Xây Dựng Mô Hình Kinh Tế Nông Nghiệp Tại Nhơn Nghĩa - Phong Điền - Cần Thơ - Pdf 19



Xây Dựng Mô Hình
Kinh Tế Nông Nghiệp
Tại Nhơn Nghĩa -
Phong Điền - Cần Thơ

Xây Dựng Mô Hình Kinh Tế Nông Nghiệp: Trường Hợp Xã
Nhơn Nghĩa-Huyện Phong Điền-Thành Phố Cần Thơ 1. Giới thiệu
Để có được một nông thôn mới hoàn thiện nhiều mặt, việc sắp xếp lại và củng cố
hiệu quả mô hình kinh tế nông nghiệp là điều không thể thiếu được trong vùng
nông thôn, ở đó xã Nhơn Nghĩa là một điển hình không ngoại lệ trong nghiên cứu.
Người dân trong vùng đa phần sống bằng nghề nông, trong đó chủ yếu là sản xuất
nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Cũng theo Pắc Chung Hy tổng thống Hàn
Quốc, một nông thôn mới ở đó phải thể hiện năng suất cây trồng cần được nâng
cao, có vùng chuyên canh để đảm bảo hoạt động sản xuất và đời sống, đồng thời
cần xây dựng mô hình phát triển chăn nuôi, cây trồng đa canh hợp lý và phải xây
dựng được hợp tác sản xuất cùng với việc tiêu thụ sản phẩm hiệu quả đảm bảo đầu
ra của người nông dân.

Bên cạnh đó, nền kinh tế Việt Nam đang ở vào cao trào rất lớn của giai đoạn hội
nhập kinh tế thế giới từ Trung Ương đến địa phương, do vậy việc xây dựng một
nông thôn mới là điều không thể phủ định, hành động này như là ngòi châm cho
sự bùng nổ phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt tạo môi trường thuận lợi để hỗ
trợ nông dân vững tin hướng vào con đường phát triển sản xuất liên thông với xu
hướng vận động của tổ thức thương mại thế giới WTO.

Xuất phát từ thực tiễn trên, xây dựng mô hình kinh tế nông nghiệp hướng đến

Toàn

Nhơn
Hưng
Nhơn
Khánh
Nhơn
Thành
Nhơn
Phú
Nhơn
Thuận
Nhơn
Thuận2
Thị
Tứ
Tổng số hộ 3509 586 534 467 475 328 476 643
- Hộ NN (hộ) 2472
457 379 442
272 240
346 336
- Hộ nuôi TS (hộ) 11 1 4 0 0 1 3 2
- Hộ công nghiệp(hộ) 134 29 24 4 18 13 11 35
- Hộ xây dựng (hộ) 87 11 17 3 21 4 9 22
- Hộ thương nghiệp(hộ) 593 50 67 14 126 50 89 197
- Hộ vận tải(hộ) 44 11 9 0 4 0 4 16
- Hộ làm dịch vụ khác 168 27 34 4 34 20 14 35
Nhân khẩu (người) 17848 2956 2618 2350 2244 1740 2493 3447
Trong tuổi LĐ (người) 11272 1955 1741 1456 1282 1047 1670 2121
Số hộ sử dụng điện (hộ) 3486 584 530 466 472 328 468 638

Mô hình T1 T2 T3 T4 T5 T6 T7 T8 T9 T10

T11

T12

Lúa Cây ăn trái
(CAT)

Thủy sản (TS) Chăn nuôi (CN)

2 lúa - 1 màu

CAT – TS


+ (cải xanh, bí
đao)
++ +
Nhơn Thành ++ (Chanh, ổi) +++ (màu truyền
thống)
+ ++
Nhơn Phú ++ (đa dạng) +(đậu, bắp) +++ +++ (heo,
bò)
Thị tứ +++ (Nhãn) 0 ++ ++
Nhơn Thuận + (Đa dạng) +++ + ++
Nhơn Thuận 2

