LỜI NÓI ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu nói chung môi trường đang bị ô nhiễm trầm trọng đặc biệt là
ở các nước đang phát triển . Việt Nam cũng nằm trong tình trạng này trong quá trình xây dựng
và phát triển kinh tế. Do vậy , bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề quan trọng được
Đảng và nhà nước ta rất quan tâm trong chiến lược phát triển chung về kinh tế xã hội trong
giai đoạn công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước . Để có một sự phát triển bền vững cần
phải có một chương trình hành động thống nhất và có thể bổ sung hỗ trợ lẫn nhau giữa phát
triển sản xuất với công tác bảo vệ và kiểm soát môi trường . Nếu không có một chính sách
đúng đắn về bảo vệ môi trường , nền kinh tế sẽ bị thiệt hại trước mắt cũng như lâu dài. Đồng
thời sự phát triển của đất nước cũng thiếu bền vững . Nhất là trong những năm gần đây do nền
kinh tế phát triển nước ta đang đi lên con đường công nghiệp hoá hiện đại hoá đã đẩy mạnh
quá trình đô thị hoá dẫn đến tình trạng môi trường đô thị ngày càng ô nhiễm . Do vậy trong
khuôn khổ bài tiểu luận triết học này em xin dựa vào cặp phạm trù triết học nguyên nhân - kết
quả để đề cập đến một số vấn đề bức xúc của ô nhiễm môi trường đô thị và một số biện pháp
khắc phục sự ô nhiễm môi trường đô thị .
Phần I : Lời nói đầu .
Phần II : Nội dung .
I, Vận dụng lý luận thực tiễn triết học :
1. Cặp phạm trù Nguyên nhân và kết quả :
2. Mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và kết quả
II, Vận dụng vào thực tế :
1. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến ô nhiễm môi trường đô thị .
2. Hiện trạng hậu quả của ô nhiễm môi trường đô thị .
III , Một số mâu thuẫn và cách giải quyết mâu thuẫn
Phần III : Kết luận chung.
I, VẬN DỤNG LÝ LUẬN TRIẾT HỌC
( cặp phạm trù nguyên nhân kết quả và mối quan hệ biện chứng giữa nguyên nhân và
kết quả )
1. Cặp phạm trù nguyên nhân kết quả :
Nguyên nhân là sự tác động giữa các mặt hiện tượng quá trình gây ra các biến đổi nhất
định.
cải thiện .
Nói chung , chúng luôn có mối liên hệ phổ biến với nhau tác động qua lại, qui định sự
thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau của sự vật hiện tượng, quá trình.
2
II . Vận dụng vào thực tế :
1. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến ô nhiễm môi trường đô thị :
Một kết quả do nhiều nguyên nhân và ngược lại , ô nhiễm môi trường
đô thị hiện nay do một số nguyên nhân cơ bản sau đây và từ một nguyên nhân ô nhiễm môi
trường cũng sinh ra nhiều kết quả.
Trong những năm gần đây do quá trình đô thị hoá và do tác động của cơ chế thị
trường giá đất tăng cao nên nhiều ao hồ bị lấp dần để xây nhà và công trình thậm chí có nơi
không còn ao và đất trống nữa dẫn đến tình trạng thiếu rãnh thoát nước, nước thải từ các hộ
gia đình tràn chảy ra đường vì không có hệ thống thoát nước điều này đã gây ô nhiễm môi
trường rất nghiêm trọng nhiều chỗ bị ngập ngay cả lúc trời không mưa có thể nói là "thiếu
nước sạch thừa nước bẩn".
Nhiều nhà máy trước đây nằm ở ngoại thành nay do đô thị hoá đã lọt vào giữa các đô
thị với dân cư đông đúc gây ô nhiễm môi trường cho những người sống xung quanh .
