Xây Dựng Mô Hình Kinh Tế Nông Nghiệp: Trường Hợp Xã
Nhơn Nghĩa-Huyện Phong Điền-Thành Phố Cần Thơ
1. Giới thiệu
Để có được một nông thôn mới hoàn thiện nhiều mặt, việc sắp xếp lại và củng cố
hiệu quả mô hình kinh tế nông nghiệp là điều không thể thiếu được trong vùng nông
thôn, ở đó xã Nhơn Nghĩa là một điển hình không ngoại lệ trong nghiên cứu. Người
dân trong vùng đa phần sống bằng nghề nông, trong đó chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Cũng theo Pắc Chung Hy tổng thống Hàn Quốc, một
nông thôn mới ở đó phải thể hiện năng suất cây trồng cần được nâng cao, có vùng
chuyên canh để đảm bảo hoạt động sản xuất và đời sống, đồng thời cần xây dựng
mô hình phát triển chăn nuôi, cây trồng đa canh hợp lý và phải xây dựng được hợp
tác sản xuất cùng với việc tiêu thụ sản phẩm hiệu quả đảm bảo đầu ra của người
nông dân.
Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam đang ở vào cao trào rất lớn của giai đoạn hội
nhập kinh tế thế giới từ Trung Ương đến địa phương, do vậy việc xây dựng một
nông thôn mới là điều không thể phủ định, hành động này như là ngòi châm cho sự
bùng nổ phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt tạo môi trường thuận lợi để hỗ trợ
nông dân vững tin hướng vào con đường phát triển sản xuất liên thông với xu
hướng vận động của tổ thức thương mại thế giới WTO.
Xuất phát từ thực tiễn trên, xây dựng mô hình kinh tế nông nghiệp hướng đến hoàn
thiện một nông thôn mới của xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, Thành Phố Cần
Thơ là điều hết sức thiết thực, đặc biệt đối với xây dựng mô hình kinh tế nông
nghiệp. Nhưng vấn đề ở đây cách thức được thực hiện như thế nào?, nhu cầu đối
với vấn đề này ra sao? Nếu tiến hành thực hiện thì người dân sẽ gặp những cản trở
và khó khăn gì? Như thế giải pháp gì cần được quan tâm để tháo gỡ những khó
khăn đó. Tất cả những câu hỏi này sẽ được bài viết làm rõ trong phần tiếp theo.
2. Phương pháp và công cụ nghiên cứu
Để trả lời những câu hỏi vừa được nêu trên trên, nhóm nghiên cứu “xây dựng mô
hình kinh tế nông nghiệp” tiến hành thu khảo sát thực địa để thu thập thông tin
thông qua
- phương pháp PRA nhóm KIP xã: đại diện các mặt trận đoàn thể, hợp tác xã,
n
Nhơn
Thuận2
Thị
Tứ
Tổng số hộ 3509 586 534 467 475 328 476 643
- Hộ NN (hộ) 2472 457 379 442 272 240 346 336
- Hộ nuôi TS (hộ) 11 1 4 0 0 1 3 2
- Hộ công nghiệp(hộ) 134 29 24 4 18 13 11 35
- Hộ xây dựng (hộ) 87 11 17 3 21 4 9 22
- Hộ thương nghiệp(hộ) 593 50 67 14 126 50 89 197
- Hộ vận tải(hộ) 44 11 9 0 4 0 4 16
- Hộ làm dịch vụ khác 168 27 34 4 34 20 14 35
Nhân khẩu (người) 17848 2956 2618 2350 2244 1740 2493 3447
Trong tuổi LĐ (người) 11272 1955 1741 1456 1282 1047 1670 2121
Số hộ sử dụng điện (hộ) 3486 584 530 466 472 328 468 638
Nguồn: Số liệu điều tra xã Nhơn Nghĩa tháng 7 năm 2006
Theo định hướng phát triển kinh tế-xã hội năm 2007 thì xã chia thành 2 vùng sinh
thái như sau:
