PHẤN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Phát triển nông thôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển
của các nước đang phát triển, nhất là Việt Nam. Một nước có gần 80% dân số sống ở
các vùng nông thôn và sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Tuy nhiên nông nghiệp
nước ta là một nền nông nghiệp lạc hậu, đời sống ở nông thôn còn gặp nhiều khó
khăn. Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và chính
sách nhằm phát triển các vùng nông thôn và xoá đói giảm nghèo cho người dân nông
thôn. Các dự án được đầu tư bởi Nhà nước và các tổ chức quốc tế đang được triển
khai ngày càng nhiều ở các vùng nông thôn và bước đầu đã thu được những thành
công đáng kể.
Muốn thực hiện việc sản xuất có hiệu quả kinh tế cao thì chúng ta cần phải áp
dụng các kỹ thuật tiến bộ. Việc sử dụng giống mới, quy trình sản xuất, kỷ thuật mới
thì cần phải nắm vững những đặc trưng nông học, sinh lý, sinh thái học… Của chúng
cũng như điều kiện sống, trình độ dân trí, phong tục tập quán của nông dân ở từng
đại phương. Do đó, việc xây dựng mô hình trình diễn là rất quan trọng.
Dự án phân cấp giảm nghèo tỉnh Quảng Bình là một dự án phát triển nông thôn
tổng hợp, được thực hiện theo hiệp định vay vốn được ký kết ngày 15 tháng 02 năm
2005 giữa quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế ( IFAD) và Chính phủ nước Cộng hoà
xã hội chủ nghĩa việt nam. Mục tiêu của dự án là cải thiện, thu nhập nâng cao mức
sống của những hộ nghèo nông thôn Quảng Bình và tăng cường khả năng tham dự
của họ vào quá trình phát triển. Những lợi ích kèm theo là cải thiện an ninh lương
thực và giảm sự cách biệt cũng như tăng khả năng tiếp cận thị trường của những
người ở cùng đường sá xa xôi.
Mục đích của việc phân cấp là tăng cường sự tham gia của người hưởng lợi
trong quá trình lựa chọn quyết định và thực hiện quá trình đầu tư, nâng cao trách
nhiệm của họ đối với sự phân cấp, nhằm huy động tối đa nguồn lực và quản lý tốt
nguồn vốn đầu tư trong quá trình xoá đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới
trên địa bàn.
Dương Thuỷ là một xã nghèo của Huyện Lệ Thuỷ, một xã vùng trung du thuần
2.1. Cơ sở khoa học của việc xây dựng mô hình trình diễn.
* Khái niệm về mô hình
Trong thực tế để khái quát hoá các sự vật và hiện tượng các quá trình hay một ý
tưởng nào đó. Người ta thường thể hiện dưới dạng mô hình. Có nhiều loại mô hình
khác nhau mỗi loại mô hình chỉ đặc trưng cho một điều kiện sinh thái hay sản xuất
nhất định nên không thể có mô hình chung cho tất cả các điều kiện sản xuất khác
nhau.
Theo quan niệm của nhiều cơ quan chuyển giao, mô hình trình diễn kỹ thuật cần
có các điều kiện sau:
+ Là hình mẫu tối ưu cho một giải pháp sản xuất.
+ Phải có tính đại diện cho vùng điều kiện tương tự.
+ Phải ứng dụng được các KTTB vào sản xuất.
+ Phải có tính hiệu quả về: kinh tế, xã hộ và môi trường [3]
* Mục tiêu của mô hình trình diễn( MHTD)
Thông qua MH có thể quảng bá quy trình kỹ thuật mới để mọi người biết làm
theo nhằm nhân rộng kỹ thuật mới ra sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế nông hộ.
Kết quả mong đợi cho một MHTD là phưuơng pháp và quy trình kỹ thuật được
thử nghiệm tại môi trường nông dân và nông dân chấp nhận các tiến bộ của mô hình
được giới thiệu.
* Người hưởng lợi trong chuyển giao KTTB trong việc xây dựng mô hình.
