PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phá Tam Giang - Cầu Hai, là một hệ thống đầm phá ven biển miền Trung,
chạy dọc bờ biển theo chiều từ Bắc xuống Nam, được đánh giá là đầm phá ven biển
có kích thước lớn nhất Đông Nam Á.
Phức hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai bao gồm một loạt các đầm phá ven
biển nằm ở phía Bắc và phía Tây của Thành phố Huế.
Tam Giang - Cầu Hai liên quan đến 5 trong tổng số 9 huyện (trong đó có huyện
Phú Vang) ,thành thị của tỉnh Thừa Thiên Huế với 31 xã, tổng số dân khoảng
350.000 người. Khu vực đầm phá đang trở thành một trong những vùng kinh tế
trọng điểm, phát triển sôi động của tỉnh bởi đây là nơi có tiềm năng rất lớn về nuôi
trồng cũng như khai thác thủy sản.
Đã từ lâu nay, hầu hết người dân thuộc đầm phá nói chung và thị trấn Thuận
An thuộc huyện Phú Vang nói riêng, sinh sống bằng nghề nuôi trồng và khai thác
thủy sản trên vùng đầm phá. Nguồn lợi thu được từ vùng đầm phá này là tương đối
lớn, và là thu nhập chính của đa số hộ dân đây.
Sự phát triển của nguồn tài nguyên ở đây theo thời gian tỷ lệ nghịch với sự
phát triển dân số, đây là một mâu thuẫn rất lớn, thị trấn Thuận An - Phú Vang là
một điển hình cho điều này.
Trong vài năm trở lại đây, thị trấn Thuận An với tốc độ tăng dân số khá nhanh
cộng với phong trào nuôi trồng và đánh bắt thủy sản phát triển mạnh. Do cả cộng
đồng sinh sống lâu đời ở đây và từ nơi khác đến, nên tài nguyên vùng đầm phá này
ngày càng cạn kiệt và bình quân diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản trên đầu
người ngày càng bị thu hẹp, nói chung là tạo một áp lực lớn lên nguồn tài nguyên
đầm phá.
Nhằm mục tiêu quản lý và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên đầm phá, tỉnh đã
có chủ trương quy hoạch tháo dỡ ao vây để trả lại mặt nước tự nhiên cho đầm phá.
Nhiều vấn đề liên quan cần phải được xem xét thận trọng khi thị hiện chủ trương
này. Trong đó quyền sử dụng mặt nước là một trong những vấn đề quan trọng nhất
liên quan đến sinh kế của ngườI dân và cũng là một rào cản lớn nhất trong việc
1
- Nguồn lợi tự do khai thác: Là nơi mà quyền sở hữu tài nguyên không được xác
định rõ (hay mở), là nguồn lợi chung cho tất cả mọi người trong cùng phạm vi lãnh
thổ. Một số loại nguồn lợi đầm phá có thể xem là nguồn lợi mở tùy theo địa điểm và
thời gian cụ thể. Ví dụ bất cứ ngư dân nào cũng được vào đánh bắt ở những khu vực
ngoài nò sáo cố định hoặc trong những lúc nò sáo không hoạt động. Mặc dầu ranh
giới lãnh thổ được chính quyền và nhân dân địa phương công nhận, nhưng có thể
không được xác định rõ ràng trên thực địa đã làm tăng đặc điểm mở về cơ hội sử
dụng cho mọi ngư dân.
- Nguồn lợi thuộc sở hữu tư nhân: Là nguồn lợi mà người sở hữu được quyền không
cho người khác sử dụng và có quyền quy định việc sử dụng tài nguyên mình sở hữu.
3
Quyền đó có thể thuộc về cá nhân hoặc nhóm cá nhân. Những quyền đó thường
được nhà nước công nhận và bảo hộ việc thực thi, có tính độc nhất và có thể chuyển
nhượng. Một trang trại hay một hồ nuôi trồng thủy sản đã được giao quyền sử dụng
đất hợp pháp có thể coi là ví dụ về tài sản tư.