Vùng 1: Gồm 5 ấp (Nhơn Hưng, Nhơn Khánh, Nhơn Thành, Nhơn Phú và Thị Tứ
Vàm Xáng) phát triển cây ăn trái, tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ du
lịch sinh thái. Đặc biệt chuyển dịch cơ cấu cây trồng tuyến lộ Rạch Sung-Bào
Mương Khai thành vườn cây ăn trái gắn với du lịch sinh thái
Vùng 2: Gồm ấp Nhơn Thuận và Nhơn Thuận 2 phát triển cây ăn trái, lúa chất
lượng cao, màu và nuôi thuỷ sản
Tình hình đất sản xuất được mô phỏng ở bản đồ hiện trạng sử dụng đất dưới đây
Biểu đồ 1. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Theo kết quả khảo sát, hiện xã có các mô hình sản xuất nông nghiệp: (1) sản xuất
lúa; (2) cây ăn trái; (3) nuôi trồng thủy sản; (4) chăn nuôi gia súc và các mô hình
kết hợp (5) lúa – màu; (6) cây ăn trái - thủy sản (cá); (7) lúa – chăn nuôi gia súc-
đao)
++ +
Nhơn Thành ++ (Chanh, ổi) +++ (màu truyền
thống)
+ ++
Nhơn Phú ++ (đa dạng) +(đậu, bắp) +++ +++ (heo,
bò)
Thị tứ +++ (Nhãn) 0 ++ ++
Nhơn Thuận + (Đa dạng) +++ + ++
Nhơn Thuận 2 0 (lúa) 0 + +
Ngu ồn:
Ghi chú
+++ : Rất ưu thế ++ : ưu thế + : Trung bình 0 : Không ưu thế
3.2. Sản xuất lúa và lúa chất lượng cao
Nhìn chung diện tích canh tác lúa trong những năm qua không có thay đổi đáng kể
(bảng 2). Một trong những nguyên nhân, do chính quyền địa phương tiếp tục giữ
vững diện tích sản xuất lúa, thông qua việc qui hoạch lại vùng lúa cao sản chất
lượng cao, tập trung ở ấp Nhơn Thuận 2. Mặt dù có điều kiện tự nhiên thuận lợi để
sản xuất lúa 3 vụ, tuy nhiên đối với người dân trong vùng vụ lúa đông xuân và hè
thu vẫn luôn là chủ lực để duy trì và mở rộng, nâng cao năng suất sản lượng. Theo
đánh giá của cán bộ xã, do điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm và giá cả thị
trường vật tư nông nghiệp luôn biến động tăng. Hiện nay xu hướng người dân đã
thu dần diện tích sản xuất lúa 3 vụ, đặc biệt là giảm vụ xuân hè để tập trung vào hai
vụ còn lại. Hoặc họ xen vào đó vụ màu thay thế vụ xuân hè. Minh chứng cho vấn đề
này từ năm 2005 đến năm 2006 diện tích canh tác cho vụ mùa xuân hè giảm 131 ha.
Bảng 2. Diện tích lúa và năng suất theo vụ mùa từ 2004-2006
Lúa 2004 2005 2006
Diện tích
(ha)
Năng suất
thuộc Nhà nước. Kết quả khảo sát cho thấy kênh Nhà nước mới chỉ đáp ứng 30%
nhu cầu người dân sản xuất lúa, trong đó Trạm khuyến nông đóng vay trò chính. Sự
Nông dân sản xuất lúa
(tự sản xuất 15%)
Tổ nhân giống
lúa địa phương
(cung ứng 50%)
Công ty lương
thực (0,5%)
Viện (cung 3%) -Trường Đại
Học Cần Thơ (cung 2%)
Trạm khuyến nông (cung 25%)-
Trung tâm giống (cung 4,5%)
cung cấp này cũng bao gồm các hình thức cung cấp giống trợ giá tỷ lệ 60:40, tức là
phía Nông dân chi trả 60%, còn lại 40% là Nhà nước sẽ đảm nhận. Tuy nhiên số
lượng nông dân được tham gia chương trình này có giới hạn, nông dân được chọn
lọc là những người sản xuất giỏi, là thành viên trong các mặt trận đoàn thể như hội
nông dân, đoàn thanh niên, hội phụ nữ.
