PHẦN I : CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT
ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP.
I. Sự cần thiết của phân tích hiệu quả hoạt động :
1. Khái niệm về phân tích hiệu quả hoạt động :
1.1 Khái niệm về hiệu quả hoạt động :
Đứng trên nhiều góc độ khác nhau có những quan niệm khác nhau về hiệu
quả hoạt động .
-Nếu hiểu hiệu quả theo mục đích thì hiệu quả hoạt động là hiệu số giữa kết
quả thu được và chi phí bỏ ra. Cách hiểu này đồng nhất với lợi nhuận của doanh
nghiệp.
- Nếu đứng trên góc độ từng yếu tố để xem xét, hiệu quả thể hiện trình độ và
khả năng sử dụng các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Có thể nói rằng mặc dù có sự thống nhất quan điểm cho rằng phạm trù hiệu
quả hoạt động phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp, song lại khó tìm thấy sự thống nhất trong khái niệm về hiệu quả hoạt động.
Nhiều nhà quản trị học cho rằng, hiệu quả hoạt động là một vấn đề phức tạp
liên quan đến các yếu tố trong quá trình hoạt động kinh doanh. Vì vậy, muốn đạt
hiệu quả cao phải có sự kết hợp giữa 2 yếu tố: chi phí và kết quả, chi phí là tiền đề
để doanh nghiệp thực hiện kết quả đặt ra.
Để đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động, ta có công thức chung:
Kết quả đầu ra
Hiệu quả hoạt động =
Các yếu tố đầu vào
Theo cách hiểu như trên thì hiệu quả hoạt động là đại lượng so sánh giữa chi
phí bỏ ra và kết quả đạt được. Hiệu quả hoạt động được nâng cao trong trường hợp
kết quả tăng, chi phí giảm và cả trong trường hợp chi phí tăng nhưng tốc độ tăng kết
quả nhanh hơn tốc độ tăng chi phí đã chi ra để đạt được kết quả đó.
1.2 Khái niệm về phân tích hiệu quả hoạt đông:
Phân tích hiệu quả của doanh nghiệp là việc đánh giá khả năng đạt được kết
quả, khả năng sinh lãi của doanh nghiệp. Bởi vì mục đích cuối cùng của người chủ
sở hữu, của nhà quản trị là bảo đảm sự giàu có, sự tăng trưởng tài sản của doanh
của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Nó được lập trên cơ sở
những thứ mà doanh nghiệp có(tài sản) và những thứ mà doanh nghiệp nợ(nguồn
vốn) theo nguyên tắc cân đối(tài sản bằng nguồn vốn). Đây là một báo cáo tài chính
có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ sở hữu, quan hệ kinh
doanh với doanh nghiệp; nó đánh giá tổng quát qui mô tính chất hoạt động và trình
độ sử dụng các nguồn lực, là cơ sở để phân tích tình hình tài chính của doanh
nghiệp, trợ giúp quá trình phân tích và quyết định.
Bên tài sản của Bảng cân đối kế tóan phản ánh giá trị của toàn bộ tài sản
hiện có đến thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh
nghiệp: đó là tài sản cố định , tài sản lưu động. Bên nguồn vốn phản ánh nguồn hình
thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời điiểm lập báo cáo: đó là vốn chủ sở
hữu(vốn tự có) và các khoản nợ phải trả.
2.Báo cáo kết quả kinh doanh:
Khác với Bảng cân đối kế tóan, báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch
chuyển của tiền vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó cho
phép dự tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo kết quả
Trang 2
kinh doanh còn giúp các nhà phân tích so sánh doanh thu và số tiền thực nhập quỹ
khi bán hàng hóa, dịch vụ với tổng chi phí phát sinh và số tiền thực xuất quỹ để vận
hành doanh nghiệp. Trên cơ sở đó có thể xác định kết quả kinh doanh lãi hay lỗ.
Như vậy, báo cáo kết quả kinh doanh phản ánh kết quả kinh doanh, phản ánh tình
hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Nó cung cấp những
thông tin tổng hợp về tình hình thực hiện nghĩa vụ với Nhà nướcvà kết quả quả sử
dụng các tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp.