- Nguồn lợi thuộc sở hữu cộng đồng: Là nguồn lợi được nắm giữ bởi một cộng
đồng, được xác định gồm những người sử dụng độc lập nhưng không bao gồm
những người ngoài cộng đồng và có quy định về việc sử dụng giữa các thành viên.
Quyền này có thể bị thay đổi và không chuyển nhượng được. Cộng đồng như thôn
hay xã có thể có những vùng đầm phá được xác định rõ và được chính quyền giao
quyền sử dụng hợp pháp.
- Nguồn lợi thuộc sở hữu nhà nước: Là nguồn lợi mà chính quyền có quyền tuyệt
đối và tập trung đối với nó, là người ra quyết định đối với việc sử dụng và khai thác.
Ở Việt Nam, nhà nước nắm quyền sở hữu đối với tất cả các nguồn tài nguyên thiên
nhiên, vì thế tài nguyên thiên nhiên đầm phá có thể coi là tài sản nhà nước. Mặt
khác nhà nước ban hành và luật hóa các quyền sử dụng tài nguyên, vì thế định nghĩa
trên áp dụng đối với quyền sử dụng như là quyền sở hữu tài sản. Một số khu vực
đầm phá thuộc các xí nghiệp nhà nước sử dụng hoặc do các cơ quan nhà nước quản
lý cho mục đích phát triển kinh tế xã hội chung có thể được xem là sở hữu nhà nước
(Trương Văn Tuyển, 2001).
Sau khi chiến tranh kết thúc và đất nước thống nhất vào năm 1975, nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố sở hữu quốc dân đối với tất cả tài nguyên
thiên nhiên như chế độ sở hữu đang được áp dụng ở miền Bắc sau thời Pháp thuộc
(1954). Phong trào hợp tác hóa toàn quốc lúc này được thực thi trên vùng đầm phá.
Cơ chế quản lý thời kỳ tập thể hóa (1975 - 1989) có thể tóm tắc như sau: Việt
Nam đi theo mô hình phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Để có một nền kinh tế
tập thể và nhà nước toàn diện, vào năm 1958, Chính phủ đề ra cơ chế quản lý tập
trung và khởi xướng phong trào tập thể hóa với các đặc trưng là thiết lập sở hữu nhà
nước, sở hữu tập thể toàn bộ đất nông nghiệp và các phương tiện sản xuất khác.
Nông dân là những xã viên của các hợp tác xã hoặc công nhân các nông trường.
Đến năm 1960, 85,8% các hộ gia đình nông dân ở miền Bắc Việt Nam đã tham gia
vào các hợp tác xã nông nghiệp.
5
Chế độ phân phối thu nhập bình quân được áp dụng nhằm đảm bảo có sự chênh
lệch lớn giữa các hộ gia đình xã viên và công nhân. Việc trao đổi sản phẩm của các
hợp tác xã với nhà nước để đổi lại vật tư được tiến hành theo những kế hoạch được
cấp trên xây dựng. Các hộ gia đình và hợp tác xã hay tập đoàn sản xuất không được
phép điều chỉnh kế hoạch sản xuất theo nhu cầu của thị trường. Các hoạt động sản
xuất và tạo ra thu nhập được đặt dưới sự quản lý trực tiếp của cơ quan nhà nước về
hình thức sản xuất, khối lượng sản phẩm và giá cả trao đổi (Trương Văn Tuyển,
2001).
Mô hình hợp tác hóa trên đây cũng được áp dụng ở những vùng đầm phá đối
với cả hộ nông dân và ngư dân. Các khu vực đánh bắt đã được phân chia cho làng
dưới thời phong kiến được duy trì cho đến năm 1975, chủ yếu là theo hình thức
nguồn lợi mở. Sau 1975, Nhà nước vẫn thừa nhận hoạt động khai thác hiện có bằng
cách thống kê ngư cụ và áp dụng việc thu thuế tài nguyên. Các khu vực đầm phá
được chính thức phân chia cho các Đội hoặc các tập đoàn ngư dân quản lý (tương
đương với Hợp tác xã nông nghiệp). Từ 1975 đến 1980 ngư dân dăng ký khu vực
đánh bắt của mình để tham gia vào tập đoàn (hay đội).
