nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã triệu giang, huyện triệu phong, tỉnh quảng trị - Pdf 13

PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo WB (2007) Việt Nam là 1 trong 5 nước trên thế giới chịu ảnh
hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và nước biển dâng [3]. Thực tế
nhiều năm qua cho thấy, tần suất bão, lụt ngày càng nhiều và mức độ gây hại
ngày càng tăng. Bão, lụt không chỉ gây thiệt hại to lớn cho nền kinh tế của đất
nước, mà còn ảnh hưởng nặng nề đến đời sống của người dân, nhất là người
nghèo [7].
Triệu Giang là một xã thấp trũng của tỉnh Quảng Trị. Hầu như năm nào
cũng chịu ảnh hưởng của lũ lụt, để lại hậu quả không nhỏ đến đời sống người
dân, cụ thể là: thiệt hại tính mạng; gây ngập úng nghiêm trọng trên diện rộng,
làm nhà cửa bị sập, trôi, hư hại; hàng trăm hécta hoa màu của dân bị mất
trắng. Để giúp người dân khắc phục hậu quả thiên tai. Nhà nước, các tổ chức
quốc tế và tư nhân đã tích cực thực hiện các hoạt động cứu trợ. Tuy nhiên,
hoạt động cứu trợ hiện nay chủ yếu bằng hiện vật.
Cứu trợ bằng hiện vật đã giúp người dân giải quyết những khó khăn
trước mắt, nhưng cũng thể hiện nhiều bất cập. Nhiều khi hàng cứu trợ không
đáp ứng được nhu cầu của người dân. Ngoài việc tốn nhiều chi phí cho vận
chuyển, bốc vác và trao hàng cứu trợ, cán bộ địa phương còn gặp nhiều khó
khăn trong việc tổ chức cấp phát do sự khác nhau và đa dạng về chất lượng,
mẫu mã, chủng loại hàng hoá, Hơn nữa, do công tác tổ chức cứu trợ không
tốt nên đôi khi bên cho đã đưa cả những hàng không thể dùng được đến vùng
thiên tai, do vậy đã làm mất đi ý nghĩa tốt đẹp của hoạt động cứu trợ.
So với cứu trợ hiện vật, cứu trợ bằng tiền mặt đáp ứng được nhu cầu
của người hưởng lợi, các hộ được giao quyền và sự lựa chọn trong việc sử
dụng tiền và khắc phục một số hạn chế mà cứu trợ hiện vật gặp phải. Tuy
nhiên cứu trợ bằng tiền mặt hiện là phương thức cứu trợ mới, ở Việt Nam
chưa có nhiều kinh nghiệm triển khai thực hiện và rất nhạy cảm nên việc tìm
ra một tiến trình cứu trợ phù hợp là rất cần thiết. Xuất phát từ yêu cầu thực tế
đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu tiến trình cứu trợ bằng
tiền mặt hợp lý sau thiên tai tại xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong, tỉnh