Hơn nữa việc mở rộng không gian đô thị sẽ dần dần chiếm dụng đất nông nghiệp, tài
nguyên đất bị khai thác triệt để tỷ lệ cây xanh và mặt nước trong đô thị bị giảm dẫn đến tình
trạng thiếu ôxy không khí ngột ngạt, ô nhiễm. Bề mặt đất thấm nước, thoát nước bị suy giảm
dẫn đến tình trạng ngập úng ở nội thành cũng như ngoại thành.Thực tế là tháng 8/2001 cả
thành phố Hà Nội bị ngập trong nước mưa vì nước không thoát được dẫn đến tình trạng ngập
úng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng trong thành phố .
Không thể không kể đến một nguyên nhân đó là sự bùng nổ về phương tiện giao thông
cơ giới trong đô thị vượt quá khả năng chịu tải của hệ thống giao thông gây ra tình trạng tắc
nghẽn giao thông, thải ra nhiều khí bụi độc hại (NO,CO),tiếng ồn gây ô nhiễm môi trường
không khí và tiếng ồn trầm trọng trong đô thị .
Đô thị hoá làm tăng dòng người di cư từ nông thôn ra thành thị làm tăng sức ép về nhà
ở và vệ sinh môi trường đô thị . Một số dân cư không tìm được chỗ ở và việc làm ổn định đã
lấn chiếm đất công tạo thành các xóm liều xóm bụi , nhà ổ chuột với điều kiện môi trường
trầm trọng trong mùa mưa ở rất nhiều nơi, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và sản xuất
kinh tế . Lấy ví dụ như trận mưa tháng 8 -2001 đã làm cả thủ đô tràn ngập trong nước mưa,
cán bộ công nhân viên không thể đi làm được và một số nhà máy
cũng bị đóng cửa vì cũng bị ngập dẫn đến sản xuất bị đình đốn ảnh hưởng đến phát triển kinh
tế của đất nước ta , hơn thế nữa nó còn ảnh hưởng đến sức khoẻ của người dân.
Tuy nhiên hiện nay ở Hà Nội đã xây dựng trạm bơm thoát nước Yên Sở bắt đầu nạo
vét sông, thoát nước nhằm giải quyết cơ bản tình trạng úng ngập trong mùa mưa nhưng hệ
thống thoát nước ở nội đô vẫn chưa được nâng cấp đáng kể nên tình trạng ngập úng trong thời
gian gần đây vẫn xảy ra nghiêm trọng
Nước thải bệnh viện : chứa rất nhiều mầm mống gây bệnh truyền nhiễm và các hoá
chất độc hại. Mà các nguồn nước thải này chỉ được xử lý sơ bộ lại thải trực tiếp vào nguồn
(
4
nước mặt đó chính là nguyên nhân chủ yếu gây nên ô nhiễm môi trường nước mặt ở đô thị
còn các nguyên nhân kia chỉ là nguyên nhân bên trong . Và cho dù nó là nhiều nguyên nhân
hay một nguyên nhân thì nó cũng gây nên nhiều kết quả bởi nó có mối liên hệ biện chứng với
nhau .
* Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước ở đô thị
Tình hình chung ở các đô thị là môi trường nước mặt đều là nơi tiếp nhận các nguồn
nước chưa được xử lý nên đã bị ô nhiễm có nơi bị ô nhiễm nặng . "Nồng độ chất ô nhiễm
trong nước mặt thường cao như chất rắn lửng lơ nhu cầu ôxy sinh hoá , nhu cầu oxy hoá
học , nitơrit , nitơrat gấp từ hai đến 5 lần thậm chí từ 10 đến 15 lần tiêu chuẩn cho phép
(TCCP) đối với nguồn nước mặt . Lượng hóa học côli vượt TCCP hàng trăm lần . Ngoài chất
ô nhiễm hữu cơ trên môi truờng nước mặt đô thị ở một số nơi còn bị ô nhiễm kim loại nặng
và hoá chất độc hại nặng như thuỷ ngân asen ,clo, phenon ” dẫn đến tình trạng sức khoẻ
ngày càng suy thoái số bệnh nhân tại khoa chống độc ở các bệnh viện ngày càng tăng nhanh
nhà nước đã phải đầu tư rất nhiều tiền vào chữa trị cho người dân và còn dẫn đến nhiều ảnh
hưởng khác.