Mặc dầu chính quyền cấp Huyện đảm trách việc thực hiện đăng ký, nhưng
nước với các tác động của các quy tắc truyền thống. Có thể có sự nhầm lẫn giữa
quyền sở hữu và chức năng quản lý bởi vì vấn đề quyền sử dụng (hay sở hữu)
nguồn lợi chưa được đem ra thảo luận công khai.
Vào năm 1994, Chỉ thị của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Thừa Thiên Huế về phát
triển kinh tế xã hội coi đầm phá là tiềm năng mạnh vào hàng thứ 2 sau du lịch, và
thông qua chính sách hỗ trợ phát triển NTTS. Theo chủ trương này, " toàn bộ mặt
nước có tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản" có thể vận dụng nghị định 64 của
Chính Phủ (1993) về giao đất cho hộ gia đình thực hiện NTTS. Như vậy, ngư dân
và nông dân giờ đây được phép chuyển đổi đầm phá và đất ven đầm phá thành các
vùng sản xuất NTTS và sau đó được đăng ký xin cấp quyền sử dụng đất. Nguồn lợi
đầm phá, nhất là diện tích mặt nước và đất đai giờ đây được mở rộng khu vực sở
hữu tư nhân về quyền sử dụng.
Theo chủ trương giao quyền sử dụng đất (Nghị Định 64, 1993), đất nông
nghiệp ven đầm phá được chia cho các hộ gia đình sử dụng lâu dài, hay được coi là
quyền sử dụng đất lâu dài. Bắt đầu từ năm 1993, toàn bộ tài nguyên đất và dân số ở
7
các địa phương được thống kê lại để thực hiện giao đất. Đất nông nghiệp đang canh
tác được chia theo nhân khẩu và chuyển quyền sử dụng đất cho hộ gia đình. Các
loại đất còn lại ( gồm đất chưa hoặc không có khả năng canh tác như bị thoái hóa,
đất bỏ hoang, đất công và vùng đầm phá ) thuộc quyền quản lý của chính quyền, mà
trực tiếp là UBND Xã [1].
Kinh tế cũng là một công cụ để quản lý tài nguyên đầm phá. Thuế khai thác,
NTTS thực chất là thuế sử dụng đất, mặt nước khai thác, NTTS. Thuế sử dụng đất,
mặt nước khai thác, nuôi trồng "được áp dụng như" thuế sử dụng đất "Tuy nhiên,
biện pháp này cũng chỉ thực hiện được vài năm đầu. Sau 1995, biện pháp này không
thực hiện được do nhiều lý do.
Bên cạnh những công cụ kinh tế để quản lý đầm phá, một trong những cách
thức quản lý đầm phá khá tốt hiện nay nhiều địa phương quan tâm là thành lập
"Hội nghề cá". Hội nghề cá của địa phương có đủ quyền hạn và nghĩa vụ trong
việc quản lý, sử dụng đầm phá. Hiện nay, 14 xã ở vùng Tam Giang - Cầu Hai có
ngoài thuê đất [4].
Điều 25 luật thủy sản có quy định các nội dung liên quan đến quyền của cá
nhân, tổ chức NTTS:
- Ðược cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất để NTTS, mặt nước biển để NTTS.
- Ðược Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm hại đến quyền sử dụng đất để
NTTS, mặt nước biển để NTTS hợp pháp của mình; được bồi thường thiệt hại khi
Nhà nước thu hồi vì mục đích công cộng, quốc phòng, an ninh trước khi hết thời
hạn được giao, cho thuê theo quy định của pháp luật [5].
Trong những năm trở lại đây, sự phát triển nuôi trồng và khai thác thủy sản
trong khu vực đầm phá phát triển ồ ạt, diễn biến phức tạp, thiếu sự quản lý và quy
hoạch chặt chẽ khiến nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt, sinh kế của cư dân hệ
đầm phá ngày càng khó khăn. Điều đó đòi hỏi cần có những chủ trương, chính sách
quản lý, quy hoạch khai thác và nuôi trồng thủy sản đầm phá phù hợp.
