồ đo lường mức độ tác động của các rủi ro ảnh hưởng quá trình
sản xuất của nhà sản xuất.

3.06

2.36

Nguồn: Khảo sát thực tế
b)

Rủi ro lãi suất
giá
nguyên
liệu đầu vào

giá nông sản

lãi suất

tỷ giá
21
-

Khí hậu, đất đai.
-

Giống cây trồng.
-

Kĩ thuật chăm sóc, chất lượng nông sản.
-

Năng suất, giá nhân công.
-

Giá dầu (dùng cho máy tưới)
2.3.2.

Tác động đến doanh nghiệp kinh doanh mặt hàng nông sản
a)

Rủi ro giá cả


Giá giảm làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp bị giảm.



lúa quá thấp. Tuy nhiên, đi vào thực tế mới thấy tình hình không phải như thế, nhiều
người kinh doanh lúa gạo năm 2008 điêu đứng, thua lỗ và có người còn đứng trước
22
nguy cơ phá sản do giá gạo diễn biến phức tạp. Từ người buôn bán gạo lẻ, đến thương
lái và doanh nghiệp cung ứng gạo xuất khẩu đều gặp khó khăn.
Tại đại lý gạo anh Ba Tự ở thị trấn Cái Tắc – Huyện Châu Thành – Hậu Giang,
anh ba Tự cho biết: Giá lúa dao động từ 3.800 – 4.000 đồng/kg. Tuy nhiên, do xuất
khẩu không nhiều nên hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu không “ăn hàng”, kéo theo
các thương lái thu mua lúa gạo cung ứng cho đầu mối xuất khẩu cũng nghỉ hết. Anh là
người cung ứng gạo cho những đại lý bán lẻ, thế nhưng mức cung thấp. Điều khó khăn
nhất cho anh là lúc lúa giá cao 5.500 – 6.000 đồng/kg anh mua vài chục tấn để ở vựa.
Giá cứ tuột dần nên tính sơ, anh lỗ cũng vài chục triệu đồng.


Một thách thức của thị trường xuất khẩu nông sản là độ nhạy cảm thấp của nhu
cầu nông sản đối với giá của nó. Nếu doanh nghiệp xuất khẩu chủ động giảm giá của
một mặt hàng nông sản để kích thích thì nhu cầu của người tiêu dùng đối với mặt hàng
nông sản cũng không tăng lên nhiều như mức độ giảm giá.


Thị trường nhập khẩu điều lớn của Việt Nam như Mỹ, EU đang cơn suy thoái,
khiến việc giữ uy tín kinh doanh – kể cả của đối tác truyền thống, bắt đầu có vấn đề.
Nguy cơ bị quỵt hàng, xù nợ, ép giá rất lớn.


Theo kết quả khảo sát và phân tích SPSS, giá nguyên liệu (giá hàng hóa…)
được đa số các doanh nghiệp khảo sát đánh giá là có mức tác động tương đối nhiều và
3.45164.1935 Nguồn: Khảo sát thực tế
b)

Rủi ro lãi suất
giá
nguyên liệu,

giá hàng
hóa

lãi suất tỷ
giá
Nhân tố




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status