Theo quan niệm truyền thống, người hưởng lợi trong chuyển giao là nông dân
nói chung, những người trực tiếp áp dụng các KTTB mà cơ quan chuyển giao mang
lại. Nông dân là người hưởng trực tiếp các kết quả KTTB được chuyển giao. Họ là
người tiếp thu, ứng dụng KTTB vào sản xuất và đời sống của họ. Tuy nhiên, nông
dân rất khác nhau về hoàn cảnh kinh tế, trình độ, đặc điểm văn hoá, xã hội và rất
khác nhau về ứng xử khi tiếp thu cái mới.
Bên cạnh nhóm nhận kết quả chuyển giao KTTB là nông dân, nhóm hưởng lợi
trong việc xây dựng MH còn bao gồm các tổ chức, các cá nhân tham gia thực hiện
xây dựng MH. Đó là các cơ quan nghiên cứu và khuyến nông, khuyến lâm, các tổ
chức phát triển, các cơ quan nghiên cứu là người hưởng lợi vì kết quả nghiên cứu
ngay tại địa phương để nâng cao nhận thức của nông dân khác. Cán bộ khuyến nông
cần phải biết tranh thủ năng lực và sự giúp đỡ của nhóm này.
- Nhóm nông dân áp dụng sớm: Nhóm này thường ít mạo hiểm và rất thận trọng
4
trong mọi vấn đề. Họ muốn phải tận mắt chứng kiến xem tiến bộ kỹ thuật đó có
thành công trong những điều kiện của địa phương hay không rời mới quyết định. Họ
sớm quan tâm đến kỹ thuật mới nhưng phải chắc chắn thành công họ mới làm theo.
- Nhóm nông dân còn lại: Nhóm nông dân này chiếm phần đông và thường áp
dụng TBKT một cách chậm chạp, miễn cưỡng, có thể là do thiếu các nguồn lực cần
thiết nhưng cũng có những người do không biết cách làm ăn hoặc lười biếng và bảo
thủ.
Vì vậy để thuyết phục nông dân áp dụng một TBKHKT vào sản xuất, cơ quan
khuyến nông cần xây dựng mô hình trình diễn tại địa phương để chứng minh cho
nông dân thấy tận mắt kết quả của kỹ thuật đó.[4]
* Cơ sở khoa học
Nông nghiệp là một hệ thống sản xuất ngoài trời, có địa bàn hoạt động rộng lớn
và nhạy cảm. Đối tượng của sản xuất nông ngư nghiệp là những cơ thể sống chúng
chịu ảnh hưởng lớn bởi các điều kiện ngoại cảnh: đất đai, khí hậu, thời tiết
Ngay bản thân các tiến bộ KHKT đã mang tính hiệu quả nhưng chỉ đạt hiệu quả
cao khi được ứng dụng trong điều kiện thích hợp.
Mỗi giống cây trồng chỉ thích hợp với mỗi một điều kiện sinh thái nhất định. Vì
vậy có những giống cây trồng được xem là phát triển tốt và rất hiệu quả ở địa
phương này nhưng chưa chắc đã có năng suất cao ở địa phương khác.
* Sự cần thiết phải xây dựng các MHTD
Để giúp cho người dân phát triển sản xuất và xóa đói giảm nghèo, việc xây dựng
các mô hình sản xuất là rất cần thiết vì các lý do sau đây:
- Thực tế đã khẳng định, muốn làm giàu trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp
thì không thể sản xuất theo kiểu quảng canh, tự cấp, tự túc mà phải áp dụng các
KTTB, thâm canh tăng năng suất và tiến đến sản xuất theo kiểu hướng hàng hoá.
- Để đáp ứng yêu cầu của việc chuyển đổi phương thức canh tác nhằm phù hợp
- Giám sát có sự tham gia: Là một tiến trình có tính hệ thống được thực hiện
trong giai đoạn thực thi chương trình hoặc dự án với mục đích cung cấp thông tin
cho quá trình.
+ Tư vấn ra quyết định, đặc biệt là trong từng giai đoạn nhỏ, nó giúp cho việc
nâng cao hiệu quả của các dự án.