Nghị quyết số 11/NQ - TU ngày 20/10/1998 về phát triển kinh tế xã hội vùng
biển và đầm phá Thừa Thiên Huế giai đoạn 1998 được xem là văn bản nguồn về
mặt chủ trương quản lý đầm phá Tam Giang hiện nay ( chủ trương của Tỉnh ủy
Thừa Thiên Huế )
9
Theo đó, mục tiêu tổng quát phát triển kinh tế xã hội vùng đầm phá là : phát huy
mọi tiềm lực và lợi thế, tập trung xây dựng và phát triển kinh tế xã hội vùng đầm
phá trở thành một vùng phát triển năng động, toàn diện, bao gồm thủy sản, du lịch
Đến nay, UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế đã ban hành, đang soạn thảo và xây
dựng các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý đầm phá Tam Giang như sau:
- Quyết định số 3170/QĐ-UB ngày 06/12/2002 về việc phê duyệt quy hoạch tổng
quan phát triển NTTS vùng đầm phá ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, đến năm 2005
tổng diện tích nuôi theo các hình thức: thâm canh, bán thâm canh, quảng canh cải
tiến và quảng canh chắn sáo là 4.472ha (trừ diện tích nuôi chắn sáo giảm 458ha) và
đến năm 2010, con số này sẽ tăng thêm 1.467ha diện tích nuôi thủy sản nước lợ
(diện tích nuôi chắn sáo giảm thêm 300ha nữa). So với năm 2001, đến năm 2010
Bắc (từ Ninh Thuận tới Thừa Thiên Huế) thì hệ đầm phá
Tam Giang - Cầu Hai được đánh giá là tiêu biểu nhất về các giá trị khoa học và giáo
dục, văn hóa và thẩm mỹ, các lợi ích kinh tế từ khai thác thủy sản, du lịch, giao
thông Do đó đầm phá Tam Giang-Cầu Hai, từ lâu đã thu hút được sự quan tâm
nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều cơ quan, trường đại học và các tổ chức
khoa học trong và ngoài nước.
Trong lịch sử, đáng kể nhất là công trình “Ô châu cận lục” của nhà sử học
Dương Văn An, có từ thế kỷ XV đã khái quát được bức tranh toàn cảnh về sự hình
thành, thay đổi không chỉ về mặt sinh thái tự nhiên mà còn cả mặt xã hội nhân văn
tuy nhiên còn rất sơ khảo.
Trong “Đại nam nhất thống chí - Thừa Thiên Phủ” Quốc sử quán triều
Nguyễn cũng đã có công trình nghiên cứu đề cập đến sự đóng mở của các cửa biển
Tư Hiền, Thuận An ảnh hưởng đến quá trình trao đổi nước trong hệ thống đầm phá
Tam Giang-Cầu Hai. Nhìn chung những công trình này chỉ tập trung nhấn mạnh
những nghiên cứu về những điều kiện tự nhiên.
Trong 10 năm trở lại đây, đặc biệt là sau trận lũ lịch sử tháng 11/1999 đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu của các cá nhân, cơ quan, dự án trong và ngoài nước
liên quan đến vùng đầm phá đã có những thành quả nhất định góp phần tích cực cho
đào tạo, bảo vệ môi trường, giảm nhẹ thiên tai và phát triển kinh tế-xã hội của nhiều
địa phương [7]. Sau đây là một số kết quả nghiên cứu liên quan đến thực trạng
quyền sử dụng, quản lý và sử dụng tài nguyên đầm phá:
- Đề tài: "Chuyển dịch sở hữu quyền sử dụng tài nguyên và vấn đề quản lý
mặt nước vùng đầm phá Tam Giang", Trương Văn Tuyển, 1999 cho rằng: Ở Phú
Tân (nay thuộc thị trấn Thuận An) diện tích NTTS đã chiếm hầu hết toàn bộ diện
11
tích đầm phá, khu vực mà trước đây và gần đây vẫn còn là vùng đánh bắt tự nhiên.