Viện-Trường: Viện Lúa ĐBSCL và Đại Học Cần Thơ, đây là kênh cung cấp giống
đại diện từ phía các Nhà khoa học mà thời gian qua chỉ có 5% nhu cầu người dân
trực tiếp được tiếp cận trực tiếp. Mặt dù tỷ lệ ở mức thấp, nhưng nguồn giống từ
kênh này có độ tin cậy rất lớn, có nguồn gốc và đảm bảo chất lượng.
Công ty lương thực: Để thực hiện hợp đồng tiêu thụ, đảm bảo nguồn nguyên liệu
đầu vào ổn định cho tiến trình chế biến, một số công ty lương thực trong vùng như
Công ty Mekong đã cung ứng giống lúa chất lượng cao như CS200, Jasmin nhưng
không hỗ trợ kỹ thuật, đến một số nông dân có chọn lọc. Sau khi thu hoạch thì
những người nông dân này phải bán đầu ra cho công ty theo giá cả đã được thỏa
thuận trước. Tuy nhiên chương trình này vẫn chưa được thực hiện nhiều ở địa
phương. Theo công ty, phần lớn diện tích canh tác của người dân chưa tập trung
chất lượng cao, cách sản xuất giống lúa nguyên chủng.
Viện-Trường: Kênh này đại diện cho kênh chuyển giao những kiến thức khoa học
tiên tiến đến các tổ chức Nhà nước và nông dân. Hình thức thực hiện trực tiếp thông
qua các lớp huấn luyện như cách nhân giống lúa nguyên chủng, gián tiếp thông qua
các chương trình được phát trên phương tiện thông tin đại chúng như “Nhịp cầu nhà
nông”.
Cơ sở kinh doanh Vật tư nông nghiệp (VTNN): Đây cũng là một trong những kênh
khuyến nông để hỗ trợ nông dân trong tiến trình sản, vấn đề ở đây là kinh nghiệm,
kiến thức và trình độ chuyên môn của các chủ cơ sở là không thể thiếu được, điều
này lâu dài sẽ ảnh hưởng đến cả một hệ thống chất lượng từ sản xuất đến chế biến.
Theo các các chủ cơ sở kinh doanh, hàng năm họ đều có dự các lớp tập huấn do Chi
cục bảo vệ thực vật Thành Phố, công ty như Bayer tổ chức. Nội dung phần lớn xây
quanh cách sử dụng thuốc nông dược, danh mục các hóa chất được phép sử dụng và
hóa chất cấm sử dụng.
Công ty: Mặt dù các thông tin từ công ty đến nông dân và cơ sở kinh doanh mang
tính quảng bá sản phẩm, nhưng chúng ta không thể phủ định một điều là các thông
tin này sẽ góp phần không nhỏ vào tăng kiến thức kỹ thuật sản xuất của nông dân.
Hình thức thực hiện của các công ty (Bayer và Công ty Bảo vệ thực vật An Giang)
tổ chức hội thảo thuốc, giới thiệu loại thuốc mới.
3.3. Cây ăn trái
Cây ăn trái là một trong những cây trồng có lợi ích kinh tế rất lớn, đóng vai trò rất
quan trọng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, đặc biệt là trong giai đoạn xã
đang tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng vật nuôi theo chỉ đạo chung
của huyện (Chỉ tiêu kế hoạch, 2006).