sát qua thời gian [13]. Ngoài ra, nghiên cứu của O'Brien và cộng sự: biến đổi
khí hậu là hiện tượng tự nhiên nhưng cũng tăng tốc bởi các hoạt động của con
người [10]. Hai định nghĩa này đều chỉ rõ biến đổi khí hậu là hiện tượng tự
nhiên nhưng có sự góp mặt của con người.
Còn nghiên cứu của ISDR (2008), đưa ra khái niệm biến đổi khí hậu rõ
ràng hơn đó là: biến đổi khí hậu là sự biến động giữa năm này và năm khác
được ghi nhận qua các số liệu thống kê của các điều kiện bất thường như:
bão, lụt, hạn hán bất thường [11]. Quan điểm ở đây về biến đổi khí hậu chính
là sự ghi nhận lại những hiện tượng bất thường theo thời gian.
2.1.1.2 Tình hình biến đổi khí hậu ở Việt Nam
Trong những năm gần đây diễn biến thiên tai và thời tiết ở Việt Nam đã
có nhiều biểu hiện bất thường và phức tạp hơn, lũ lụt xảy ra ở miền Trung và
đồng bằng sông Cửu Long có xu thế tăng, nhiều nơi xảy ra lũ lớn lịch sử. Lũ
quét xuất hiện ngày càng nhiều các tỉnh vùng núi phía Bắc, Đông Nam Bộ và
Tây Nguyên. Trung bình hàng năm có khoảng năm, sáu cơn bão và áp thấp
nhiệt đới có ảnh hưởng đến Việt Nam. Trong ba thập kỷ gần đây, số cơn bão
ảnh hưởng đến nước ta và mức độ ảnh hưởng có xu hướng tăng. Bão có
cường độ mạnh xuất hiện nhiều hơn, quỹ đạo bão có dấu hiệu dịch chuyển
3
dần về phía Nam với đường đi của bão phức tạp. Mùa bão kéo dài hơn trước
kia, có năm bão xuất hiện sớm vào các tháng đầu năm, kéo dài cho đến cuối
năm, khuynh hướng ngày càng có nhiều cơn bão ảnh hưởng đến Nam bộ [8].
Một nghiên cứu mới đây của Trần Công Minh thuộc viện khí tượng học
Synốp cho thấy rõ các cơn bão và áp thấp nhiệt đới hình thành trên khu vực
Nam và giữa biển Đông tăng rõ rệt.
Năm 2007 ở các tỉnh, thành phố duyên hải miền trung trong thời gian
gần hai tháng liên tiếp đã xảy ra 5 đến 6 đỉnh lũ nối tiếp nhau. Cuối tháng 10
đầu tháng 11 năm 2008 mưa lũ trên diện rộng đã gây ngập úng nghiêm trọng
nhiều địa phương đồng bằng, trung du Bắc bộ. Năm 2009, bên cạnh hàng
chục trận dông lốc, mưa đá, lũ quét, lũ bùn đá,… đã có 10 cơn bão hoạt động

ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác
động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp. Tóm lại, theo
quan điểm này thì rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu
tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy
ra cho con người. Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo
lường được, vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro có thể
mang đến những tổn thất mất mát cho con người nhưng cũng có thể mang lại
những lợi ích, những cơ hội. Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể
tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những rủi ro tiêu cực, đón nhận
những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai [1].
Con người ngày càng hứng chịu nhiều rủi ro hơn do ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu. Sự thay đổi khí hậu mà đặc trưng nổi bật nhất là sự nóng lên
toàn cầu đưa đến những hiện tượng mới lạ như bão tố, các luồng gió nóng,
tác động xấu đến cây trồng và con người. Các nguồn nước cạn kiệt dẫn đến
thiếu nước dùng và tăng các bệnh truyền nhiễm, các thảm họa thiên nhiên như
động đất, giông bão, lũ lụt có thể sẽ xảy ra ở nhiều nơi. Nguyên nhân sâu xa
của những rủi ro này do sự phát triển không bền vững ở nhiều nước [1].
2.1.3 Các trường phái an sinh xã hội
2.1.3.1 Khái niệm an sinh xã hội
An sinh xã hội (ASXH ): Chỉ sự bảo vệ của xã hội đối với những thành
viên của mình, bằng một loạt những biện pháp công cộng, chống đỡ sự hẫng
hụt về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập vì
ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, thiên tai, thất nghiệp,
5
tàn tật, tuổi già và chết, kể cả sự bảo vệ chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình có
[5].
Hệ thống ASXH được xây dựng có sự khác nhau giữa các quốc gia trên
thế giới. Tuy nhiên, có thể thấy những cơ chế chủ yếu của nó bao gồm: bảo
hiểm xã hội, cứu trợ xã hội (còn gọi là cứu tế xã hội), các chế độ trợ cấp từ
quỹ công cộng, các chế độ trợ cấp gia đình, sự bảo vệ do người sử dụng lao