Mặc dầu hầu hết các chủ sở hữu của các ao đất nuôi thủy sản và các ao vây lưới vẫn
đang trong quá trình đăng ký để xin quyền sử dụng đất hợp pháp, nhưng thực ra họ
đã thành công trong việc chiếm dụng mặt nước để nuôi trồng thủy sản. Những
người cùng sử dụng khu vực mặt nước này, ví dụ những ngư dân đánh bắt di động
rộng của phá; Có nhiều diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi sang mục đích
NTTS. Phần lớn việc chuyển đổi này là tự phát, không nằm trong quy hoạch hoặc
làm trước quy hoạch.
- Về vấn đề quy hoạch, trong "Báo cáo nghiên cứu sử dụng bền vững tài
nguyên hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai", Trường Đại học Kinh tế Huế, 2006,
nêu: Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách để quản lý và
sử dụng tài nguyên đầm phá, nhưng nhìn chung hiện trạng quản lý nuôi trồng, quản
lý khai thác thủy sản kể cả các hoạt động liên quan như quản lý đất đai, mặt nước,
quản lý môi trường của chính quyền các cấp còn nhiều yếu kém; Các chính sách
chủ yếu liên quan đến sử dụng tài nguyên đầm phá còn thiếu đồng bộ và hệ thống,
việc chỉ đạo thực hiện chưa triệt để nên kết quả thu được còn nhiều hạn chế.
13
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quyền sử dụng mặt nước của các hộ ngư
dân trên đầm phá thuộc thị trấn Thuận An (đầm Sam Chuồn).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại thị trấn Thuận An, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa
Thiên Huế.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Thu thập thông tin thứ cấp
Thông tin thứ cấp được thu thập bao gồm:
- Các tài liệu nghiên cứu sinh thái môi trường thủy vực đầm phá.
- Các tài liệu văn bản pháp luật nói chung, tài liệu kinh tế, xã hội, lịch sử liên
quan đến phá Tam Giang.
- Các tài liệu nghiên cứu về tự nhiên, quy hoạch, quản lý nghề cá trên phá Tam
Giang.
- Các luận văn, luận án có nghiên cứu về phá Tam Giang.
Các thông tin trên được thu thập ở UBND huyện Phú Vang, UBND thị trấn
không thu thập được từ phỏng vấn hộ thì liên hệ một cách linh động với các đối
tượng trên để tìm hiểu thêm. Thông tin thu được từ nguồn này để phục vụ mục đích
làm rõ, so sánh, kiểm chứng nguồn thông tin thu được từ cộng đồng.
3.3.3. Xử lý số liệu
Dùng công cụ Microsoft Excel để nhập và xử lý thông tin, số liệu thu thập
được. Xử lý bằng máy tính bỏ túi đối với những thông tin và số liệu đơn giản.
15
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Đặc điểm vùng nghiên cứu
4.1.1. Vị trí địa lý
Là thuỷ vực lớn với chiều dài 70km với diện tích 248.7 Km
2
, chiếm 4,3% diện
tích lãnh thổ, hay 17,2% diện tích đồng bằng Thừa Thiên Huế, nằm án ngự suốt
phần bờ biển phía Đông của tỉnh, hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai là hệ đầm
phá ven biển lớn nhất nước ta, thuộc vào loại lớn trên thế giới.
Vực nước hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai được hợp thành từ 3 phần khác
nhau theo tên gọi địa phương là phá Tam Giang rộng 52km
2
, Đầm Sam và Đầm
thuỷ Tú rộng 60km
2
và đầm Cầu Hai rộng 136.7km
2
. Phá Tam Giang kéo dài 24km
từ cửa sông Ô Lâu tới cửa sông Hương, rộng trung bình 2,5km, sâu trung bình1,6m,
dốc dần về phía cửa sông Hương, đạt độ sâu trên 2m. Đầm Sam – An Truyền và
Thuỷ Tú – Hà Trung kéo dài từ cửa sông Hương tới cửa sông Truồi, dài khoảng
33km, độ sâu trung bình 1,5 - 2m, rộng trung bình 1km. Đầm Cầu Hai tiếp nối như
nên chịu ảnh hưởng của hai miền, có cùng đặc điểm chung của vùng khí hậu nhiệt
đới gió mùa nhưng cũng có đặc điểm riêng của vùng tiểu khí hậu ven biển, một năm
có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 8 đến tháng 2 năm sau, mùa nắng từ tháng 3
đến tháng 7.