0 (lúa) 0 +

+
Ngu ồn:
Ghi chú
+++ : Rất ưu thế ++ : ưu thế + : Trung bình 0 : Không ưu thế

3.2. Sản xuất lúa và lúa chất lượng cao
Nhìn chung diện tích canh tác lúa trong những năm qua không có thay đổi đáng kể
(bảng 2). Một trong những nguyên nhân, do chính quyền địa phương tiếp tục giữ
vững diện tích sản xuất lúa, thông qua việc qui hoạch lại vùng lúa cao sản chất
lượng cao, tập trung ở ấp Nhơn Thuận 2. Mặt dù có điều kiện tự nhiên thuận lợi để
sản xuất lúa 3 vụ, tuy nhiên đối với người dân trong vùng vụ lúa đông xuân và hè
thu vẫn luôn là chủ lực để duy trì và mở rộng, nâng cao năng suất sản lượng. Theo
đánh giá của cán bộ xã, do điều kiện nâng cao chất lượng sản phẩm và giá cả thị
trường vật tư nông nghiệp luôn biến động tăng. Hiện nay xu hướng người dân đã
thu dần diện tích sản xuất lúa 3 vụ, đặc biệt là giảm vụ xuân hè để tập trung vào
hai vụ còn lại. Hoặc họ xen vào đó vụ màu thay thế vụ xuân hè. Minh chứng cho

lúa nguyên chủng (OM 2395) cho người dân trong vùng. HTX dành riêng 1 ha để
chuyên về sản xuất giống nguyên chủng, và hợp tác với Viện lúa ĐBSCL. Nhìn
chung, thời gian qua nông dân sản xuất lúa tiếp cận từ nhiều nguồn giống khác
nhau (xem sơ đồ 1), trong đó nguồn giống do tự nông dân sản xuất chiếm 15%,
còn lại là tiếp nhận từ các đối tượng khác. Sơ đồ 1: Kênh giống lúa mà nông dân trong vùng được tiếp cận
Nguồn: Điều tra PRA; Đánh giá chuyên gia

Tổ nhân giống lúa địa phương: Thành viên trong tổ này khoảng 10 hộ, chịu trách
nhiệm nhân giống lúa chất lượng cao để cung cấp cho nhu cầu phát triển sản phẩm
chất lượng cao trong vùng theo kế hoạch đề ra của xã.Tuy nhiên sản lượng giống
này chỉ dừng lại đáp ứng 50% nhu cầu của nông dân trong xã.

Trạm khuyến nông – Trung tâm giống: Hai tổ chức này đều trực thuộc Sở Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, kênh này được xem như là kênh từ các ban
ngành thuộc Nhà nước. Kết quả khảo sát cho thấy kênh Nhà nước mới chỉ đáp ứng

không hỗ trợ kỹ thuật, đến một số nông dân có chọn lọc. Sau khi thu hoạch thì
những người nông dân này phải bán đầu ra cho công ty theo giá cả đã được thỏa
thuận trước. Tuy nhiên chương trình này vẫn chưa được thực hiện nhiều ở địa
phương. Theo công ty, phần lớn diện tích canh tác của người dân chưa tập trung
theo vùng, kéo theo sự đồng nhất về chất lượng sau thu hoạch còn hạn chế, ảnh
hưởng đến tiêu chuẩn xuất khẩu.

Hệ thống khuyến nông
Sơ đồ 2 cho thấy, có ba kênh khuyến nông chính Nhà nước, Nhà khoa học và Nhà
doanh nghiệp thực hiện thông tin và chuyển tải khoa học kỹ thuật trực tiếp đến
nông dân trong vùng. Bên cạnh các hoạt động riêng biệt, ba Nhà nói trên còn có sự
hợp tác nhau để trực tuyến qua hệ thống phương tiện truyền thanh đại chúng nhằm
thông tin và hướng dẫn nông dân kỹ thuật canh tác, phổ biến nhất là chương trình
“Nhịp cầu nhà nông”.