đạo, xuất hiện các trại tế bần, các nhà thương làm phúc, vv. Đến giai đoạn
cách mạng công nghiệp, hoạt động CTXH trở nên rất cần thiết và đã có sự tổ
chức khá chặt chẽ. Những người lao động và những người nghèo đã tập hợp
nhau lại dưới các hình thức phường hội để giúp đỡ nhau trong cuộc sống,…
Song song với các hoạt động cứu tế của nhà thờ Thiên Chúa giáo và các tổ
chức tôn giáo khác, các hoạt động cứu trợ từ thiện, nhân đạo của cá nhân và
các tổ chức xã hội cũng phát triển nhanh. Gần đây, các hoạt động CTXH đã
có sự tham gia chặt chẽ của các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ hoạt
động CTXH chuyên nghiệp. Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) đã đưa CTXH
vào nội dung của bảo đảm xã hội [9].
Ở Việt Nam, CTXH xuất phát từ truyền thống đạo đức lâu đời của dân
tộc Việt "lá lành đùm lá rách" và rất phong phú về hình thức. Hiện nay,
CTXH được Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm và là một trong những
chính sách lớn của Nhà nước [9].
CTXH còn được coi như là "lưới đỡ cuối cùng" trong hệ thống các lưới
đỡ an sinh xã hội. Vì vậy nó được coi là chế độ đảm bảo cộng đồng mang tính
nhân đạo, nhân văn rất cao, thể hiện tình người rõ rệt [9].
Tuy nhiên, hoạt động cứu trợ không chỉ là của cá nhân, tổ chức bất kỳ
trong xã hội mà trách nhiệm chính là của nhà nước. Nhà nước có trách nhiệm
cao nhất trong việc tổ chức các hoạt động cứu trợ xã hội, với tư cách là đại
diện của xã hội. Các chính sách, pháp luật về cứu trợ xã hội do nhà nước ban
hành, xây dựng là cơ sở quan trọng để các tổ chức, cơ quan, cá nhân tiến hành
các hoạt động cứu trợ xã hội, đồng thời là tiêu chuẩn đảm bảo sự công bằng,
minh bạch, đúng đắn và tính hợp pháp của cứu trợ xã hội.
- Bảo hiểm xã hội:
Là biện pháp bảo đảm, thay đổi hoặc bù đắp một phần thu nhập của
người lao động do mất việc làm thông qua một quỹ tiền tệ được tập trung từ
sự đóng góp của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo
7
an sinh xã hội. Bảo hiểm xã hội là trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội

có đoàn cẩn thận phân loại, có đoàn để nguyên đai nguyên kiện và chia trực
8
tiếp tại địa phương. Ai dùng vừa cỡ nào thì lấy cỡ đó. Ông Cao Văn Hùng ở
xã Minh Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình) thuộc gia đình thiệt hại nặng nề trong
đợt lũ vừa qua. Hay tin có đoàn cứu trợ về, ông cố chen chân để hy vọng nhận
được cái quần, cái áo "chi viện" nào đó mặc vừa cơ thể ốm nhom sau lũ. Vậy
nhưng thử đi thử lại chẳng có cái nào vừa cả, ông đành lắc đầu nói: "Cỡ to
quá, chắc có Tây mới mặc được!" [6].
Xảy ra tình trạng nơi thừa, nơi thiếu:
Nhiều đoàn tổ chức mua, gom nhiều cơ số thuốc chữa bệnh đến cứu trợ
cho bà con. Đoàn trước đến trao những loại thuốc chữa bệnh, làm sạch nước
và môi trường nhưng trao chưa xong thì đoàn sau đã tới. Thuốc chồng lên
thuốc nên nhiều đơn vị đã tự nhận thuốc về cho nhân dân, không thông qua
cán bộ y tế dự phòng cũng như cán bộ huyện nên xảy ra tình trạng nơi thừa,
nơi thiếu. Chuyện xảy ra ở xã Thượng Hóa (Minh Hóa, Quảng Bình), trong 2
ngày có 2 đoàn cứu trợ đến khám chữa bệnh và mang 2 cơ số thuốc tặng
UBND xã nhưng phía y tế dự phòng chưa nắm được. Vậy là cán bộ y tế dự
phòng huyện mang thuốc xuống cho xã nhưng đành chở quay về huyện vì cơ
số thuốc đã dư thừa [6].
Đối với bà con vùng thường xuyên ngập lũ, sự chia sẻ với họ, đôi khi
một câu hỏi động viên là đủ. Còn những thứ vật chất phục vụ cho sinh hoạt
thì cũng tốt nhưng tất cả chỉ được một khoảng thời gian ngắn mà thôi. Còn
điều quan trọng nhất đó là cách giúp họ có điều kiện phục hồi sản xuất để
đảm bảo cuộc sống lâu dài. Hiện tại, những người dân vùng rốn lũ rất cần
được sự giúp đỡ về cây giống, con giống để họ khôi phục sản xuất. Mong
rằng sự quan tâm của các tổ chức sẽ giúp đỡ người dân đứng dậy sau trận lũ
lịch sử này [6].
Người dân xin cứu trợ những thứ thiết thực:
Tại sân UBND xã Hưng Lam (Hưng Nguyên, Nghệ An), khi nhận quà
cứu trợ, chị Phạm Thị Lý, ở xóm 6 đã khóc. Chị cho biết, hiện chồng chị đã