+ Bảo đảm việc giải trình cho tất cả các bên, các cấp của dự án từ cộng đồng địa
phương cho đến nhà tài trợ, đặc biệt là trong các vấn đề tài chính.
+ Đánh giá, nhận xét về vai trò cá nhân hoặc của các tổ chức thực thi dự án.
+ Mục đích của giám sát và đánh giá có sự tham gia.
6
+ Gắn bó quyền lợi của cộng đồng, các hộ gia đình đối với các hoạt động của dự
án.
+ Góp phần giúp cho việc thực thi các mô hình, hay hoạt động dự án có hiệu quả
hơn.
=> Khái niệm về đánh giá dự án.
- Đánh giá dự án là quá trình xem xét một cách khách quan, khoa học, toàn diện
những hoạt động và toàn bộ dự án nhằm đưa ra những quyết định kịp thời để đạt
được mục tiêu dự án.
- Giám sát và đánh giá có sự tham gia của người dân đều có cùng mục tiêu:
+ Đó là những công cụ để các bên có khả năng cải thiện hiệu quả và hiệu suất
của họ.
+ Đó cũng là một quá trình đào tạo mà trong quá trình đó những người tham gia
tăng khả năng hiểu biết và nhận thức của họ về tính đa dạng của các yếu tố và tác
động ảnh hưởng của chúng.
+ Quá trình đó cũng tăng khả năng kiểm soát của họ đối với quá trình phát triển.
Đồng thời đánh giá sự tiến bộ của họ, đánh giá học tập từ những thiếu sót đã qua [6]
* Các nhân tố quyết định thành công trong việc xây dựng mô hình trình diễn.
Từ thực tiển nước ta đã chỉ ra 6 nhóm nhân tố cơ bản sau đây quyết định tới sự
thành công của công tác chuyển giao.
Thứ nhất: Chính sách của Chính phủ
Thứ sáu: Là đặc điểm cộng đồng mà mô hình được xây dựng.
Cấu trúc làng xã, học tộc, phân bố dân cư, sự gần các đường giao thông và sự
tiện lợi thị trường cũng ảnh hưởng lớn tới kết quả của quá trình chuyển giao KTTB
tới nông dân [2]
2.2. Tình hình xây dựng mô hình của khuyến nông trung ương và các địa
phương. [5]
Từ khi thành lập cho đến nay hoạt động khuyến nông của Nước ta luôn đạt
được. Những bước phát triển quan trọng góp phần to lớn vào sự nghiệp phát triển
nông nghiệp và nông thôn. Trong các hoạt động khuyến nông được triển khai thì
hoạt động xây dựng mô hình luôn được xem là phương pháp chuyển giao TBKT rất
quan trọng. Thông qua xây dựng MHTD , hướng dẫn nông dân sản xuất và áp dụng
KTTB vào sản xuất, từng bước chuyển từ sản xuất tự túc, tự cấp sang nền nông
nghiệp hàng hoá đa dạng và có hiệu quả, hướng mạnh xuất khẩu, phát triển ngành
nghề nông thôn mới, tăng thu nhập, xoá đói giảm nghèo. Công tác xây dựng MH
trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả chủ yếu sau: Đã đáp ứng được nhu
8
cầu chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, tạo được lòng tin và hưởng ứng của nông dân,
đã thực hiện được chuyển giao KTTB tới nông dân theo các chương trình khuyến
nông có hiệu quả, đặc biệt trên lĩnh vực giống cây trồng, vật nuôi có ưu thế lai, các
kỹ thuật áp dụng thành công trong nông nghiệp. Sau đây là một số kết quả đạt được.
* Chương trình khuyến nông cây trồng nông nghiệp.
Khuyến nông cây trồng nông nghiệp đã tập trung vào các chương trình khuyến
nông trọng điểm được Chính phủ phê duyệt và đáp ứng nhu cầu của người dân.
Nhiều tiến bộ kỹ thuật được chuyển tải tới nông dân và được áp dụng rộng rãi vào
sản xuất thông qua xây dựng các MHTD.