3. Các báo cáo chi tiết khác :
Phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không thể chỉ giới hạn trong
phạm vi nghiên cứu các báo cáo tài chính mà phải mở rộng sang các báo cáo khác
như: Bảng chi tiết lãi lỗ tiêu thụ về sản xuất, tình hình tăng giảm tài sản cố định và
các tài liệu khác về giá trị sản xuất và số lượng sản phẩm tiêu thụ.
giá thành theo khoản mục, chi tiết doanh thu theo loại hình hoạt động, chi tiết doanh
thu theo từng mặt hàng… Việc chi tiết này nhằm đánh giá xu hướng tác động của
các chỉ tiêu cần phân tích từ đó phát hiện ra trọng điểm của công tác quản lý.
1.2Phương pháp so sánh :
Là phương pháp đối chiếu chỉ tiêu kinh tế cần phân tích với một chỉ tiêu kinh
tế được chọn làm gốc để so sánh. Đây là phương pháp phổ biến và sử dụng lâu đời
trong phân tích. Khi sử dụng phương pháp này phải quan tâm đến các vấn đề sau :
1.21 Lựa chọn gốc so sánh :
Việc lựa chọn số gốc để so sánh phải căn cứ vào mục tiêu và yêu cầu của
phân tích. Có thể lựa chọn các loại số gốc sau :
-Số gốc là số kế hoạch, việc lựa chọn số gốc này là nhằm đánh giá tình hình
thực hiện kế hoạch hay mục tiêu đề ra.
-Số gốc là số của những năm trước hoặc kỳ trước, việc lựa chọn số gốc này
là nhằm đánh giá sự biến động của chỉ tiêu cần phân tích qua thời gian.
-Số gốc là số của doanh nghiệp khác hoặc số trung bình ngành, việc lựa chọn
số gốc này là nhằm vị trí của doanh nghiệp và đề ra giải pháp quản lý phù hợp.
1.22 Điều kiện so sánh :
-Các chỉ tiêu phải phản ánh cùng một nội dung kinh tế, mỗi chỉ tiêu thì phải
phản ánh một nội dung kinh tế cụ thể.
-Các chỉ tiêu phải có cùng một phương pháp tính toán.
-Các chỉ tiêu phải có cùng một thước đo sử dụng.
1.23 Kỹ thuật so sánh :
-So sánh bằng số tuyệt đối: cho biết sự biến động về mặt lượng của chỉ tiêu
cần phân tích so với chỉ tiêu kỳ gốc.
= Số kỳ phân tích - Số kỳ gốc
-So sánh bằng số tương đối : so sánh về mặt tỷ lệ giữa chỉ tiêu kỳ phân tích
với chỉ tiêu kỳ gốc.
Số kỳ phân tích - số kỳ gốc
t% = *100%
Số kỳ gốc
yếu thay thế trước và nhân tố thứ yếu thay thế sau.
1.32 Phương pháp số chênh lệch :
Phương pháp này là trường hợp đặc biệt của phương pháp thay thế liên hoàn
khi giữa các nhân tố có quan hệ tích số. Theo phương pháp này, mức độ ảnh hưởng
của nhân tố nào sẽ bằng số chênh lệch của nhân tố đó nhân với các số còn lại đã cố
định.
2.Phương pháp phân tích định tính:
Việc sử dụng những số liệu trên báo cáo tài chính để so sánh, đánh giá và
nhận xét, trên cơ sở đó đưa ra những quyết định là chưa đầy đủ. Vì nhiều khi những
con số trên báo cáo tài chính là những con số thời điểm nên chưa có cơ sở để đánh
giá chính xác và đầy đủ về tình hình hoạt động kinh doanh thời gian dài cũng như
xu hướng phát triển của doanh nghiệp mà còn cần thiết phải dựa vào những nhân tố
khác không thể định lượng được ảnh hưởng như: tình hình pháp luật, môi trường
Trang 5
kinh doanh, khách hàng và tình hình thực tế về đặc điểm hoạt động sản xuất của
đơn vị như: Đặc điểm sản phẩm, đặc điểm ngành hàng kinh doanh, chính sách phân
phối sản phẩm…
IV CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA DOANH NGHIỆP.