bây giờ cũng nan giải. Rơm rạ hư, cỏ xanh thì ngập chết hết, người dân vùng
ngập lụt Hương Thủy giờ đang rất khó khăn trong việc chăn nuôi gia súc.
Trước mắt, xã đang chỉ đạo tiến hành khẩn trương triển khai kế hoạch sản
xuất vụ đông xuân và chỉ đạo người dân trồng cỏ để chăn nuôi” [6].
10
PHẦN III. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là những hộ được nhận cứu trợ
tiền mặt sau thiên tai từ các chương trình dự án. Ngoài ra, cán bộ lãnh đạo của
địa phương gồm cán bộ thôn, xã và cán bộ nằm trong ban cứu trợ cấp huyện,
tỉnh cũng là đối tượng nghiên cứu của đề tài này.
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: nghiên cứu này được thực hiện tại 5 thôn của xã Triệu
Giang đó là: Trà Liên Đông, Trà Liên Tây, Tả Kiên, Phú Áng, Phước Mỹ,
Đây là những thôn thường xuyên được nhận cứu trợ hàng năm khi thiên tai.
- Phạm vi thời gian: số liệu phục vụ cho nghiên cứu bao gồm số liệu thứ cấp
qua các năm từ 2008-2010, và số liệu sơ cấp năm 2010.
3.2 Nội dung nghiên cứu
- Tình hình cơ bản của xã Triệu Giang
+ Điều kiện tự nhiên
+ Điều kiện kinh tế xã hội
- Thiệt hại và nhu cầu của người dân khi lũ
+ Thiệt hại của xã khi lũ
+ Nhu cầu người dân khi lũ
- Thực trạng hoạt động cứu trợ sau thiên tai ở Triệu Giang
+ Hoạt động cứu trợ sau thiên tai ở Triệu giang
+ Tình hình và kết quả sử dụng hàng cứu trợ của người dân
+ Các tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt của các tổ chức
+ Ưu nhược, điểm của các hình thức cứu trợ

+ Phỏng vấn người am hiểu:
Những người cung cấp thông tin nòng cốt gồm: thành viên ban cứu trợ
cấp thôn, xã; thành viên ban cứu trợ thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã
hội; thành viên ban cứu trợ Hội chữ thập đỏ cấp tỉnh, huyện, Nhằm thu thập
các thông tin về việc phân phát hàng cứu trợ trong lũ, sau lũ, cơ quan phối
hợp thực hiện, loại hình cứu trợ, tiến trình cứu trợ bằng tiền mặt, các khó
khăn khi thực hiện hoạt động cứu trợ.
+ Thảo luận nhóm
- Nhóm cán bộ khoảng 8 người bao gồm: thành viên ban cứu trợ cấp xã,
trưởng thôn của các thôn đã được nhận cứu trợ. Mục đích tìm hiểu tiến trình
cứu trợ trước đây, ưu ,nhược điểm của của các tiến trình cứu trợ, những khó
khăn khi thực hiện các tiến trình cứu trợ đó, các tiêu chí để chọn hộ, các vấn
đề xảy ra khi phát tiền. Công cụ đã được áp dụng trong thảo luận nhóm: phân
tích liệt kê, sắp xếp ưu tiên đã được sử dụng để thu thập các thông tin này.
- Nhóm người dân khoảng 12 người trong đó có 6 hộ được nhận hỗ trợ từ dự
án Irish Aid, ECHO và nhà nước còn 6 hộ không được nhận hỗ trợ. Mục đích
nhằm kiểm tra lại thông tin điều tra, lấy thông tin cấp cộng đồng về ưu nhược
điểm của các hình thức cứu trợ, ý kiến đánh giá về cách thức thực hiện của
các dự án cứu trợ. Công cụ thảo luận nhóm: liệt kê, sắp xếp ưu tiên sẽ được
sử dụng để thu thập các thông tin trên.
3.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Tất cả số liệu được nhập và xử lý bởi chương trình Excel. Các số liệu
được phân tích trên các nội dung chủ yếu: thông tin chung về hộ, thiệt hại của
hộ trong 3 năm khảo sát, nhu cầu của hộ trong lũ và sau lũ, số tiền mà hộ
nhận được qua 3 năm, tình hình sử dụng hàng cứu trợ, mức hỗ trợ, tiến trình
cứu trợ của các tổ chức.
13
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 Tình hình cơ bản của xã Triệu Giang
4.1.1 Điều kiện tự nhiên

