Áo dài
Việt Nam
LỊCH SỬ ÁO DÀI
Không có tài liệu ghi nhận xuất phát điểm của
áo dài nguyên thuỷ.Y phục xa xưa nhất của
người Việt, theo những hình khắc trên mặt chiếc
trống đồng Ngọc Lũ cách nay khoảng vài nghìn
năm cho thấy hình phụ nữ mặc trang phục với
hai tà áo xẻ. Sử gia Đào Duy Anh viết, "Theo
sách Sử ký chép thì người Văn Lang xưa, mặc
áo dài về bên tả.
thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên dạy cho dân quận
Cửu Chân dùng kiểu quần áo theo người Tàu.
trước hồi Bắc thuộc thì người Việt gài áo về tay
trái, về sau bắt chước người Trung Quốc mới
mặc áo gài về tay phải".
Kiểu sơ khai của chiếc áo dài xưa nhất là
áo giao lãnh, tương tự như áo tứ thân nhưng
khi mặc thì hai thân trước để giao nhau mà
không buộc lại. Áo mặc phủ ngoài yếm lót, váy
tơ đen, thắt lưng mầu buông thả.
Vì phải làm việc chiếc áo giao lãnh được thu
gọn lại thành kiểu áo tứ thân (gồm bốn vạt nửa:
vạt nửa trước phải, vạt nửa trước trái, vạt nửa
người nữ Trung Hoa chỉ còn xuất
hiện trong cung điện hoặc trong
những nhà quyền quý. Phụ nữ
Trung Hoa dưới thời vua Võ
Vương nhà Thanh năm 1774, mặc
kiểu áo xường xám không có...
quần! Trong thời gian đó, truyền
thống mặc váy vẫn tồn tại ở Việt
Nam cho đến thế kỷ mười bảy như
đã ghi trong sách Lê Triều Thiên
Chính đời vua Lê Huyền Tông,
tháng 3 năm 1665 với sắc lệnh
nhắc nhở: ”... áo đàn bà con gái
không có thắt lưng, quần không có
hai ống từ xưa đến nay đã có tục
cũ...”
Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát được xem là người có
công khai sáng và định hình chiếc áo dài Việt Nam.
Chịu ảnh hưởng nặng của văn hóa Trung Hoa, cho đến
thế kỷ 18 lối ăn mặc của người Việt Nam vẫn thường
hay bắt chước lối của người phương Bắc, đặc biệt
dưới thời các chúa Nguyễn khi xứ Đàng Trong do nhu
cầu khai phá khẩn hoang, đón nhận hàng vạn người
Minh Hương (còn gọi là người Khách Trú hay đọc trại
thành "cắc chú") bất mãn với nhà Thanh sang định cư
lập nghiệp, mặc dù người Việt cũng có lối ăn mặc
và tách rời Đàng Trong thành quốc gia riêng, nên
ban sắc dụ về ăn mặc như trên cho khác đi (trong
quy định này đã có chỉ thị phụ nữ phải mặc quần
hai ống). Sau thấy quần hai ống khêu gợi quá,
Vương mới giao cho triều thần pha phối từ mẫu
áo dài của người Chăm (giống như áo dài phụ nữ
Việt Nam ngày nay, nhưng không xẻ nách) và áo
dài của phụ nữ Thượng Hải (chiếc sườn xám) để
"chế" ra cái áo dài của phụ nữ Việt Nam (Xem
thêm Liên kết ngoài, bài Sự Tích Áo Dài Việt Nam).
Chiếc áo dài đầu tiên giống như áo dài người
Chàm và có xẻ nách và quan điểm trên quá thiên
nặng về tính chống phong kiến nên vô hình chung
đề cao vai trò của Vũ Vương như là "nhà thiết kế
áo dài hiện đại đầu tiên".
Áo sườn xám
bộ áo ngũ thân xuất hiện vào khoảng đời vua
Gia Long (1802-1819). Sở dĩ có sự ước đoán
này, vì mặc áo ngũ thân thì phải mặc quần
chớ không thể mặc váy.
Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), triều đình Huế
ra chiếu chỉ cấm đàn bà mặc váy và bắt phải
mặc quần hai ống, nên hồi ấy mới xuất hiện
câu ca dao than vãn:
Năm 1934, một họa sĩ khác là Lê
Phổ bỏ bớt những nét lai căng,
cứng cỏi của áo Le Mur, đồng
thời đưa thêm các yếu tố dân tộc
từ áo tứ thân, ngũ thân vào, tạo
ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm
sát thân người, trong khi hai vạt
dưới được tự do bay lượn. Sự
dung hợp này quá hài hòa, vẹn
vẻ giữa cái mới và cái cũ, được
giới nữ thời đó hoan nghênh
nhiệt liệt. Từ đây áo dài Việt Nam
đã tìm được hình hài chuẩn mực
của nó, và từ bấy đến nay dù trải
bao thăng trầm, bao lần cách tân
cách điệu, hình dạng chiếc áo dài
về cơ bản vẫn giữ nguyên.