1.Các nhân tố bên trong:
1.1 Công tác tổ chức quản lý:
Công tác tổ chức quản lý là việc sắp xếp, phân chia quyền hạn và trách
nhiệm cụ thể, riêng lẻ cho từng người cũng như cho tập thể trong một tổ chức. Công
tác tổ chức quản lý hợp lý sẽ giúp cho nhân viên làm việc một cách có hiệu quả do
tổ chức đã phân rõ nguồn lực cho từng công việc cụ thể, các nhân viên đã hiểu rõ
từng qui tắc cũng như quy trình làm việc để có thể xử lí thông tin, ra quyết định và
giải quyết công việc có hiệu quả.
1.2Trình độ tổ chức sản xuất :
Việc khai thác và sử dụng triệt để các nguồn lực sản xuất như: máy móc thiết
bị, lao động, vốn…tại các doanh nghiệp là một việc làm rất khó đạt được. Do đó,
Đối thủ cạnh tranh là những tổ chức, cá nhân có khả năng thỏa mãn nhu cầu
của khách hàng về các mặt hàng giống với mặt hàng của doanh nghiệp hoặc các mặt
hàng có thể thay thế lẫn nhau. Vì vậy, để dành ưu thế thị phần, để cạnh tranh tốt thì
doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá bán,
khuýên mãi…Điều này tạo ra khả năng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
2.3Khách hàng và nhu cầu của khách hàng:
Nhân tố khách hàng và nhu cầu của khách hàng quyết định qui mô cũng như
cơ cấu nhu cầu trên thị trường của doanh nghiệp và là yếu tố quan trọng hàng đầu
khi xác định chiến lược kinh doanh. Do đó doanh nghiệp phải tập trung tất cả vào
khách hàng, phục vụ khách hàng với mục tiêu cung cấp cho họ những dịch vụ hàng
đầu như: gía cả phải chăng, lựa chọn hàng hóa tùy muốn ,thuận tiện, phục vụ tận
tình…Đây là nhân tố quan trọng cũng như áp lực đối với doanh nghiệp nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động.
2.4Các nhân tố khác :
Ngoài các nhân tố trên thì môi trường kinh tế, chính trị, xã hội có ảnh hưởng
rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như: tỷ lệ lạm pháp, tỉ giá hối
đoái, lãi vay ngân hàng, chính sách tiền tệ…
V.CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH CỦA DOANH NGHIỆP.
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các
yếu tố của quá trình kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt kết quả cao nhất trong
hoạt động kinh doanh với chi phí thấp nhất. Do vậy hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp không chỉ được xem xét một cách tổng hợp mà còn được nghiên cứu trên cơ
sở các yếu tố thành phần của nó.
1.Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cá biệt:
Hiệu quả cá biệt của hoạt động kinh doanh được đánh giá thông qua các chỉ
tiêu hiệu suất.
Hiệu suất sản xuất kinh doanh là khái niệm dùng để đo lường mức độ sử
dụng các yếu tố đầu vào.
1.1 Hiệu suất sử dụng tài sản:
hiệu suất công tác đầu tư càng lớn và hiệu suất sử dụng TSCĐ càng cao, chỉ tiêu
này cao hay thấp còn phụ thuộc vào đơn vị đó là đơn vị sản xuất hay thương
mại.Trong trường hợp chọn tử số là giá trị sản xuất thì nó có thể phản ánh được khả
năng tạo ra giá trị bằng TSCĐ. Chỉ tiêu này cao quá thể hiện việc đầu tư giảm
nhưng xét về lâu dài cũng chưa chắc là tốt vì thể hiện khả năng đầu tư TSCĐ của
doanh nghiệp thấp.
1.3Hiệu suất sử dụng tài sản lưu động (hay vốn lưu động)
Trang 8
1.31Hiệu suất sử dụng tài sản lưu động:
Trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, vốn lưu động không
ngừng vận động. Nó là một bộ phận có tốc độ lưu chuyển vốn nhanh so với TSCĐ.
Vốn lưu động sẽ lần lượt mang các hình thái khác nhau trong quá trình dự trữ, sản
xuất, lưu thông phân phối.Vì vậy, để đánh giá tốc độ lưu chuyển vốn lưu động thì ta
cần xem xét số vòng quay bình quân của vốn lưu động.
Số vòng quay vốn lưu động =
Chỉ tiêu này cho thấy số vòng quay của vốn lưu động trong kỳ phân tích hay
một đồng vốn lưu động bỏ ra thì đảm nhiệm bao đồng doanh thu thuần .Trị giá của
chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ vốn lưu động quay càng nhanh. Đó là kết quả của
việc quản lý vốn lưu động hợp lý trong các khâu dự trữ, tiêu thụ và thanh toán, tạo
tiền đề cho tình hình tài chính lành mạnh.