Sơ đồ 2. Hệ thống khuyến nông

Nông dân sản xuất lúa

giảm-ba tăng” vào đồng ruộng, đồng thời còn được học hỏi từ các mô hình trình
diễn sản xuất lúa chất lượng cao, cách sản xuất giống lúa nguyên chủng.

Viện-Trường: Kênh này đại diện cho kênh chuyển giao những kiến thức khoa học
tiên tiến đến các tổ chức Nhà nước và nông dân. Hình thức thực hiện trực tiếp
thông qua các lớp huấn luyện như cách nhân giống lúa nguyên chủng, gián tiếp
thông qua các chương trình được phát trên phương tiện thông tin đại chúng như
“Nhịp cầu nhà nông”.

Cơ sở kinh doanh Vật tư nông nghiệp (VTNN): Đây cũng là một trong những kênh
khuyến nông để hỗ trợ nông dân trong tiến trình sản, vấn đề ở đây là kinh nghiệm,
kiến thức và trình độ chuyên môn của các chủ cơ sở là không thể thiếu được, điều
này lâu dài sẽ ảnh hưởng đến cả một hệ thống chất lượng từ sản xuất đến chế biến.
Theo các các chủ cơ sở kinh doanh, hàng năm họ đều có dự các lớp tập huấn do
Chi cục bảo vệ thực vật Thành Phố, công ty như Bayer tổ chức. Nội dung phần lớn
xây quanh cách sử dụng thuốc nông dược, danh mục các hóa chất được phép sử
dụng và hóa chất cấm sử dụng.

Công ty: Mặt dù các thông tin từ công ty đến nông dân và cơ sở kinh doanh mang
tính quảng bá sản phẩm, nhưng chúng ta không thể phủ định một điều là các thông
tin này sẽ góp phần không nhỏ vào tăng kiến thức kỹ thuật sản xuất của nông dân.
Hình thức thực hiện của các công ty (Bayer và Công ty Bảo vệ thực vật An Giang)
tổ chức hội thảo thuốc, giới thiệu loại thuốc mới.

3.3. Cây ăn trái

Cây ăn trái là một trong những cây trồng có lợi ích kinh tế rất lớn, đóng vai trò rất
quan trọng trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, đặc biệt là trong giai đoạn
xã đang tiến hành chuyển dịch cơ cấu kinh tế cây trồng vật nuôi theo chỉ đạo
chung của huyện (Chỉ tiêu kế hoạch, 2006).

Sản lượng (t) 225 252 294 364.8 455
Nhơn Thành (Chanh, cốc)

Diện tích (ha) 61 71 84 96 108
Sản lượng (t) 183 213 252 307.2 378
Nhơn Phú (Cam mật, cốc, táo)

Diện tích (ha) 52 60 72 86 96
Sản lượng (t) 156 180 216 275.2 336
Nhơn Thuận (Dâu, cam mật)

Diện tích (ha) 9 12 16 25 36
Sản lượng (t) 27 36 48 80 126
Nhơn Thuận 2 (Chanh, dâu)

Diện tích (ha) 8 10 15 23 32
Sản lượng (t) 24 30 45 73.6 112
Thị Tứ (nhãn)

Diện tích (ha) 52 61 74 84 96
Sản lượng (t) 156 183 222 268.8 336
Toàn xã

Diện tích (ha) 321 373 447 520 600
Sản lượng (t) 963 1119 1341 1664 2100
Nguồn: Cán bộ phụ trách nông nghiệp xã, 2006 Mạng lưới cung ứng giống cây ăn trái đến nông dân
Sơ đồ 3 cho thấy, mặt dù nông dân cây ăn trái tiếp cận từ nhiều nguồn giống khác

Viện - Trường: Viện cây ăn quả Miền Nam và Đại Học Cần Thơ là hai tổ chức đại
viện từ phía Nhà nước để đưa các nguồn giống cây ăn trái đến địa phương, mục
đích nhằm giới thiệu và tạo điều kiện để nông dân trong vùng tiếp cận với những
giống cây trồng mới. Mặt dù kênh này chỉ là 3%, nhưng đã cho thấy phần nào
nông dân vùng cũng quan tâm đến xu hướng thị trường, nhu cầu người tiêu dùng
hướng đến những loại cây ăn trái lạ và có chất lượng.