b, Hiện trạng môi trường không khí :
* Ô nhiễm bụi rất trầm trọng
xã hội đồng thời cũng thấy được mức độ trầm trọng của sự ô nhiễm môi trường ảnh hưởng
như thế nào . Vậy em xin được đưa ra một số đề xuất về biện pháp giải quyết và khắc phục ô
nhiễm môi trường đô thị đó là :
+ Cần bổ xung chính sách thuế phí, quỹ môi trường chính sách về áp dụng công nghệ sạch
hơn , công nghệ ít chất thải , công nghệ xử lý chất thải .
+ Tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý kết hợp các công cụ quản lý có
tính mệnh lệnh . Đảm bảo công bằng các lợi ích về môi trường .
+ Tăng cường các biện pháp cưỡng chế tài chính đối với hành vi không tuân thủ quy định
bảo vệ môi trường .
+ Cần đẩy mạnh phong trào văn hoá công tác bảo vệ môi trường đó là khôi phục củng cố
phát huy truyền thống địa phương trong giữ gìn vệ sinh phường khu phố như phong trào trồng
cây xanh sạch đẹp
+ Vận động dân cư có ý thức bảo vệ môi trường , mỗi người dân tự mình phải có ý thức
bảo vệ môi trường xanh sạch đẹp
Môi trường có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong cuộc sống và sự phát triển của con người, của mỗi Quốc
gia, của toàn nhân loại. Bảo vệ môi trường là các hoạt động giữ cho môi trường xanh, sạch, đẹp, bảo
đảm cân bằng sinh thái. Trong sinh hoạt đời sốngvà phát triển kinh tế - xã hội không được làm ô nhiễm
môi trường, thường xuyên áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường trong sản xuất và sinh hoạt. Khai
thác và sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên; chăm sóc, bảo vệ các loài động vật quý
hiếm cần bảo tồn. Có các biện pháp ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xâu do con người và thiên nhiên
gây ra.
TCCS - Ngày 21-1-2009, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số 29-CT/W về tiếp tục đẩy
mạnh thực hiện Nghị quyết số 41-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX "Về bảo vệ môi trường trong
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước". Chỉ thị của Ban Bí thư đã đặt ra
nhiều nhiệm vụ mới, nhấn mạnh nhiều quan điểm mới, sâu sắc, có ý nghĩa chỉ đạo công tác
bảo vệ môi trường trong suốt thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thấu suốt mục tiêu, quan điểm của Đảng về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa
(
6
Thứ năm, bảo vệ môi trường phải được thực hiện thường xuyên, lâu dài và đòi hỏi phải có sự lãnh
đạo của Đảng, chỉ đạo và quản lý thống nhất của Chính phủ cũng như sự tham gia của các cấp, các
ngành và toàn xã hội. Đây là nhiệm vụ cấp thiết trong bối cảnh ô nhiễm, suy thoái môi trường đang
ngày càng nghiêm trọng, đã và đang ảnh hưởng xấu trực tiếp đến sức khỏe, môi trường sống của
nhân dân và phát triển bền vững đất nước. Để thực hiện công tác bảo vệ môi trường hiệu quả, cần
xác định những vấn đề ưu tiên, trọng tâm và cấp bách để xử lý, giải quyết, tránh thực hiện dàn trải.
Thứ sáu, Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong công tác bảo vệ môi trường, đại diện cho nhân dân
quản lý và bảo vệ môi trường, đem lại môi trường trong lành, sạch đẹp. Tăng cường quản lý nhà
nước là cần thiết và là nhiệm vụ cấp bách để đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường trong giai đoạn
mới, giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế. Hoàn
thiện thể chế và pháp luật bảo vệ môi trường theo hướng quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể, kết hợp giữa quản lý tài nguyên với bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực của bộ máy và cán bộ
làm công tác quản lý môi trường.