Số ngày 1 vòng quay vốn lưu động = *360
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết để vốn lưu động quay được 1 vòng.
Hệ số này càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển vốn lưu động càng lớn và chứng tỏ hiệu
suất sử dụng vốn lưu động càng cao.
Thông qua 2 chỉ tiêu trên ta có thể xác định số vốn lưu động tiết kiệm hay
lãng phí bằng công thức :
Số vốn lưu động tiết kiệm
hay lãng phí (+/-) =
Thời gian của một vòng quay Số dư bình quân hàng tồn kho
hàng tồn kho = *360
Giá vốn hàng bán
Chỉ tiêu này phản ánh thời gian lưu kho bình quân trước khi nó được tiêu
thụ.
1.33Hiệu suất sử dụng nợ phải thu:
Số vòng quay nợ
thu khách hàng = (vòng)
Số dư bình quân phải thu khách hàng
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ chuyển hóa khoản phải thu thành tiền, chỉ tiêu
này càng cao chứng tỏ công tác thu hồi nợ của doanh nghiệp được đánh giá là tốt và
lúc này doanh nghiệp có khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn bởi các khoản
phải thu. Nhưng nếu chỉ tiêu này quá cao thì có ảnh hưởng đến doanh thu tiêu thụ
của doanh nghiệp trong kỳ, vì trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì cần phải có
một chính sách tín dụng hợp lý mới hấp dẫn được khách hàng và làm tăng doanh
thu của doanh nghiệp. Trong điều kiện không thu thập được số liệu về doanh thu
bán chịu thuần ta có thể lấy doanh thu bán hàng để thay thế.
Số dư bình quân nợ phải thu
Kỳ thu tiền bình quân = *360 (ngày/vòng)
Chỉ tiêu này phản ánh số ngày bình quân 1 vòng quay của khoản phải thu.
Chỉ tiêu này đem so sánh với kỳ hạn tín dụng của doanh nghiệp áp dụng cho khách
hàng sẽ đánh giá được tình hình thu hồi công nợ và khả năng chuyển hóa thành tiền
của khoản phải thu.
2.Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh tổng hợp :
Ngoài việc xem xét hiệu quả cá biệt của từng loại nguồn lực, ta cần phân tích
hiệu quả tổng hợp dựa vào các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời của doanh
Trang 10
Doanh thu bán Thuế GTGT
khấu hao, chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận có thể được tính lại như sau :
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh Lợi nhuận thuần Chi phí khấu hao
thu thuần SXKD SXKD TSCĐ
khi loại trừ chính sách =
khấu hao Doanh thu thuần SXKD
Chi phí khấu hao TSCĐ ở công thức trên được tính bằng cách lấy hao mòn
lũy kế cuối năm – hao mòn lũy kế đầu năm trên Bảng cân đối kế tóan( nếu trong
năm không có thanh lý, nhượng bán)hoặc lấy giá trị hao mòn tăng trong kỳ - giá trị
hao mòn giảm trong kỳ trên báo cáo chi tiết về tình hình tăng giảm TSCĐ.
Chỉ tiêu hiệu quả này cho phép đánh giá hiệu quả doanh thu, nó đo lường
hiệu quả đạt được từ 100 đồng doanh thu. Tổng ở tử số của chỉ tiêu này còn thể hiện
Trang 11
Lợi nhuận trước thuế
Doanh thu thuần
+
khả năng tái đầu tư của doanh nghiêp.Do vây, sự tiến triển của chỉ tiêu này qua thời
gian chỉ ra khả năng phát triển và khả năng mà doanh nghiệp phải duy trì để tái đầu
tư.
2.2Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA)
Lợi nhuận trước thuế(sau thuế)
ROA = *100%
Tổng tài sản bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh cứ 100 tài sản đầu tư tại doanh nghiệp sẽ tạo ra bao
nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế(sau thuế). Chỉ tiêu ROA càng cao phản ánh khả
năng sinh lời tài sản càng cao.