Trại giống tư nhân: Những trại giống tư nhân đã trở thành nhà cung ứng trung
thành của người dân thời gian qua chiếm 50%. Có 40% nông dân thực hiện các
giao dịch trực tiếp để mua giống cây tại trại giống địa phương, 10% còn lại là
nông dân tự tìm đến mua trực tiếp các trại giống ở Tiền Giang và Vĩnh Long. Mặt
dù các trại giống tư nhân nhìn chung chưa có một thương hiệu hẳn hoi, nhưng ít
nhiều cho họ một sự an tâm về nơi chốn cố định và thời gian thâm niên của người
bán.

Nông dân cây ăn trái
(tự chiết 20%)
Trạm giống tư
nhân (50%)

Viện-Trường
(5%)

Mua trôi
nổi (12%)
Các Nông dân khác
trong vùng (10%)
Tr
ại
gi

giống mới được cung cấp từ Viện-Trường, sau đó tự chiết và nhân giống phục vụ
cho tiến trình sản xuất chủ động.

Mạng lưới khuyến nông cây ăn trái
Tương tự như lúa, nông dân trồng cây ăn trái thường xuyên tiếp nhận kênh khuyến
nông chính là từ Nhà khoa học, Nhà nước và Nhà doanh nghiệp. Bên cạnh các
hoạt động riêng biệt, ba Nhà nói trên còn có sự hợp tác nhau để trực tuyến qua hệ
thống phương tiện truyền thanh nhằm thông tin và hướng dẫn nông dân kỹ thuật
sản xuất cây ăn trái, chẳng hạn chương trình “Nhịp cầu nhà nông”, “Bạn nhà
nông”.

Sơ đồ 4. Hệ thống khuyến nông cây ăn trái

Nhà nước: Trung tâm khuyến nông thường mở các lớp tập huấn, chẳng hạn lớp tập
huấn kỹ thuật trồng cây ăn trái có múi. Một số chương trình thực hiện còn được
các tổ chức nước ngoài DANIA, FAO, WB đứng ra tài trợ.

Viện-Trường: Đây là kênh khuyến nông đại diện cho việc chuyển giao kiến thức

đại chúng
chương trình nhằm nâng cao năng lực cán bộ khuyến nông và nông dân trong
vùng, góp phần phát huy xã hội hóa công tác giống địa phương.
.
Cơ sở kinh doanh Vật tư nông nghiệp (VTNN): Tương tự như cây lúa, kênh
khuyến nông này tiến đến hỗ trợ nông dân trong tiến trình sản, vấn đề ở đây là
kinh nghiệm, kiến thức và trình độ chuyên môn của các chủ cơ sở là không thể
thiếu được, điều này lâu dài sẽ ảnh hưởng đến cả một hệ thống chất lượng từ sản
xuất đến chế biến. Theo các các chủ cơ sở kinh doanh, hàng năm họ đều có dự các
lớp tập huấn do Chi cục bảo vệ thực vật Thành Phố, công ty như Bayer tổ chức.
Nội dung phần lớn xây quanh cách sử dụng thuốc nông dược, danh mục các hóa
chất được phép sử dụng và hóa chất cấm sử dụng.