=> Chương trình khuyến nông sản xuất hạt giống lúa lai.
Đã áp dụng thành công quy trình sản xuất hạt giống F1 của thế giới cho một số
tổ hợp lai. Nhị ưu 838, nhị ưu 63, bác ưu 64, Dưu 577 , đạt mục tiêu đề ra. Đồng
thời tiết kiệm cho Nhà nước hàng chục tỷ đồng.
Chương trình được hỗ trợ 278,385 tỷ đồng. Triển khai ở 26 tỉnh, thu hút trên
nước chỉ bằng 50% so với giá nhập nội, góp phần tiết kiệm đươc 20 triệu đồng nhập
giống hàng năm.
=> Chương trình khuyến nông phát triển cây công nghiệp dài ngày ( tiêu, điều,
cà phê, chè, cao su )
Chương trình được triển khai trên nhiều tỉnh nhất là vùng Tây nguyên và trung
du, miền núi phía Bắc, thu hút trên 2.000 hộ nông dân tham gia trên tổng diện tích
MH 10.031 ha. Kết quả đã góp phần mở rộng diện tích theo quy hoạch và cung cấp
nguyên liệu cho cơ sở chế biến tham gia công tác xuất khẩu.
Ngoài ra các chương trình cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả đã góp phần
tăng xuất khẩu rau quả vùng Đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng
Đặc biệt là làm đa dạng hoá cây trồng, phong phú nông sản ở vùng đồng bằng sông
Hồng và nhiều vùng khác, góp phần tăng thu nhập cho nông dân và phát triển sản
xuất nông nghiệp hàng hoá.
Chương trình KN trồng trọt đã góp phần phát huy sáng tạo, năng động về sử
dụng những giống cây lương thực mới chất lượng cao, những giống có ưu thế lai
phục vụ chiến lược phát triển sản xuất, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia và
nông sản hàng hoá xuất khẩu. Với cây công nghiệp, cây ăn quả đã xây dựng được
những vườn giống cây đầu dòng, từ những vườn cây này cung cấp thực liệu nhân
giống. Mỗi năm sản xuất được hàng triệu cây giống chất lượng cao phục vụ sản xuất.
Thông qua chương trình đã ứng dụng và nhân rộng thành công công nghệ nhân
giống tiên tiến. Nhiều cơ sở đã trở thành địa chỉ đáng tin cậy cung cấp giống tốt cho
10
sản xuất.
* Chương trình khuyến lâm
=> Chương trình trồng tra lấy măng
Chương trình đã triển khai ở 38 tỉnh thành trong cả nước, xây dựng nhiều mô
hình với trên 1.364 ha gồm các loại: Bát độ, Điền Trúc, Lục Trúc, Mạnh Tông
Năng suất bình quõn đạt 15 – 20 tấn măng tươi/ha. Đa số hộ trồng tre có thu nhập từ
sản xuất giống trong đoạn đầu.
=> Chương trình trồng cây nguyên liệu giấy
Pháp dòng R51, R71 ) Chương trình giúp nâng tỷ lệ nuôi sống và tốc độ tăng trọng
của gia cầm, cung cấp con giống tại chỗ cho các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xã,
tạo thêm việc làm và tăng thu nhập cho bà con nông dân. Qua thực tế cho thấy nuôi
100 con gà, vịt, ngan giống mới có thu lãi 0,3 – 0,5 triệu đồng sau 2- 3 tháng chăn
nuôi thậm chí có những hộ lãi từ 0,9 – 1,0 triệu đồng. Nhưng hiện nay do dịch cúm
gia cầm nên đã làm cho đàn gia cầm giảm mạnh.
Chương trình khuyến nông chăn nuôi đã góp phần nâng cao trình độ dân trí,
trình độ kỹ thuật, đưa ngành chăn nuôi từ manh múm lên sản xuất hàng hoá tập trung
có hiệu quả kinh tế và tính cạnh tranh cao, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân, nhất là nông dân ở các tỉnh khó
khăn, tỉnh miền núi.