Ngoài ra, để làm rõ các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu tỷ suất sinh lời tài
sản, chỉ tiêu ROA còn được chi tiết qua phương trình Dupont :
Lợi nhuận trước thuế(sau thuế) Doanh thu thuần
ROA = * *100%
Doanh thu thuần Tổng tài sản bình quân
Vì thế tăng khả năng sinh lãi của vốn chủ sở hữu là một trong các mục tiêu trong
hoạt động quản lý tài chính và các nhà phân tích thường dùng chỉ tiêu ROE làm
thước đo mức doanh lợi đầu tư của chủ sở hữu.
Khả năng sinh lời vốn chủ thể hiện qua mối quan hệ giữa lợi nhuận của
doanh nghiệp với vốn chủ sở hữu, vốn thực có của doanh nghiệp
ROE = *100(%).
Chỉ tiêu này thể hiện 100 đồng vốn đầu tư của chủ sở hữu sẽ tạo ra bao nhiêu
đồng lợi nhuận cuối cùng, lợi nhuận sau thuế. Trong trường hợp doanh nghiệp huy
động vốn từ nhiều nguồn, chỉ tiêu này càng cao thì doanh nghiệp càng có có cơ hội
tìm kiếm được nguồn vốn mới thông qua thị trường tài chính. Ngược lại, tỷ suất này
càng thấp dưới mức sinh lời cần thiết của thị trường thì khả năng thu hút vốn chủ sở
hữu , khả năng đầu tư của doanh nghiệp càng khó .
2.Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời vốn chủ :
Để có thể thấy rõ được nguyên nhân tác động trực tiếp đến ROE cũng như
mức đọ ảnh hưởng của từng nhân tố đến khả năng sinh lời vốn chủ, ta sẽ xem xét
các nhân tố sau :
Dĩ nhiên ảnh hưởng trước tiên đến hiệu quả tài chính phải là hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
Lợi nhuận sau thuế
ROE =
Vốn chủ sở hữu bình quân
Lợi nhuận trước thuế Doanh thu thuần Tổng tài sản b/q
= * * * ( 1-T)
Doanh thu thuần Tổng tài sản b/q Vốn chủ sở hữu b/q
Trang 13
Lợi nhuận sau thuế
Vốn chủ sở hữu bình quân
1
= ROA * *(1-T)
đạt được của doanh nghiệp lớn hơn lãi vay phải trả thì việc tăng thêm hệ số nợ của
doanh nghiệp là cần thiết và rất có lợi cho doanh nghiệp(đây là trường hợp RE>i).
Vì sao vậy? Bởi vì doanh nghiệp chỉ phải chi ra một lượng vốn ít nhưng lại được
một lượng tài sản lớn; hơn nữa, sau khi trả lãi ở mức cố định, lợi nhuận sau thuế và
Trang 14
Tỷ suất Nợ
Nợ
VCSH
lãi vay để dành cho chủ sở hữu, vì vậy lợi ích của chủ sở hữu sẽ tăng lên đáng kể.
Ngược lại, trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả thì doanh lợi
vốn chủ sở hữu cũng bị sụt giảm nhanh chóng, lúc này doanh nghiệp không nên vay
thêm(đây là trường hợp RE<i). Vì việc vay thêm sẽ làm cho hiệu quả tài chính của
doanh nghiệp thấp hơn và lúc này doanh nghiệp đang gặp rủi ro trong kinh doanh
do phải sử dụng 1 phần lợi nhuận làm ra để bù đắp lãi vay mà doanh nghiệp phải
trả.
Vì lãi tiền vay chỉ phụ thuộc vào số tiền vay và lãi vay mà không phụ thuộc
vào sản lượng hoặc doanh thu của doanh nghiệp, do đó trong các doanh nghiệp có
hệ số nợ cao mức ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính sẽ rất lớn và ngược lại. Những
doanh nghiệp không vay nợ thì không có đòn bẩy tài chính. Nói một cách khác, một
sự biến động nhỏ của lợi nhuận trước thuế và lãi vay sẽ dẫn đến sự thay đổi lớn của
lợi nhuận vốn chủ sở hữu.
Còn trong trường hợp RE=i: hoạt động kinh tế chỉ bù đắp được chi phí hoạt
động tài chính. Khi đó, ROE= RE*(1-T).