Công ty và siêu thị: Mặt dù các thông tin từ công ty đến nông dân và cơ sở kinh
doanh mang tính quảng bá sản phẩm, nhưng chúng ta không thể phủ định một điều
là các thông tin này sẽ góp phần không nhỏ vào tăng kiến thức kỹ thuật sản xuất
của nông dân. Hình thức thực hiện thường là hội thảo về chủ đề thuốc bảo vệ thực
vật. Khác với cây lúa, Siêu thị Metro Cần Thơ đã đến liên hệ với địa phương để
ngỏ lời tìm các đối tác nông dân có khả năng, đảm bảo yêu cầu của Siêu Thị để
làm vệ tinh cung ứng sản phẩm cây ăn trái trong tương lai. Để làm được điều này
Metro đã có tổ chức chương trình thông tin và tập huấn riêng cho một vài nông
dân có chọn lọc nhằm tạo nguồn nguyên liệu đầu vào của siêu thị có chất lượng và
ổn định về sản lượng.

3.4. Tình hình chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản

a. Tình hình chăn nuôi

Theo bảng 4, có 4 loại vật nuôi phổ biến trong xã là heo, bò, gia cầm và dê. Ở đó
sản xuất chăn nuôi heo và dê trong những năm gần đây có xu hướng giảm. Trong

Heo (con) 1364

1217

1630

786

778

893

712

Bò (con) 2

5

6

Dê (con) 7

13

20

0

Gà/vịt (con) 8864


Heo (con) 2010

1919

1080

1215

1187

1029

954

Bò (con) 3

5

11

22

3

Dê (con) 12

19

84



22

84

97

43

Gà/vịt (con) 2410

Nhơn Thuận
Heo (con) 1715

918

824

770

653

546

417

Bò (con) 2

4


Dê (con) 7

10

25Gà/vịt (con) 3679

Thị Tứ
Heo (con) 1094

1217

984

1017

936

1980

1143

Bò (con) 2

4

7

3

11

29

58

58

Dê (con) 36

105

314

418

153

Gà/vịt (con)


Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Nhơn Hưng
Diện tích (ha) 1

2

3

5

6

7

8

Sản lượng (t) 350

700

1200

2000

2200

2500

4200

Nhơn Thành
Diện tích (ha) 2

3

4

7

8

10

12

Sản lượng (t) 700

1100

1600

2800

3400

6000

9400

Nhơn Thuận
Diện tích (ha) 1

2

3

5

6

7

8

Sản lượng (t) 400

750

1400

2270

2500

3500

Thị Tứ
Diện tích (ha) 1

1

2

4

4

5

6

Sản lượng (t) 450

370

900

1760

1850

2500

3600

Toàn xã

c. Tình hình con giống và khuyến nông/ngư đối với mô hình chăn nuôi và
nuôi trồng thủy sản
Chăn nuôi heo: Từ sơ đồ 5 có thể rút ra nhận định, nông dân trong vùng có đủ
khả năng và kỹ thuật tạo giống, điều này giúp cho việc chủ động về nguồn giống
trong sản xuất. Riêng đối với kênh giống từ phía Nhà nước như Viện/Trường,
Trung tâm giống/Trạm khuyến nông và Nhà doanh nghiệp như công ty giống,
phần lớn giống nông dân tiếp nhận ở đây là loại giống heo ngoại, mới lạ. Kênh
giống từ phía Nhà nước còn có những chương trình trợ giá 40% giá giống cho
nông dân.
Phần lớn các lớp tập huấn cho nông dân đều do Nhà nước thực hiện. Điển hình
như Trạm khuyến nông thời gian qua đã tổ chức các lớp tập huấn: Xây dựng
chuồng trại; Xử lý bệnh; Cách chọn con giống; Thức ăn và cách cho ăn. Ngoài ra
người nuôi còn nhận được sự hướng dẫn kỹ thuật và tư vấn từ các cửa hàng thuốc
thú y địa phương, chẳng hạn cách điều trị bệnh; chăm sóc điều dưỡng gia súc-gia
cầm.