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm 25,4
0
C. Vào mùa khô nhiệt độ trung bình tháng
cao nhất (tháng 7) 29,2
0
C. Vào mùa mưa nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất (tháng
12) 17,8
0
C.
- Gió: Vùng phá chịu ảnh hưởng của hai luồng gió chính là gió Đông Nam, Tây
Nam (gió mùa mùa hạ) và gió Tây Bắc, Đông Bắc (gió mùa mùa Đông). Gió mùa
mùa Hạ thổi từ tháng 5 đến tháng 9, hướng thịnh hành là Nam, Đông và Tây Nam.
Tốc độ gió trung bình 1,3-1,6m/s. Gió mùa mùa Đông thổi từ tháng 10 đến tháng 4
17
năm sau, hướng thịnh hành là Tây Bắc, Tây và Đông Bắc. Tốc độ trung bình cao
hơn so với mùa hạ, đạt 1,6-1,9m/s. Khi có không khí lạnh tràn về, tốc độ gió đạt 17-
18m/s, tối đa đạt 20m/s.
- Dông: Trung bình 1 năm có 23 ngày có dông, các tháng thường có nhiều dông
xuất hiện là 4,5 và 9. Dông bất ngờ thường gây nhiều nguy hiểm cho thuyền bè, tác
hại cho sản xuất, môi trường và tai hại cho con người.
- Mưa : Lượng mưa trung bình năm 2550 mm/năm cao nhất (1999) là 5600mm,
thấp nhất (1989) 1750.9mm. Lượng mưa trên toàn lưu vực các sông đổ về hệ đầm
phá Tam Giang - Cầu Hai lớn nhưng phân bố không đều theo mùa. Mùa mưa từ
tháng 9 đến tháng 1 (năm sau), chiếm 78% lượng mưa cả năm. Hai tháng có lượng
mưa lớn nhất là tháng 10 và 11, trung bình 20,7 - 21,6 ngày có mưa, với lượng mưa
trung bình 580,6 - 795,6 mm/tháng. Đây cũng chính là mùa lũ, lụt ở vùng đầm phá.
vào
mùa khô. Chế độ thuỷ triều vùng này là bán nhật triều, biên độ giao động thuỷ triều
là 0,4 – 0,6m.
- Độ pH biến đổI theo mùa, giao động từ 7,5 vào mùa mưa lớn đến 8,5 vào mùa khô
4.1.4. Tài nguyên đất đai và mặt nước
Thị trấn Thuận An có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.703 ha, trong đó:
+ Đất nông nghiệp : 360 ha , chiếm 21,14 % diện tích đất tự nhiên, trong đó, diện
tích đất trồng lúa là 48ha, chiếm 13,33 % diện tích đất nông nghiệp, diện tích NTTS
là 312 ha, chiếm 86,67 % diện tích đất nông nghiệp của thị trấn.
Trong những năm gần đây, do nhận thấy được NTTS là ngành kinh tế mũi nhọn
với tiềm năng rất lớn trên toàn Huyện nói chung và thị trấn nói riêng, Tỉnh đã có
những chủ trương, chính sách khuyến khích phát triển NTTS, trong đó có nội dung
chuyển đổi mục đích sử dụng đất đai. Vì vậy đã có sự biến động rõ rệt về cơ cấu sử
dụng đất, nhất là đối với đất trồng lúa và đất NTTS ở thị trấn. Do ruộng ở đây đa số
là ruộng ven phá, trũng, bị nhiễm mặn hoặc không chủ động tưới tiêu, chỉ trồng lúa
được 1 vụ trong năm ( Đông Xuân ), kém hiệu quả, nên một lượng lớn diện tích đất
trồng lúa đã chuyển sang NTTS, thống kê năm 2004, diện tích đất NTTS là 270,12
ha, đến 2006 con số này là 312 ha.