Như vậy, cấu trúc tài chính ( ) đóng vai trò là đòn bẩy tài chính
đối với khả năng sinh lời vốn chủ. Doanh nghiệp nào vận dụng hợp lý, linh
hoạt sẽ phát huy được tác dụng của nó .
Trang 15
Nợ
VCSH
Nhận xét :
Công ty cổ phần thủy sản Đà Nẵng được thành lập từ rất sớm. Tuy nhiên
chức năng chính của Công ty đã thay đổi, từ chức năng khai thác thủy sản chuyển
sang chế biến xuất khẩu thủy sản. Vì vậy trong lĩnh vực chế biến xuất khẩu thủy sản
đối với Công ty còn mới mẻ, trong hoạt động thu mua có phần thuận lợi, tuy nhiên
hình ảnh của Cong ty chưa rõ nét từ khi chuyển sang cổ phần hóa, kết quả đạt được
qua các năm tăng nhanh.
Trang 16
TÌNH HÌNH CÔNG TY QUA MỘT SỐ CHỈ TIÊU 3 NĂM GẦN ĐÂY
Chỉ tiêu Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002
1.Giá trị tổng sản lượng. 22.444.355.000 41.585.926.000 48.270.680.000
-Giá trị ngoại tệ(USD) 1.674.333,39 1.880.067,42 2.298.042
2.Cá đông lạnh các
loại(tấn)
352 398 1099
3.Tôm đông lạnh các loại
(tấn)
86 94,5 107,49
4.Doanh số 25.046.069.000 48.999.602.000 51.696.442.000
5.Lợi nhuận trước thuế 261.406.000 251.860.000 288.595.000
6.Tổng số lao động
(người)
283 320 346
7.Thu nhập bình
quân(đồng)
500.000 566.007 675.000
2.Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Công ty:
2.1Chức năng:
-Kinh doanh xuất nhập khẩu và kinh doanh nội địa.
-Khai thác, thu mua hải sản.
ngoại tệ tại các ngân hàng trong nước. Được quyền phát huy nguồn vốn trong nhân
dân và các tổ chức nước ngoài nhằm mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh bằng
cách phát hành cổ phiếu.
II. Môi trường kinh doanh và chính sách phân phối sản phẩm của Công
ty:
1.Môi trường kinh doanh:
1.1Đặc điểm của nguyên liệu thủy sản:
Khác với các loại nguyên liệu khác, nguyên liệu thủy sản có nhiều đặc điểm
riêng. Đó là sau khi tách nguyên liệu thủy sản ra khỏi môi trường nước nó sẽ bị ngạt
và chết trong thời gian ngắn thậm chí bị ương thối nếu chúng ta không bảo quản tốt
sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm thủy sản. Vì vậy, khi chất lượng nguyên liệu
thủy sản không tốt thì chúng ta không có sản phẩm tốt được.
Độ tươi và kích cỡ nguyên liệu thủy sản là 2 chỉ tiêu chất lượng của nguyên
liệu thủy sản, khi nguyên liệu thủy sản có độ tươi tốt càng cao, càng cho phép sản
xuất ra các sản phẩm có giá trị kinh tế cao và giảm tỷ lệ phế phẩm. Tuy vậy dù
nguyên liệu thủy sản tươi tốt đến đâu mà kích cỡ nguyên liệu thủy sản không đáp
ứng yêu cầu của khách hàng thì cũng không thể sản xuất ra những sản phẩm có chất
lượng và giá trị kinh tế cao. Điều này đặc biệt quan trọng đối với sản phẩm xuất
khẩu.
Ngoài ra nguyên liệu thủy sản còn mang tính mùa vụ rõ rệt, làm ảnh hưởng
rất lớn đến quá trình sản xuất, quản lý lao động và chất lượng sản phẩm của Công
ty.
1.2Môi trường kinh tế:
Sau hơn 10 năm thực hiện đổi mới đất nước từng bước công nghiệp hóa,
hiện đại hóa và phát triển mạnh trong những năm gần đây. Tốc độ tăng trưởng kinh
Trang 18
tế khoảng từ 8-10%, tỷ lệ lạm phát qua các năm có xu hướng giảm, đến năm 2000
con số lạm phát chỉ còn ở mức 3-4%, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng.