C. Lượng mưa trung bình hàng năm từ 2.500-
2.700mm, cao hơn mức trung bình cả nước, nhưng nhìn chung phân bố không
đều tập trung chủ yếu từ tháng 9 đến tháng 12. Do vậy, rất dễ xảy ra thiên tai,
lũ lụt.
Thủy văn: đặc điểm thủy văn của xã triệu giang bị chi phối bởi con sông
Thạch Hãn. Sông có chiều dài 155 km, bắt nguồn từ dãy núi Trường
Sơn ở phía Tây tỉnh Quảng Trị và đổ ra biển Đông qua Cửa Việt. Sông có
lưu lượng dòng chảy trung bình năm khoảng 130 m³/giây. Từ khi công trình
thủy lợi Nam Thạch Hãn hoàn thành (cuối thập niên 1970) thì dòng sông
14
Thạch Hãn mùa hè cạn trơ đáy, có thể lội bộ qua sông đoạn thị xã Quảng Trị
và nhiều đoạn khác; mùa lũ thì nước dâng cao ngập toàn bờ kênh. Để giải
quyết tình trạng này năm, 2006 chính quyền sở tại cho xây dựng các điểm
tràn trên bờ đập kênh để chia lũ dòng sông. Nhưng lũ vẫn gây ảnh hưởng rất
lớn cho xã Triệu Giang về mùa mưa.
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội xã Triệu Giang
Tìm hiểu về điều kiện kinh tế của xã là cần thiết để có thể hiểu được
tiềm năng, thế mạnh cũng như khó khăn của địa bàn nghiên cứu. Chúng tôi đã
tìm hiểu điều kiện kinh tế- xã hội của xã ở một số chỉ tiêu khác nhau và kết
quả được thể hiện ở bảng 1.
Bảng 1: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Triệu Giang, 2010
Các chỉ tiêu Đơn vị tính Số lượng Tỉ lệ (%)
Tổng diện tích tự nhiên Ha 713,86 100
Diện tích đất canh tác nông nghiệp Ha 353,15 49,47
Diện tích đất ngư nghiệp Ha 0 0
Diện tích đất phi nông nghiệp ( bao
gồm đất ở, và đất chuyên dùng)
Ha 291,6 40,85
Đất chưa sử dụng Ha 69,11 9,68

nghèo được điều chỉnh năm 2010, của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
(300.000 đồng/người/tháng cho khu vực nông thôn và 390.000
đồng/người/tháng cho khu vực thành thị) thì số hộ khá trong xã là 268 hộ
chiếm 25%, hộ trung bình có 625 hộ chiếm 58%, hộ nghèo có 180 hộ chiếm
17%, cho thấy số hộ nghèo trong xã còn khá nhiều, các hộ này lại rất dễ bị
ảnh hưởng bởi thiên tai lũ lụt.
Tóm lại, xã Triệu Giang là một xã có điều kiện tự nhiên gặp nhiều khó
khăn bởi thời tiết. Mức độ phụ thuộc của kinh tế vào nông nghiệp cao, cơ cấu
ngành nghề kém đa dạng,… Do vậy người dân sống trong địa bàn xã rất dễ bị
tổn thương bởi nguy cơ về thiên tai.
16
4.1.2.2 Đặc điểm các hộ khảo sát
Đặc điểm chung của các hộ được khảo sát trong nghiên cứu này được
được thể hiện qua các chỉ tiêu về: tuổi chủ hộ, loại hộ, trình độ văn hóa của
chủ hộ, số lao động, số nhân khẩu, thu nhập của hộ/năm, hiện trạng nhà ở, số
thuyền ghe. Các đặc điểm này liên quan đến khả năng ứng phó, mức độ thiệt
hại và nguy cơ bị tác động bởi thiên tai của các hộ khảo sát (bảng 2).
Bảng 2: Thông tin chung của các hộ khảo sát
n=80 hộ
Chỉ tiêu Đơn vị tính Hiện trạng Tỷ lệ (%)
Tuổi chủ hộ Tuổi 60,89 -
Trình độ văn hóa Lớp 5,53
-
Hộ nghèo Hộ 79 98,75
Hộ trung bình Hộ 1 1,25
Hộ khá Hộ 0 0
Số khẩu/ hộ Khẩu 3,34 -
Số lao động/ hộ Lao động 1,20 -
Số nhân khẩu/ lao động Khẩu 2,81 -
Nhà vẫn còn tốt Cái 26 32,5