Theo bảng 3, diện tích đất trồng cây ăn trái có sự thay đổi tăng trong những năm
gần đây. Những loại cây trồng có diện tích lớn là sầu riêng, dâu, cây có múi (cam,
chanh). Nếu so về tốc độ gia tăng diện tích canh tác từ năm 2002 đến năm 2006, tốc
độ tăng của cây dâu và cây cam là lớn nhất với tỷ lệ bình quân là 41%/năm tập
1
PRA nhóm KIP xã
Thị Tứ (nhãn)
Diện tích (ha) 52 61 74 84 96
Sản lượng (t) 156 183 222 268.8 336
Toàn xã
Diện tích (ha) 321 373 447 520 600
Sản lượng (t) 963 1119 1341 1664 2100
Nguồn: Cán bộ phụ trách nông nghiệp xã, 2006
Mạng lưới cung ứng giống cây ăn trái đến nông dân
Sơ đồ 3 cho thấy, mặt dù nông dân cây ăn trái tiếp cận từ nhiều nguồn giống khác
nhau, nhưng kiến thức và kinh nghiệm của nông dân tự tạo giống không phải là ít
chiếm đến 20%. Theo sơ đồ, những người nông dân mua nguồn giống từ những
nông dân khác trong vùng là 10%, như vậy vô hình chung có thể thấy rằng, bản thân
nông dân tự chiết giống cho mình chiếm 30%.
Sơ đồ 3: Mạng lưới nguồn giống cung đên nông dân
Nguồn: Khảo sát trực tiếp vùng
Trung tâm khuyến nông: Mặt dù trung tâm là đại diện tổ chức Nhà nước, nhưng
theo khảo sát, kênh này chỉ dừng lại 3% đáp ứng nhu cầu nông dân. Phần lớn việc
làm của Trung tâm mang tính xã hội, như thực hiện cung cấp giống cho nông dân
theo chương trình trợ giá 40:60, trong đó 40% do nông dân chi trả, 60% còn lại do
phía Nhà nước đảm nhận.
Viện - Trường: Viện cây ăn quả Miền Nam và Đại Học Cần Thơ là hai tổ chức đại
viện từ phía Nhà nước để đưa các nguồn giống cây ăn trái đến địa phương, mục
đích nhằm giới thiệu và tạo điều kiện để nông dân trong vùng tiếp cận với những
giống cây trồng mới. Mặt dù kênh này chỉ là 3%, nhưng đã cho thấy phần nào nông
dân vùng cũng quan tâm đến xu hướng thị trường, nhu cầu người tiêu dùng hướng
đến những loại cây ăn trái lạ và có chất lượng.
Trại giống tư nhân: Những trại giống tư nhân đã trở thành nhà cung ứng trung
thành của người dân thời gian qua chiếm 50%. Có 40% nông dân thực hiện các giao
dịch trực tiếp để mua giống cây tại trại giống địa phương, 10% còn lại là nông dân
tự tìm đến mua trực tiếp các trại giống ở Tiền Giang và Vĩnh Long. Mặt dù các trại
cấp giống chưa rõ nguồn gốc, do vậy niềm tin của nông dân cũng bị thiên giảm.
Nguồn giống do nông dân cung cấp: Nông dân trong vùng đã từ lâu sản xuất cây ăn
trái, thời gian thâm niên đã làm họ tăng dần bề dày kinh nghiệm và kiến thức tự
mình chọn lọc những cây trồng có hiệu quả kinh tế, hoặc tận dụng các nguồn giống
mới được cung cấp từ Viện-Trường, sau đó tự chiết và nhân giống phục vụ cho tiến
trình sản xuất chủ động.
Mạng lưới khuyến nông cây ăn trái
Tương tự như lúa, nông dân trồng cây ăn trái thường xuyên tiếp nhận kênh khuyến
nông chính là từ Nhà khoa học, Nhà nước và Nhà doanh nghiệp. Bên cạnh các hoạt
động riêng biệt, ba Nhà nói trên còn có sự hợp tác nhau để trực tuyến qua hệ thống
phương tiện truyền thanh nhằm thông tin và hướng dẫn nông dân kỹ thuật sản xuất
cây ăn trái, chẳng hạn chương trình “Nhịp cầu nhà nông”, “Bạn nhà nông”.