Ngoài ra hoạt động liên doanh liên kết với các doanh nghiệp nước ngoài đã tạo điều
kiện cho Công ty có điều kiện tiếp xúc với các thị trường rộng lớn như Mỹ, Nhật,
có sản phẩm cung cấp cho khâu chế biến, đảm bảo được các hợp đồng đã ký kết,
Công ty còn tổ chức đánh bắt xa bờ, gần bờ. Với nguồn cung cấp này Công ty đã
hạn chế đi nhiều chi phí tư nhân cũng như hạn chế được những yêu sách của họ.
Trang 19
-Ngoài ra Công ty có thể mua từ ngư dân đấnh bắt cá, cách mua này giảm
bớt được chi phí cho Công ty vì gía rẻ, nhưng chủng loại không đồng đều, thời gian
thu mua không định rõ, do đó tỷ trọng chiếm ít nhất là 10%.
-Tỷ trọng thu mua còn lại là từ các nhà cung cấp ngoài tỉnh chiếm 10%,
nguồn này mua chỉ khi nào cá nguồn khác không cung cấp đủ thì mới thực hiện, vì
quá đắt.
1.5Khách hàng của Công ty :
Trong những năm qua do chất lượng sản phẩm của Công ty ngày càng có uy
tín trên thị trường nên ngoài các thị trường cũ như Hồng Kông, Trung Quốc. Công
ty đã có thêm các thị trường mới như : Đài Loan, Sigapore và Hàn Quốc; đặc biệt
Công ty đã mở rộng thị trường sang các nước có nền kinh tế phát triển như: Nhật,
Mỹ, Châu Âu. Ngoài ra, Công ty đang đứng trước sự cạnh tranh mạnh mẽ của các
nước trong khu vực như: Trung Quốc, Thái Lan… là những nước có ngành thủy sản
mạnh và hàng năm xuất khẩu một lượng lớn, thị phần và tài chính vững mạnh.
2.Chính sách phân phối sản phẩm của Công ty :
Hiện nay thị trường mục tiêu của Công ty là thị trường Châu Á và thị trường
Mỹ, ta tiến hành xem xét chính sách phân phối sản phẩm tại 2 thị trường này:
Kênh phân phối tại thị trường Châu Á:
*Kênh gián tiếp:
Kênh trực tiếp:
Hiện nay sản phẩ xuất khẩu của Công ty 70% là qua kênh gián tiếp, còn lại
kênh trực tiếp chiếm 30%. Tuy nhiên về lâu dài thì phải xuất khẩu trực tiếp bởi vì
kênh xuất khẩu trực tiếp có nhiều ưu điểm, vả lại qua quá trình kinh doanh trên thị
trường phần nào Công ty đã có kinh nghiệm và uy tín.
Kênh phân phối tại thị trường Mỹ:
Công ty quá ít.
Hiện nay Công ty có gần 40 loại sản phẩm khác nhau để đáp ứng đa dạng
nhu cầu của khách hàng với các mặt hàng chủ yếu sau:
CHỦNG LOẠI MỘT SỐ MẶT HÀNG CHỦ YẾU CỦA CÔNG TY
Mặt hàng cá
Cá đông lạnh
Cá khô
Cá nguyên con:cá thu, cá hố
Cá cắt khúc: cá cờ, cá lát
Cá phi lê : cá thu, cá da bò
Mặt hàng mực
Mực đông lạnh Mực phi lê
Mực lột da
Mực thẻ
Bạch tuộc
Mặt hàng tôm
Tôm đông lạnh
Tôm khô
Tôm nguyên con: tôm sú
Tôm càng xanh…
Mặt hàng ghẹ
Ghẹ đông lạnh
Mặt hàng ruốc
Ruốc khô
Mặt hàng khác
…
III. Cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh và quản lý tại Công ty:
1.Cơ cấu tổ chức sản xuất kinh doanh tại Công ty:
Đối với mỗi đơn vị sản xuất, cơ cấu tổ chức sản xúât hợp lý là một trong
những điều kiện quan trọng đem lại hiệu quả cho công tác quản lý sản xuất nói
nước
đá
PX
điện
PX
chế biến
hàng
đông
Bộ phận
phục vụ
sản xuất
Chức năng - nhiệm vụ của các bộ phận :
-Bộ phận sản xuất chính: chỉ có một phân xưởng chế biến hàng đông lạnh.
Nhiệm vụ của phân xưởng này là chế biến các mặt hàng đông lạnh dạng block, phục
vụ cho xuất khẩu và tiêu dùng nội địa.