Bảng 1: Cơ cấu đất tự nhiên của thị trấn Thuận An
LOẠI ĐẤT DIỆN TÍCH (ha) TỶ LỆ %
Đất nông nghiệp 360,0 21,2
Đất lâm nghiệp 74,0 4,3
Đất ở 74,5 4,4
Đất chưa sử dụng 1.030,5 60,5
19
Đất chuyên dùng 163,9 9,6
Tổng diện tích đất tự nhiên 1.703,0 100,0
Nguồn:Báo cáo quy hoạch sử dụng đất thị trấn Thuận An, 2006.
Diện tích mặt nước đầm phá thuộc thị trấn là 902 ha, trong đó có 274 ha thuộc
vào đất NTTS (khoanh sáo mùng: 130 ha, chiếm 41,67%; nuôi hạ triều : 144 ha,
tượng như rong câu, cua, cá, tôm nuôi vỗ, gọi là nuôi quảng canh chắn sáo.
Sau một thời gian thăng trầm, từ năm 1997 nghề NTTS bắt đầu phát triển
mạnh, với hình thức quai đê lấn phá tạo ao hồ ở vùng ven triều. đối tượng chính là
tôm sú theo phương thức nuôi quảng canh cải tiến.
Đối với thị trấn Thuận An, ao hạ triều và ao vây lưới vẫn chiếm tỷ lệ lớn. Trong
đó, ao vây lưới đang có xu hướng giảm dần do nhiều hoạt động quy hoạch đã diễn
ra, mặt khác, những ao ven bờ đang được chuyển dần sang ao hạ triều (đắp đê).
Hiện tại, ao cao triều vẫn chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều so với hai loại còn lại, nhưng
với những chương trình của Nhà nước như nêu trên thì trong tương lai, ao cao triều
sẽ đứng ở vị trí chủ đạo trong NTTS tại thị trấn nói riêng và các xã ven phá khác nói
chung, phát triển cùng với nó là kỹ thuật nuôi bán thâm canh và thâm canh với hiệu
kinh tế cao và môi trường đầm phá cũng được đảm bảo, tất nhiên, hình thức nuôi
quảng canh trên ao lưới sẽ được xóa bỏ hoàn toàn (chủ trương đến năm 2010 của
Tỉnh).
4.1.5. Đặc điểm kinh tế - xã hội
Cơ cấu kinh tế của thị trấn
Thị trấn Thuận An có cơ cấu ngành nghề sản xuất khá đa dạng và phong phú,
bao gồm : công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ thương mại, nông nghiệp,
lâm nghiệp, sản xuất ngư nghiệp, NTTS…
Đối với công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp thì thị trấn triển khai thực hiện đề
án phát triển tiểu thủ công nghiệp và ngành, nghề nông thôn của Huyện giai đoạn
21
2006 - 2010, vì vậy sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tiếp tục duy trì
mức tăng trưởng khá. Trong ngành có một số nghề đang phát triển như : sản xuất
nước đá cây, chế biến thủy hải sản, sữa chữa cơ khí, gò hàn cửa bông sắt, đóng và
sữa chữa tàu thuyền
Dịch vụ, thương mại : Các bãi tắm tại thị trấn Thuận An ngày càng phát triển
về số lượng và chất lượng, vì vậy nó thu hút ngày càng đông khách du lịch trong và
ngoài nước, góp phần làm tăng thu nhập cho người dân trong việc kinh doanh các
dịch vụ du lịch.
1,18% (kế hoạch là 1,1%), giảm 0,07% so với tỷ lệ tăng trung bình. Con số này có
xu hướng tiếp tục giảm theo hàng năm.
Y tế giáo dục
Về y tế, hoạt động khám chữa bệnh tại trạm ngày càng được nâng lên cả về số
lượng lẫn chất lượng, tạo được niềm tin trong nhân dân. Trong năm 2006 đã có
14.945 lượt người khám và chữa bệnh, trong đó trẻ em dưới 6 tuổi có 5.508 lượt.
Chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các chương trình y tế Quốc gia về chăm sóc sức khỏe
ban đầu, phòng chống các bệnh xã hội và một số dịch bệnh nguy hiểm, nhờ vậy trẻ
em trong độ tuổi được tiêm chủng phòng chống uốn ván và các bệnh xã hội đạt
100%, trẻ em dưới 5 tuổi, bà mẹ sau khi sinh được uống Vitamin A đạt 100%, bà
mẹ sau khi sinh được bổ sung Vitamin A liều cao đạt 96%.