Sơ đồ 5: Nguồn giống heo mà nông dân tiếp cận


Nguồn: Khảo sát trực tiếp vùng

Chăn nuôi gia cầm:

Chăn nuôi dê: Phần lớn nông dân trong vùng tự tạo giống (xem sơ đồ 7), còn lại
10% nguồn giống là do Trung tâm giống/Trạm khuyến nông cung cấp. Để hỗ trợ
nông dân sản xuất loại hình này, thời gian qua Trung tâm khuyến nông cũng đã tổ
chức một số lớp tập huấn như: Tập huấn chuồng trại; cách chăm sóc và cho ăn.

Sơ đồ 7: Nguồn cung giống dê cho nông dân
Nguồn: Khảo sát trực tiếp vùng

Thủy sản: Do hình thức nuôi của người dân mang tính gia đình, nên nguồn giống
nuôi của họ phần lớn là mua từ các trại giống địa phương (80%). Nguồn giống
người nuôi tiếp cận từ phía Nhà nước 10%, bao gồm cả chương trình trợ giá giống

3.5. Mô hình ươm cây giống và hoa kiểng

Cây giống rau màu được ươm gồm đa dạng chủng loại như: cải xanh, bí đao, cà
phổi, cà chua, ớt,….nhưng loại rau và cải được ươm phổ biến nhất là: cải xanh, cải
bắp, cà phổi (cà xanh) và cà tím. Các giống cây ăn trái được ươm chủ yếu là cam
mật, quýt, vú sữa và dâu bòn bon. Ngoài ra, các loại hoa như cúc Đà Lạt và bông
Vạn Thọ cũng được người dân ươm để bán vào dịp Tết.

Việc sản xuất cây giống là quanh năm, tuy nhiên phụ thuộc thời vụ và nhu cầu thị
trường mà từng loại giống hoa màu có được sản xuất ra nhiều hat ít. Trong đó, cải
xanh được thường được sản xuất trung quanh năm, đồng thời còn có bí đao và cà,
nhưng hai loại này thường tập trung vào những tháng mùa nắng. Ớt là cây ươm
quanh năm, nhưng với số lượng ít hơn (Bảng 7)
Bảng 7: Lịch thời vụ từng loại rau màu được ươm tại HTX Nhơn Hưng

Tháng

Loại rau
01

02

03

04

05

06


Nông dân khác (5%)
Trung tâm
giống/Trạm khuyến
nông (10%) Tuỳ theo từng loại rau màu mà thời gian ươm cây (tính từ khi gieo hạt đến bán cây
con) có sự khác nhau. Bình quân thời gian ươm từ 10 – 15 ngày là có thể bán
được, chỉ có cà xanh (cà phổi), cà tím và ớt có thời gian ươm lâu hơn đạt 20 ngày
(Bảng 8). Trong khi đó, đối với cây ăn trái (tuỳ thuộc vào kích cỡ cây con lớn hay
nhỏ) thì thời gian ươm sẽ khác nhau, dao đồgn từ 3 đến 6 tháng. Vú sữa là cây có
thời gian ươm dài hơn trung bình mất khoảng 6 tháng. Thời gian ươm được tập
trung nhiều nhất là mùa mưa (bảng 9).

Bảng 8: Thời gian ươm và số vụ/năm của từng loại rau màu
Loại rau màu Thời gian ươm (ngày) Số vụ/năm
Cải bắp 10-12 1 vụ/năm
Cải bẹ xanh 10 Quanh năm
Cà xanh-cà tím 20 Quanh năm
Bí đao 10-15 Quanh năm
Ớt 20 Quanh năm
(Nguồn: Kết quả PRA HTX vườn ươm cây giống Bà Hiệp, 2006)

Bảng 9: Thời gian ươm các loại cây ăn trái

Loại cây ăn trái Thời gian ươm
Cam mật và cam sành Cây to (5 tháng); Cây nhỏ (3 tháng)
Vú sữa Cây lớn (5-6 tháng); Cây nhỏ (4-5 tháng)
Bưởi 5 roi 3-5 tháng
Bưởi da xanh 3-5 tháng