-Bộ phận sản xuất phụ trợ: có tác dụng phục vụ trực tiếp cho bộ phận sản
xuất chính, đảm bảo cho bộ phận này được được tiến hành liên tục và đều đặn.
+Phân xưởng sản xuất nước đá : có nhiệm vụ sản xuất nước đá cung cấp cho
phân xưởng chế biến hàng đông, ngoài ra còn cung cấp một lượng dư thừa ra bên
ngoài.
+Phân xưởng điện: có nhiệm vụ đảm bảo lắp đặt, quản lý, vận hành các loại
thiết bị máy móc, chủ động nguồn điện và điện lạnh cho quá trình sản xuất của
Công ty.
+Bộ phận KCS: có chức năng kiểm tra chất lượng sản phẩm trong quá trình
sản xuất và sau khi hoàn thành, chịu trách nhiệm về vệ sinh sản phẩm sau khi xuất
xưởng.
-Bộ phận phục vụ sản xuất : Đảm bảo việc cung ứng, cấp phát, vận chuyển
nguyên vật liệu, nhiên liệu, bán thành phẩm, kho thành phẩm và lực lượng vận
chuyển.
Giữa các bộ phận sản xuất có mối quan hệ mật thiết với nhau, gắn bó với
thu
mua
Trạm
kinh
doanh
hải
sản
PX
chế
biến
PX
cơ
khí
PX
đóng
sửa
tàu
thuyền
Trạm
xăng
dầu
-Hội đồng quản trị: là tổ chức đã thành lập ra Công ty, đề ra phương hướng
sản xuất kinh doanh và điều hành Công ty trong quá trình sản xuất.
-Ban giám đốc gồm:
+Giám đốc: là người đại diện cho Nhà nước và toàn Công ty, có trách nhiệm
quản lý và điều hành mọi hoạt động của Công ty. Là người có toàn quyền quyết
định các hợp đồng sản xuất kinh doanh, đồng thời chịu trách nhiệm trước hội đồng
quant trị và tập thể cán bộ công nhân viên về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của Công ty.
+Phó giám đốc nội chính : phụ trách lĩnh vực kinh doanh, quản lý chỉ đạo và
Mọi công tác kế toán đều tập trung ở phòng kế toán.Các xí nghiệp chỉ có
nhiệm vụ ghi chép tổng hợp về nguyên vật liệu đưa vào sản xuất, tính ngày công…
và định kỳ chuyển số liệu đó lên phòng kế toán để làm căn cứ ghi sổ. Mô hình này
đảm bảo sự thống nhất đối với công tác kế toán, giúp cho việc xử lý thông tin một
cách kịp thời cũng như bộ máy kế toán được gọn nhẹ.
Dưới đây là mô hình tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty.
Sơ đồ tổ chức bộ máy kế tóan:
Chú thích:
: quan hệ trực tuyến
: quan hệ chức năng
Chức năng, nhiệm vụ của từng nhân viên kế toán :
-Kế tóan trưởng: có nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán tại Công ty, chịu
trách nhiệm trước Công ty về toàn bộ công tác hạch toán kế toán, đồng thời điều
hành chung hoạt động của phòng.
-Thủ quỹ: có nhiệm vụ thu chi, bảo quản tiền mặt, kiểm kê và lập báo cáo
quỹ hàng ngày.
-Kế toán thanh toán, tiêu thụ, tiền lương và BHXH: có nhiệm vụ lập các
chứng từ thu chi tiền mặt, tiền gửi, kiểm tra báo quỹ hàng ngày; theo dõi tình hình
tiêu thụ sản phẩm và thanh toán lương cho cán bộ quản lý doanh nghiệp. Mặt khác
còn theo dõi các khoản khách hàng còn thiếu nợ và tìm cách thu hồi sớm nhằm
quay nhanh vòng vốn, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
-Kế toán trưởng xí nghiệp: thực hiện hạch toán tại xí nghiệp dưới sự chỉ đạo
và kiểm tra của kế toán trưởng Công ty.
Trang 25
KẾ TOÁN TRƯỞNG
THỦ QUỸ KẾ TOÁN THANH
TOÁN, TIÊU THỤ,TIỀN
LƯƠNG,BHXH
KẾ TOÁN TRƯỞNG