và của chính các hộ.
Tóm lại, trình độ văn hóa của chủ hộ là thấp, độ tuổi trung bình lại cao,
với thu nhập chính từ nghề nông, mà số người ăn theo còn nhiều nên các hộ
rất khó thoát nghèo. Trong khi đó số nhà tạm bợ còn nhiều và phương tiện
phòng tránh thiên tai, lũ lụt rất ít, lại ở vùng thấp trũng nên các hộ rất dễ bị
ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt.
4.2 Thiệt hại và nhu cầu của người dân khi thiên tai
4.2.1 Thiệt hại của xã khi thiên tai
4.2.1.1 Thiệt hại của toàn xã
Nghiên cứu về mức độ thiệt hại của xã là cần thiết để có thể hiểu được
những tổn thất chung của xã sau thiên tai. Đồng thời, là cơ sở để đánh giá nhu
cầu và xác định mức cứu trợ phù hợp. Chúng tôi đã tìm hiểu tình hình thiệt
hại của xã sau thiên tai ở một số chỉ tiêu khác nhau và kết quả được thể hiện ở
bảng 3.
18
Bảng 3: Tình hình thiệt hại do lũ lụt của xã Triệu Giang qua các năm
Thứ
tự
Chỉ tiêu Đơn vị tính
Năm
2008 2009 2010
1 Diện tích ngập lụt Ha 529,82 713,86 652,3
3 Thời gian ngập Ngày 1 5 3
4 Thiệt hại về người
- Người bị chết Người 0 0 0
- Người bị thương Người 0 7 0
5 Lương thực, lạc đậu, bị hỏng Tấn 25,6 244,87 67,8
6 Các công trình thủy lợi M
3
0 17633,5 10150,75

Trong 3 năm qua thì năm 2009 là có mức độ thiệt hại lớn nhất. Năm 2008 là
năm chịu ảnh hưởng thiên tai ít nhất, những thiệt hại trong năm này chủ yếu
là thiệt hại trong trồng trọt chăn nuôi, các thiệt hại về dịch vụ, cơ sở hạ tầng là
không nhiều.
Năm 2009, do bão đổ bộ nhanh, nước lũ dâng cao, bờ đê sạt lỡ làm 24
nhà bị sói lỡ móng, gió mạnh cộng nước cao làm 5 nhà bị sập, 5 nhà bị tốc
mái, trên toàn xã có 982 nhà bị ngập lụt. Gây thiệt hại không chỉ trong nhà mà
cả ngoài đồng, bão đã làm 244,87 tấn lương thực bị hư hỏng nặng, 93,9 ha
cây trồng nông nghiệp bị ngập úng, tổng diện tích đất bị sát lỡ lên tới 2000 m
3
(bao gồm sạt lỡ đất ở, đất 2 bên bờ sông, đất canh tác). Ngoài ra, công trình
giao thông, cơ sở hạ tầng cũng bị thiệt hại nghiêm trọng (bảng 3).
Số liệu bảng 3 cũng cho thấy, năm 2010 mức độ thiệt hại là không lớn,
tuy nhiên diện tích ngập lụt trên toàn xã là khá rộng, bị ngập tới 652,3 ha, làm
hoa màu đang canh tác bị hỏng. Thiệt hại về các công trình thủy lợi cũng
không nhỏ lên tới 10150,75 m
3
(bao gồm các khối bê tông và bằng đất của
đập ngăn mặn), đường giao thông thôn bị hỏng tới 3500m, gây khó khăn cho
việc đi lại ở một số điểm trong xã. Năm 2010, không có nhà bị tốc mái ,bị
sập, thời gian ngập lũ cũng ít hơn so với năm 2009, nhưng số nhà ngập lụt
cũng khá nhiều lên tới 679 cái. Trong năm này diện tích đất sạt lỡ lên tới
1000m
3
. Nguyên nhân là do nước chảy mạnh làm sạt lỡ bờ sông. Theo dự
đoán của một số hộ sống ở đây chỉ trong vòng 3-4 năm nữa các hộ sống gần
bờ sông của thôn Trà Liên Đông sẽ mất đất ở.
Thiệt hại về người trong cả 3 năm là không lớn, nặng nhất năm 2009 có
7 người bị thương. Tuy nhiên, sau lũ thì hầu như trong gia đình nào cũng có
người bị bệnh. Mưa lũ kéo dài cũng làm cho các hộ buôn buôn bán, các hộ