Để có được nguồn đầu ra phân phối, HTX Bà Hiệp xây dựng mối quan hệ hợp tác
với công ty chuyên cung cấp nguồn hạt giống rau màu, điển hình công ty Phương
Hùng (chiếm 70%) và một số đại lý lớn cung cấp hạt giống có chất lượng cao tại
thành phố Cần Thơ và tài quận Cái Răng (chiếm 30%). 4. Một vài kết luận rút ra từ đánh giá thực trạng vùng nghiên cứu
- Nền sản xuất nông nghiệp địa phương đã được hình thành từ lâu đời, do
vậy hầu như người dân có được bề dày kinh nghiệm trong kỹ thuật và lai
tạo giống, điều này góp phần vào sản xuất chủ động trong nông dân đối với
nguồn giống. Tuy nhiên vấn đề để có được con giống như thế nào đáp ứng
nhu cầu thị trường vẫn còn là câu hỏi đang đặt ra phía trước không chỉ cho
Nhà nông mà cho các Nhà khoa học và Nhà nước.
- Do điều kiện sinh thái của vùng, có nhiều mô hình đa dạng được người dân
áp dụng trong vùng và sản xuất quanh năm, đồng thời thích hợp cho nhiều

hình không hiệu quả kỹ thuật “technical inefficiency” ở phương trình (2)
ứng dụng từ Ngwenya, Battese and Fleming (1997). Số liệu được sử dụng
là số mẫư khảo sát trực tiếp từ 62 nông dân sản xuất cho các mô hình đơn,
mô hình kết hợp: Chuyên canh sản xuất lúa; Cây ăn trái; Thủy sản; Chăn
nuôi; Lúa-màu; Cây ăn trái-Chăn nuôi; Cây ăn trái-thuỷ sản.

LnMLnSLnLLnDLnQ
MSLDO


LnMLnMLnSLnSLnLLnLLnDLnD
MMSSLLD

)2/1()2/1()2/1()2/1(
D

LnLLnSLnDLnMLnDLnSLnDLnL
LSDMDSDL



iiSMLM
uvLnSLnMLnLLnM 

(1)

Với
Q: Giá trị thu hoạch của hộ (đồng)
D: Diện tích canh tác của hộ (ha)
L: Ngày công lao động của gia đình và thuê (ngày)

nghĩa tác động tích cực đến sự gia tăng giá trị thu hoạch của nông dân sản xuất.

Bảng 9 : Kết quả ước lượng hàm sản xuất tuyến biên Translog
Hệ số t-ratio
O


2,831 0,561
D


0,477
1,506
L


0,516 0,281
S


0,245 0,516
M


0,589
2,608
DD

0,012 0,804
LL

LM


-0,022
-1,104
SM


-0,009 -0,756
Ghi chú : Những chữ in đậm trong bảng thể hiện tồn tại ý nghĩa

Theo Battese và Coelli (1995), tham số phân phối không hiệu quả kỹ thuật,
i

,
được xác định như sau

iCiKiGiViTi
CKGVT


0
(2)
Với
T : Tuổi của chủ hộ quản lý và điều hành sản xuất (tuổi)
V

: Số thành viên gia đình tham gia lao động trực tiếp mô hình nông nghiệp
(người)
G : Phần trăm giống có nguồn gốc được nông hộ tiếp cận sử dụng (%)

T

0,006
-3,058
V


-0,382
-1,495
G


-0,014
-3,053
K


-0,008 -0,632
C


-0,452
-1,001

Kết quả của hiệu quả kỹ thuật sản xuất theo mô hình ở bảng 11 cho thấy, mô hình
kết hợp chăn nuôi-thuỷ sản có phần trăm hiệu quả kỹ thuật cao nhất đạt 90,2%,
tiếp theo là mô hình chăn nuôi thuỷ sản 89,4%, Trong khi đó mô hình có phần
trăm đạt hiệu quả kỹ thuật thấp nhất là mô hình kết hợp cây ăn trái-thuỷ sản 69,3%