Tăng cường công tác kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm và vệ sinh môi trường,
xử lý nước bằng hóa chất và giám sát chủ động phòng chống dịch bệnh không để
dịch bệnh xảy ra trên địa bàn. Điều tra lập danh sách đề xuất cấp phát bổ sung thẻ
khám chữa bệnh cho trẻ em dưới 72 tháng tuổi có 43 cháu, đưa số thẻ được cấp phát
lên 2.636 thẻ, đạt 102%. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 17%.
Triển khai chiến dịch truyền thông lồng ghép dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh
sản, kế hoạch hóa gia đình 3 đợt trong năm 2006, kết quả thực hiện các biện pháp
tránh thai đạt 148% kế hoạch, tỷ lệ sinh con thứ 3 còn 29%.
Về giáo dục đào tạo, chất lượng dạy và học ở các cấp học có chuyển biến tích
cực, tỷ lệ học sinh khá giỏi tăng, có nhiều tham gia thi học sinh giỏi cấp tiểu học,
THCS đạt giải của Huyện, Tỉnh. Kết thúc năm học 2005 - 2006 có 100% học sinh
tiểu học và 98% học sinh THCS đã tốt nghiệp.
23
Năm 2006 - 2007, tổng số học sinh đến trường là 4785 học sinh, trong đó: mẫu
giáo 623 cháu, tăng 6%; tiểu học 2589, tăng 3%; THCS 1537, tăng 11%; riêng
THPT tăng 10%, tỷ lệ trẻ em 6 tuổi đến trường đạt 99%. Xây dựng mới 8 phòng
học.
Cơ sở hạ tầng. Toàn thị trấn có:
- 1 trường Trung học Phổ Thông
Hiện tại, thị trấn Thuận An là 1 nút quan trọng trong hệ thống giao thông trên
đầm phá, nó thuộc vào tuyến giao thông Trung ương. Tuyến giao thông Trung ương
trên đầm phá được phân làm 3 đoạn :
- Cung đoạn đập Cửa Lác - cửa Thuận An, dài 26 km
- Cung đoạn cửa Thuận An - cửa vào đầm Cầu Hai, dài 31 km
- Cung đoạn đầm Cầu Hai, dài 10 km.
4.2.2. Nuôi trồng thủy sản
Như đã nêu, trước đây, khi những ngư dân sống ven phá bắt đầu biết tận dụng
mặt nước đầm phá để NTTS, họ đã dùng tre, lưới để vây lại thành từng ô trên phá
để tiến hành NTTS. Hình thức nuôi này phụ thuộc chủ yếu vào thiên nhiên. Sau một
thời gian, do số lượng ao vây ví quá nhiều, dày đặc nên tình trạng ô nhiễm đã xảy ra
và ngày càng trầm trọng. Để khắc phục tình trạng này, người dân đã tự động đắp đê
phần ao vây của mình, việc này cũng nhằm khẳng định quyền sở hữu mặt nước.
Nhiều ao được đắp hoàn toàn, cách biệt hoàn toàn với môi trường nước xung quanh,
những ao khác thì đắp một phần và vẫn vây lưới một phần, loại này vẫn trao đổi
nước với môi trường ngoài mỗi khi triều lên. Đây gọi là ao hạ triều (lấn phá - ao đất
trong lòng phá).
Nhờ thả giống hợp lý, lợi dụng chế độ thủy triều lấy nước tự nhiên, nuôi xen
ghép, cùng với việc tuận thủ quy trình kỹ thuật, NTTS trên ao hạ triều không gây ô
nhiễm môi trường đáng kể, đảm bảo cho việc phát triển của các diện tích nuôi khác.
Những vùng đất cao hơn, lúc trước là ruộng lúa, nay đa số đã chuyển đổi sang
NTTS do trồng lúa năng suất không cao. Những ao này gọi là ao cao triều. Ao cao
25