=> Trình diễn mô hình thử nghiệm phòng chống bệnh vàng lùn – lùn xoắn
lá ( VL – LXL)[1]
Vụ Hè thu năm 2006 vừa qua, nông dân toàn vùng Đông bằng SCL điêu đứng vì
bệnh VL – LXL do rầy nâu nhiễm bệnh lan truyền cho lúa. Thiệt hại tới hàng ngàn
tỷ đồng khiến người dân hoang mang lo lắng. Đứng trước tình hình đó viện BVTV
đã xây dựng một mô hình ( 78,5 ha) phòng chống bệnh VL – LXL khiến người dân
càng tin tưởng hơn và tìm đến nhà tư vấn kỹ thuật qua khảo sát toàn mô hình trong
mô hỉnh thử nghiệm này, năng suất lúa bình quân đạt từ 9,1 – 9,75 tấn/ha( so với
năng suất công của mô hình phòng chống bệnh VL – LXL của viên BVTV đã tiến
hành ở Long An cũng như Bến Tre hay nhiều nơi khác đã đem lại niềm phấn khởi
bước đầu cho nông dân vùng ĐBSCL trong vụ Đông – Xuân này.
* Một số vấn đề còn tồn tại trong việc áp dụng phương pháp mô hình trình
diễn.[2]
Mô hình được xem là phương pháp chủ đạo, nhưng cho đến nay công tác
chuyển giao KTTB đã chưa thành công trong một số mô hình như: Mô hình chăn
nuôi bò sữa, mô hình trồng cây phi lao chắn sóng, mô hình nuôi lợn nái ngoại ở
12
Quảng Ninh, mô hình dưa hấu không hạt Kim Vương Tử, Lê chịu nhiệt Tứ Xuyên,
khoại sọ Lệ Phố ở Phú Thọ, mô hình nông lâm kết hợp, cải dầu, cà phê ở Hà Giang,
13
mô hình. Tuy nhiên, tính nhân rộng cho các nông dân nghèo bị hạn chế. Các dự án
quốc tế như AVV đã lựa chọn nông dân nghèo làm mô hình. Họ thường không đủ
các điều kiện để thoả mãn các yêu cầu của mô hình, hạn chế về kiến thức nên khi rủi
ro cao. Mô hình dể thất bại.
- Một số nơi mô hình đã thành công nhưng không nhân rộng được vì những lý
do hình thức chủ nghĩa và phô trương.
2.3. Phương pháp tiếp cận trong công tác xây dựng mô hình trình diễn.
* Phương pháp tiếp cận khuyến nông qua các chương trình dự án.
Phương pháp tiếp cận chuyển giao KTTB thông qua hình thành các dự án phát
triển nông nghiệp hay dự án khuyến nông từ cơ sở( gọi tắt là phương pháp khuyến
nông theo dự án). Theo phương pháp tiếp cận này, hoạt động xây dựng mô hình
được thực hiện theo các chương trình dự án. Hiện nay ở tỉnh có nhiều dự án phát
triển như dự án bảo tồn và phát triển tài nguyên nông nghiệp Quảng Bình ( ARCD),
dự án phân cấp giảm nghèo do Quỹ phát triển nông nghiệp quốc tế ( IFAD) tài trợ.
Nhìn chung, các dự án này áp dụng phương pháp chuyển giao công nghệ có sự tham
gia của người dân. Các tổ chức cơ sở để xây dựng MHTD chuyển giao KTTB Dự
án đã đầu tư đáng kể kinh phí cho cán bộ và nông dân tiếp cận với cách chuyển giao
mới là đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân ( PRA), đánh giá có sự
tham gia, tập huấn có sự tham gia.
Phương pháp tiếp cận này xuất phát từ nhu cầu của người dân thông qua đánh
giá nông thôn có sự tham gia của dân ( PRA). Theo phương pháp này, việc xây dựng
MHTD để chuyển giao KTTB tới nông dân phải dựa vào kết quả của dân đánh giá
tình hình nông nghiệp và nông thôn, dân xác định nhu cầu và khó khăn của họ, cán
bộ khuyến nông cùng dân phân tích khó khăn và lựa chọn giải pháp để giúp dân vượt
qua khó khăn đó.