Sơ đồ 4. Hệ thống khuyến nông cây ăn trái
Nhà nước: Trung tâm khuyến nông thường mở các lớp tập huấn, chẳng hạn lớp tập
huấn kỹ thuật trồng cây ăn trái có múi. Một số chương trình thực hiện còn được các
tổ chức nước ngoài DANIA, FAO, WB đứng ra tài trợ.
Viện-Trường: Đây là kênh khuyến nông đại diện cho việc chuyển giao kiến thức
khoa học tiên tiến từ các Nhà khoa học đến các tổ chức Nhà nước và Nhà nông. Đặc
biệt mỗi khi Viện-Trường có những giống mới được tạo ra. Mục tiêu của chương
trình nhằm nâng cao năng lực cán bộ khuyến nông và nông dân trong vùng, góp
phần phát huy xã hội hóa công tác giống địa phương.
.
Cơ sở kinh doanh Vật tư nông nghiệp (VTNN): Tương tự như cây lúa, kênh khuyến
nông này tiến đến hỗ trợ nông dân trong tiến trình sản, vấn đề ở đây là kinh nghiệm,
kiến thức và trình độ chuyên môn của các chủ cơ sở là không thể thiếu được, điều
Nông dân sản xuất lúa
Nhà khoa học
(Viện - Trường)
Nhà nước
(TTKN)
hoàn toàn, nên tâm lý người nuôi an tâm hơn trong việc tái và mở rộng đầu tư chăn
nuôi.
Nhìn chung phương thức chăn nuôi của nông dân trong vùng còn mang tính truyền
thống, sản xuất thiếu tính tập trung, chủ yếu lấy công làm lời, đặc biệt đối với heo.
Tương tự bò cũng vậy, phần lớn phương thức nuôi của nông dân theo dạng gia đình,
thị trường tiêu thụ chính là địa phương.
Bảng 4: Tình hình chăn nuôi những năm qua phân theo ấp
Ấp
Năm
2000
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Nhơn Hưng
Heo (con) 1364 1217 1630 786 778 893 712
Bò (con) 2 5 6
Dê (con) 7 13 20 0
Gà/vịt (con) 8864
Nhơn Khánh
Heo (con) 1012 1317 906 781 699 640 410
Bò (con) 4
Dê (con) 36 105 314 418 153
Gà/vịt (con)
14700* 12035*
29872
Nguồn: Số liệu thống kê xã; (*) Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế-xã hội, an ninh quốc phòng
năm 2004, 2005.
b. Tình hình nuôi trồng thủy sản
Những năm qua diện tích nuôi trồng thủy sản của xã có chiều hướng tăng (xem
bảng 5). Các loài thủy sản ở đây là thủy sản nước ngọt, điển hình như cá rô phi,
điêu hồng, tai tượng, cá lóc, sặc rằn, cá trê, cá tra. Diện tích mặt nước nuôi thủy sản
được tập trung nhiều nhất ở hai ấp, Nhơn Phú (14 ha) và Nhơn Thành (12ha).
Hình thức nuôi chủ yếu qui mô nhỏ, phục vụ hỗ trợ thu nhập kinh tế gia đình. Thị
trường tiêu thụ chính là tiêu dùng nội địa. Theo kết quả điều tra, khoảng 60% hộ
thủy sản cho biết xu hướng tới họ sẽ mở mộng qui mô sản xuất, 40% hộ còn lại sẽ
duy trì diện tích sản xuất. Mặt dù đây là định hướng cá nhân, nhưng là một tín hiệu
quan trọng không thể phủ nhận cho sự phát triển nuôi trồng thủy sản của địa
phương trong thời gian tới.
Bảng 5: Diện tích và sản lượng nuôi trồng thủy sản các năm qua theo ấp
Ấp
Năm
2000
Năm
2001
Năm
2002
Năm
2003
Năm
2004
Năm
Chăn nuôi heo: Từ sơ đồ 5 có thể rút ra nhận định, nông dân trong vùng có đủ khả
năng và kỹ thuật tạo giống, điều này giúp cho việc chủ động về nguồn giống trong
sản xuất. Riêng đối với kênh giống từ phía Nhà nước như Viện/Trường, Trung tâm
giống/Trạm khuyến nông và Nhà doanh nghiệp như công ty giống, phần lớn giống
nông dân tiếp nhận ở đây là loại giống heo ngoại, mới lạ. Kênh giống từ phía Nhà
nước còn có những chương trình trợ giá 40% giá giống cho nông dân.