21
Bảng 4: Tình hình thiệt hại về đời sống của hộ qua các năm
n=80 hộ
Chỉ tiêu Mức độ
Năm
2008 2009 2010
Người mắc bệnh do lụt - 83 86 86
Thiệt hại nhà cửa
0% 44 20 35
<10% 33 31 35
10-30% 1 9 4
30-50% 2 12 4
>50% 0 8 0
Đất ở
0% 27 23 26
<10% 48 38 44
10-30% 5 10 6
30-50% 0 5 4
>50% 0 4 0
Tổn thất lương thực
0% 28 12 24
<10% 48 18 39
10-30% 1 19 9
30-50% 3 17 8
>50% 0 14 0
( Nguồn: Phỏng vấn hộ, 2011)
Năm 2008 và năm 2010 không có hộ nào bị thiệt hại nặng, đa số các hộ
đều ở mức độ thiệt hại nhẹ dưới 10%. Tuy nhiên, ở một số hộ có mức độ thiệt
hại khá lớn như: năm 2010, có tới 8 hộ thiệt hại 30-50% lương thực thực
phẩm dự trữ; về đất ở có 4 hộ thiệt hại 30-50%, nhà ở cũng có mức thiệt hại

Đất nông nghiệp
0% 27 23 24
<10% 44 19 34
10-30% 3 13 7
30-50% 5 15 12
>50% 1 10 3
Khác
0% 74 73 73
<10% 6 5 7
10-30% 0 2 0
30-50% 0 0 0
>50% 0 0 0
( Nguồn: Phỏng vấn hộ, 2011)
23
Kết quả ở bảng 5 cho thấy, thiệt hại trong sản xuất kinh, doanh là lớn
hơn so với thiệt hại trong đời sống về cả mức độ và số hộ bị ảnh hưởng. Nhìn
chung, năm nào các hộ cũng bị thiệt hại, nhưng năm 2009 là năm có mức thiệt
hại lớn nhất.
Năm 2008, là năm có mức thiệt hại thấp nhất, các thiệt hại trong năm
này tập trung vào đất đai, cây trồng, hoa màu là chính. Về đất đai chỉ có 6 hộ
bị thiệt (mức thiệt hại >30%). Đối với cây trồng không có hộ nào ở mức thiệt
hại nặng (ở mức >50%), chỉ có 11 hộ thiệt hại (mức thiệt hại 10-30%) cây
trồng đang canh tác. Ngoài ra hoạt động chăn nuôi, buôn bán, các nghề phụ
khác cũng bị ảnh hưởng nhưng rất thấp.
Năm 2009, các thiệt hại chính là cây trồng, vật nuôi, đất nông nghiệp
với mức tổn thất cao ( >50%) với tỷ lệ số hộ lần lượt là 35; 42; 10. Nguyên
nhân do lũ lớn nên cây trồng hoa màu bị ngập úng trên diện rộng, một số cây
ăn quả bị ngã đỗ do bão. Các vật nuôi bị thiệt hại là do nước lũ cuốn trôi, tổn
thất này kéo theo ô nhiễm môi trường nặng do xác vật nuôi bị trôi ngâm nước
trong nhiều ngày làm bốc mùi khó chịu. Đất nông nghiệp trong năm này bị

2 là chỗ trú ẩn có 16,25% số hộ khảo sát, trường hợp này thường rơi vào các
hộ có nhà cửa tạm bợ, ở vùng thấp trũng, gần bờ sông, trong lũ nhu cầu về
nước uống cũng khá cần thiết, thường là do các hộ không có dụng cụ chứa
nước dự trữ, hoặc chủ quan không chuẩn bị,
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status