Phương pháp này còn được gọi là phương pháp khuyến nông có sự tham gia,
phát huy sự tham gia của người dân, người dân làm chủ các hoạt động khuyến nông,
đảm bảo việc học đi đôi với hành và họ có thể thực hiện ngay trên chính đồng ruộng
của mình. Phương pháp này được dựa theo nguyên tắc người dân tự học tập tốt nhất
- Báo cáo định kỳ của cán bộ cộng đồng.
- Các báo cáo về tiến độ thực hiện mô hình của khuyến nông.
Các thông tin này giúp cho đề tài có cơ sở để đánh giá tiến trình xây dựng mô
hình trình diễn và cơ sở khoa học, lý luận cho việc xây dựng mô hình trình diễn.
3.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp.
* Phương pháp thu thập số liệu bằng phiếu điều tra. Để thu thập được tình hình
thực hiện mô hình bao gồm đội ngủ cán bộ thực hiện mô hình, tình hình xây dựng
mô hình, các kết quả đạt được và những tồn tại trong quá trình thực hiện mô hình.
Mục đích của cuộc điều tra là để tìm hiểu việc triển khai các mô hình trình diễn ở
các hộ gia đình và thu thập thông tin ở các hộ tham gia học tập và không tham gia
mô hình để kiểm tra các thông tin được cung cấp bởi cán bộ dự án và cán bộ khuyến
nông với các thông tin được cung cấp bởi nông dân ( 24 hộ tham gia mô hình, 10 hộ
không tham gia mô hình )
Cuộc điều tra được thực hiện đối với 34 hộ được lựa chọn thông qua phương
pháp chọn ngẩu nhiên phân tầng ở tất cả các thôn của xã, bao gồm cả hộ tham gia
mô hình, hộ học hỏi từ mô hình và hộ không tham gia mô hình và không học hỏi từ
mô hình.
* Đánh giá có sự tham gia của dân ( PRA): Những người dân sống trong cộng
đồng cũng được tham gia vào đánh giá quá trình thực hiện mô hình. Thông qua các
công cụ đánh giá nhanh nông thôn ( RRA), PRA, cộng đồng nông dân được khuyến
khích đánh giá về tình hình kinh tế, xã hội, tình hình tiếp thu và các nhân tố ảnh
hưởng tới tiếp thu, thuận lợi khó khăn, mong muốn trong việc thực hiện mô hình
16
trình diễn.
3.3. Nội dung nghiên cứu.
- Nghiên cứu về tình hình cơ bản của địa phương.
- Hoạt động xây dựng mô hình trình diễn của trạm khuyến nông Huyện.
- Tìm hiểu nội dung, mục tiêu, hoạt động của dự án tại địa phưong.
- Đánh giá tiến trình thực hiện các mô hình của dự án tại đại phương.
3.4 Các chỉ tiêu nghiên cứu.
khai kế hoạch các mô hình của dự án mà xã đang thực hiện, cách thức tiến hành thực
hiện mô hình.
+ Các tiến trình thực hiện mô hình: Xác định nhu cầu của người dân, đánh giá
các điều kiện kinh tế xã hội của địa phương và điều kiện sản xuất của hộ, lựa chọn
mô hình phù hợp, lựa chọn thời gian và cách thức triển khai, lựa chọn hộ nông dân
tham gia mô hình, địa điểm thực hiện mô hình, triển khai mô hình và giám sát.
- Hiệu quả của các hoạt động, xây dựng mô hình trình diễn. Đánh giá được
những thành công của mô hình và những điểm cần rút kinh nghiệm, khả năng nhân
rộng của mô hình.
+ Hiệu quả kinh tế của mô hình: Nâng cao về năng suất, sản lượng, thu nhập,
giải quyết công ăn việc làm cho người dân.
+ Hiệu quả khuyến nông của mô hình: Số lượng người ứng dụng thành công và
được hưởng lợi từ dự án, nâng cao trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, thay đổi
phưưong thức canh tác cho người dân.