Phần lớn các lớp tập huấn cho nông dân đều do Nhà nước thực hiện. Điển hình như
Trạm khuyến nông thời gian qua đã tổ chức các lớp tập huấn: Xây dựng chuồng
trại; Xử lý bệnh; Cách chọn con giống; Thức ăn và cách cho ăn. Ngoài ra người
nuôi còn nhận được sự hướng dẫn kỹ thuật và tư vấn từ các cửa hàng thuốc thú y
địa phương, chẳng hạn cách điều trị bệnh; chăm sóc điều dưỡng gia súc-gia cầm.
Sơ đồ 5: Nguồn giống heo mà nông dân tiếp cận
Nguồn: Khảo sát trực tiếp vùng
Chăn nuôi bò: Tương tự chăn nuôi heo, nông dân trong vùng cũng có thể tự tạo
giống bò cho mình (chiếm 86%). Nguồn giống từ Viện-Trường, Trung tâm
giống/Tram khuyến nông phần lớn là những loại giống ngoại và mới. Đối với kênh
giống từ tổ chức Nhà nước người dân còn có thể mua giống thông qua chương trình
hỗ trợ giá, điển hình trợ giá bò 800.000đồng/con do Trạm khuyến nông đã thực
hiện, đặc biệt hỗ trợ bò đực giống chuẩn để lai tạo giống. Tuy nhiên chương trình
này giới hạn về lượng người tham gia.
Người nuôi ngoài ra còn có cơ hội được tập huấn các lớp: Kỹ thuật chăn nuôi để
đảm bảo bò chất lượng, có khả năng sinh sản tốt; Nhận dạng và xử lý bệnh; Chu kỳ
lên giống bò sinh sản
Sơ đồ 6: Nguồn giống bò mà nông dân tiếp cận
Nông dân
(tự sản xuất 30%)
Công ty/Trại
giống (2%)
Viện-Trường
(2%)
khuyến nông (10%)
Nông dân
(tự sản xuất 5%)
Cơ sở /Trại
giống (80%)
Nông dân khác (5%)
Trung tâm
giống/Trạm khuyến
nông (10%)
Nguồn: Khảo sát trực tiếp vùng
3.5. Mô hình ươm cây giống và hoa kiểng
Cây giống rau màu được ươm gồm đa dạng chủng loại như: cải xanh, bí đao, cà
phổi, cà chua, ớt,….nhưng loại rau và cải được ươm phổ biến nhất là: cải xanh, cải
bắp, cà phổi (cà xanh) và cà tím. Các giống cây ăn trái được ươm chủ yếu là cam
mật, quýt, vú sữa và dâu bòn bon. Ngoài ra, các loại hoa như cúc Đà Lạt và bông
Vạn Thọ cũng được người dân ươm để bán vào dịp Tết.
Việc sản xuất cây giống là quanh năm, tuy nhiên phụ thuộc thời vụ và nhu cầu thị
trường mà từng loại giống hoa màu có được sản xuất ra nhiều hat ít. Trong đó, cải
xanh được thường được sản xuất trung quanh năm, đồng thời còn có bí đao và cà,
nhưng hai loại này thường tập trung vào những tháng mùa nắng. Ớt là cây ươm
quanh năm, nhưng với số lượng ít hơn (Bảng 7)
Bảng 7: Lịch thời vụ từng loại rau màu được ươm tại HTX Nhơn Hưng
Tháng
Loại rau
01 02 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12
Cải xanh x x x x x x x x x x x x
Cà phổi x x x x x x x x x
Bí đao x x x x x
Cải bắp x
Ớt x x x x x x x x x x x x