Bảng 11 : Hiệu quả sản xuất theo mô hình khảo sát

phát triển cây trồng và
con đa dạng,
-Vùng sản xuất nông
nghiệp được bảo vệ bởi
công trình đê bao chống
lũ an toàn,
-Đê bao tương đối khép
kính có thể kiểm soát
nước trong sản xuất
-Thời tiết nhìn chung tương
đối thuận lợi,
-Điều kiện tự nhiên sinh thái:
nước ngọt quanh năm
-Là vùng ven thành phố nên
có điều kiện tiếp cận khoa
học kỹ thuật sản xuất nông
nghiệp, thông tin thị trường, -Kênh cạn và đê bao
không đảm bảo, thiếu
cống hở, nhiều nơi chưa
khép kính để phát triển
mô hình sản xuất,

2, Yếu tố kỹ thuật

-Nông dân có kinh
nghiệm sản xuất giống
lúa nguyên chủng

-Nông dân chưa chủ động
phát biểu, thảo luận để trao
đổi kiến thức khuyến nông
trong thời gian được tập huấn,
-Trình độ năng lực và kiến
-Giống lúa chất lượng được
Trung tâm khuyến nông, viện
lúa hỗ trợ hàng năm,
-Tiếp cận giống cây ăn trái từ
công ty giống cây trồng Miền
Nam, công ty TNHH Chánh
Nông TPHCM và các công ty
khác,
-Sầu riêng có thể tiếp cận
được giống của Viện cây ăn
quả Miền Nam và Đại Học
Cần Thơ,
-Nông dân tiếp cận được từ
nhiều nguồn giống khác nhau:
lúa, CAT, chăn nuôi, nuôi
trồng thủy sản,
-Nông dân được tiếp cận
nhiều kênh khuyến nông khác
nhau: Nhà nước, Nhà doanh
-Nông dân cây ăn trái còn
sử dụng quá nhiều giống
trôi nổi,
-Xuất hiện nhiều loại
bệnh trên cây ăn trái
(Thúi rể, sâu đục trái, rệp

chưa cụ thể và thời lượng
phát sóng còn ít,
-Nông dân thiếu kỹ thuận
phòng trị sâu bệnh (vườn
ươm)
-Khả năng thiết kế ruộng và
kỹ thuật nuôi cá trên ruộng
lúa chưa có
-Tranh chấp quản lý nước
giữa độc canh lúa và mô hình
lúa-màu
-Chăn nuôi thủy sản: cá tai
tượng, phi, chép, trê, Hiện tại
có nuôi kết hợp với vườn,
chưa kết hợp nuôi thủy sản
trên ruộng lúa
-Chưa có diện tích cỏ đủ lớn
để cung cấp nguồn thức ăn
chăn nuôi bò,
-Thói quen và tập quán của
người dân vẫn còn, hạn chế
ứng dụng khoa học kỹ thuật
tiên tiến,
nghiệp, Nhà khoa học và từ
các tổ chức, câu lạc bộ trong
vùng,
-Được hỗ trợ kinh phí tham
gia tập huấn,
-Chương trình tập huấn có độ
tin cậy cao,

động tăng (do lao động
địa phương di cư theo
việc làm đến các địa
phương khác)

4, Kinh tế

-Giống Dâu Hạ Châu đã
có thương hiệu và Trung
tâm giống Phong Điền
có thể tự sản xuất -Bước đầu hình thành liên kết
3 nhà Nhà nước-Nhà khoa
học-Nhà doanh nghiệp hỗ trợ
Nhà nông,
-Người dân được tiếp nhận
các chương trình trợ giá
giống,
-Cơ sở bán VTNN, thuốc thú
y và thuốc thủy sản hỗ trợ tín
dụng nông dân qua hình thức
mua trước trả sau,
-Giá cả vật tư nông
nghiệp tăng trong khi giá
tiêu thụ nông sản giảm,
-Giá cả thị trường đầu ra
không ổn định,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status