- Phương pháp khuyến nông được áp dụng trong việc xây dựng mô hình trình
diễn là phương pháp gì.
- Điểm mạnh, điểm yếu và giải pháp nâng cao hiệu quả của việc xây dựng mô
hình trình diễn của dự án.
18
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.11.1. Vị trí địa lý
Xã Dương Thuỷ nằm ở phía Nam trung tâm huyện Lệ Thuỷ, tổng diện tích tự
nhiên 930.00 ha. Địa giới hành chính của xã như sau:
- Phía Bắc giáp xã Cam Thuỷ
- Phía Nam giáp xã Thái Thuỷ
- Phía Đông giáp xã Tân Thuỷ
- Phía Tây giáp xã Mỹ Thuỷ
4.1.2.1. Tài nguyên đất
Dương Thuỷ thuộc xã bán sơn địa của huyện Lệ Thuỷ, có tổng diện tích tự
nhiên là 930.00 ha. Căn cứ nguồn gốc phát sinh tài nguyên đất của xã, đãnh giá đặc
tính thổ nhương như sau:
Đất phù sa ven sông suối (Pc), đất xám kết von ít glây.
Đất xám Feralit (Xf), đất xám mùn trên núi(Xu) diện tích phân bố phía Đông
Nam của xã.
Bảng 1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Dương Thủy năm 2006
TT Chỉ tiêu Diện tích Cơ cấu
Tổng diện tích tự nhiên 930,000 100,00
1 Đất nông nghiệp 735,52 79,09
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 594,14 63,89
1.1.1 Đất trồng cây hàng năm 405,36 43,59
1.1.2 Đất trồng cây lâu năm 188,78 20,30
1.2 Đất lâm nghiệp 136,80 14,71
1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 4,58 0,49
2 Đất phi nông nghiệp 137,89 14,83
2.1 Đất ở 18,87 2,03
2.2 Đất chuyên dùng 70,49 7,58
3 Đất chưa sử dụng 56,59 6,08
(Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hôi của xã Dương Thủy )
20
41.2.2. Tài nguyên nước
Xã Dương Thuỷ có hệ thống sông Quy Hậu, hiện đang tưới cho một số diện tích
đất 2 vụ của xã.
Nước ngầm phân vố không đều mức độ nông sâu thay đổi phụ thuộc vào địa
hình và lượng mưa. Vùng đồng bằng ven biển có mực nước ngầm nông và dồi dào,
vùng đồi núi mực nước ngầm sâu và dễ bị cạn kiệt vào mùa khô.
Chất lượng nước nhìn chung khá tốt thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của
1 số cây trồng cũng như sinh hoạt của nhân dân trữ lượng không nhiều.
nghiệp đi lên công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.
4.1.4. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội
4.1.4.1. Tăng trưởng kinh tế
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của cả vùng, nền kinh tế xã
Dương Thuỷ đã có những bước tăng trưởng khá, các hoạt động sản xuất tiểu thủ
công nghiệp, thương mại, ngành nghề dịch vụ phát triển tương đối nhanh cùng với
sự phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm liên tục tăng, trong giai đoạn 2000 - 2006,
tốc độ tăng trưởng kinh tế khoảng 8.5%. Bình quân thu nhập trên đầu người đạt 2.5
triệu đồng, đây là kết quả chưa cao so với điều kiện của xã.
Để đạt được thành tựu trên là do đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước, đã
được Đảng uỷ và UBND xã Dương Thuỷ áp dụng triệt để, đổi mới theo cơ cấu thị
trường có sự quản lý của Nhà nước. Kết quả về phát triển kinh tế trong những năm
qua cho thấy: số hộ khá và giàu ngày càng tăng. Ngược lại hiện nay số hộ đói vẫn
còn khá cao là 23.00% năm 2006 (theo tiêu chí mới).
Trong quá trình đổi mới nền kinh tế, đã xuất hiện nhiều hộ gia đình làm kinh tế
giỏi, có thu nhập cao, 25 - 30 triệu đồng/năm.
4.1.4.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế Dương Thuỷ thuộc loại hình kinh tế truyền thống chủ yếu là nông
lâm nghiệp. Những năm qua, cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch tích cực, nhóm
ngành nông lâm nghiệp giảm tỷ trọng tương đối trong khi các nhóm ngành công
nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ ngày càng tăng lên. Tuy nhiên,
do một số điều kiện hạn chế nên tốc độ chuyển dịch chưa cao. Năm 2002 tỷ trọng
ngành nông nghiệp chiếm 75.7% tổng thu nhập toàn xã, đến năm 2006 giảm còn
72.6%, tỷ trọng công nghiệp – TTCN là 12.20%, dịch vụ thương mại đạt 15.20%.
(Chi tiết xem thêm bảng 1 phần phụ lục )
22
4.1.4.3. Thực trạng phát triển kinh tế
4.1.43.1. Khu vực kinh tế nông nghiệp
Đây là ngành sản xuất chính của xã, chiếm tới 72.6% cơ cấu kinh tế toàn xã. Cụ
nhiên do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm nên số lượng nuôi có giảm so với một số
năm trước, khoảng 10% về số lượng và 15% về thu nhập.
Về thủy sản hàng năm vẫn thu hoạch được khoảng 35 tấn cá, tôm các loại.
(Chi tiết xem bảng 3 phần phụ lục)
4.1.4.3.2. Khu vực kinh tế công nghiệp
Do đặc thù của xã nên sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mới đang phát
triển, chủ yếu là ngành nghề tiểu thủ công nghiệp tranh thủ thời gian nông nhàn.
Ngoài ra còn có một số cơ sở hoạt động như nghề cơ khí, mộc dân dụng, may mặc,
sửa chữa điện gia đình, vận tải Phục vụ tại chỗ cho nhân dân địa phương.
Nhìn chung, giá trị sản xuất hàng hóa của ngành công nghiệp - TTCN chưa cao.
4.1.4.3.3. Khu vực kinh tế dịch vụ
Về hoạt động thương mại dịch vụ bắt đầu có chiều hướng phát triển, số hộ hoạt
động kinh doanh buôn bán nhỏ ước khoảng trên 150 hộ, nhiều hộ đã có số vốn kinh
doanh lên tới hàng trăm triệu đồng. Tuy nhiên trên địa bàn xã mới chỉ có các cơ sở
dịch vụ chủ yếu hoạt động buôn bán nhỏ phục vụ cho sản xuất và đời sống hàng
ngày của người dân như nhu yếu phẩm, hàng tiêu dùng, các mặt hàng phục vụ sản
xuất (phân bón, thức ăn gia súc, gia cầm ).
Tóm lại, trong những năm qua, nền kinh tế Dương Thuỷ có chiều hướng đi lên
rõ rệt, bắt đầu phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá,nguồn thu nhập của nhân dân
có sự chuyển biến tích cực. Nhờ có sự phát triển mạnh từ kinh tế hộ, do đó kinh tế
của nhân dân ở đây đã được cải thiện. Đây là một vấn đề cần được phát huy trong
chiến lược phát triển sắp tới.
Trong những năm tới cần chuyển dịch mạnh về cơ cấu giữa các ngành, gắn với
thị trường, áp dụng những tiến bộ khoa học công nghệ, đặc biệt là phát triển ngành
nuôi trồng thuỷ sản để tạo hàng hoá. Mở rộng thị trường buôn bán hàng hoá nông -
thuỷ sản. Tăng tỷ trọng của 2 ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương
mại - dịch vụ, có như vậy mới phát triển mạnh và khai thác đầy đủ thế mạnh của xã.
4.1.5 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập
4.1.5.1. Dân số
Theo số liệu thống kê năm 2006, dân số xã Dương Thuỷ là 4550 khẩu, 944 hộ,
hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Vì vậy cần có quy hoạch và mở rộng hợp
lý tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế xã hội toàn diện, thay đổi bộ mặt khu dân
cư, xây dựng nông thôn mới.
25