Thứ bảy, đẩy mạnh xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, có cơ chế, chính sách, khuyến khích cá
nhân, tổ chức, cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường. Tăng cường sự giám sát của cộng đồng, các
đoàn thể nhân dân đối với bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân. Mọi tổ chức,
cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường phải có trách nhiệm khắc phục, phục hồi, bồi thường thiệt
hại. Môi trường là tài sản quốc gia, Nhà nước với tư cách là đại diện có trách nhiệm quản lý và bảo vệ
môi trường sống cho nhân dân, có quyền buộc các tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi
trường phải bồi thường, khắc phục và phục hồi môi trường.
Đảng ta cũng chỉ ra mục tiêu bảo vệ môi trường về cơ bản, lâu dài là phải đạt được sự hài hòa giữa
tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường; mọi người đều có ý thức bảo vệ
7
môi trường và sống trong môi trường trong lành, sạch, đẹp và thân thiện với thiên nhiên. Mục tiêu này
bao trùm lên toàn bộ các hoạt động bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm phát triển bền vững đất nước.
Tuy nhiên, mục tiêu trước mắt là phải ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự
cố môi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra; khắc phục ô nhiễm môi
trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, phụchồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái;
quản lý, sử dụng hợp lý, bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học; từng bước
nâng cao chất lượng môi trường.
môi trường trong các khu công nghiệp tại 3 miền Bắc, Trung, Nam của Cục Bảo vệ môi trường vừa
qua cho thấy, hầu hết các ban quản lý khu công nghiệp đều không có bộ phận chuyên trách về quản
lý môi trường.
Công nghệ sản xuất ở một bộ phận lớn các doanh nghiệp vẫn là công nghệ lạc hậu, tiêu tốn nhiều tài
nguyên, năng lượng và sinh ra nhiều chất thải. Theo đánh giá của nhiều tổ chức nước ngoài, các
doanh nghiệp có công nghệ cao ở nước ta chỉ khoảng 20%, trong khi đó ở Phi-lip-pin, con số đó là
29%, Ma-lai-xi-a: 51% và Xin-ga-po: 73%. Công nghệ sạch, công nghệ thân thiện với môi trường hiện
vẫn là “xa xỉ” đối với phần lớn các doanh nghiệp. Sự ô nhiễm từ làng nghề có nguyên nhân chủ yếu là
do trang thiết bị, công nghệ sản xuất rất lạc hậu. Tại các làng nghề tái chế thép dân dụng, người ta sử
dụng chủ yếu các thiết bị cũ kỹ, lạc hậu nhập từ Trung Quốc; trong chế biến lương thực thì chủ yếu
sử dụng máy móc tự tạo, hiệu suất rất thấp. Điều này đã tạo thêm hậu quả xấu về ô nhiễm môi
trường lao động cho những người nghèo trong xã hội.
Việc thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường thời gian qua còn yếu kém, một phần do năng lực hạn
chế của Nhà nước trong việc đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường. Quan điểm phát triển bền
vững của Đảng chưa được nhận thức, tiếp thu và coi trọng. Nhiều cấp lãnh đạo của các bộ, ngành,
các tỉnh và thành phố vẫn coi phát triển kinh tế là ưu tiên số một. Phát triển kinh tế trước, xử lý ô
8
nhiễm môi trường sau, trong khi phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm là một trong những nguyên tắc cơ
bản của hoạt động bảo vệ môi trường. Tư tưởng này đã dẫn đến sự thỏa hiệp các mục tiêu môi
trường để nhận lấy những lợi ích về kinh tế.
Ở nước ta, rừng vẫn đang bị tàn phá, đa dạng sinh học bị đe dọa, môi trường đất, nước ở nông thôn
đang xấu đi do sử dụng phân bón, hóa chất và thuốc bảo vệ thực vật không hợp lý. Ở khu vực đô thị,
rác thải vứt bừa bãi, ô nhiễm không khí do sinh hoạt đang là vấn đề bức xúc. Nguyên nhân của các
vấn đề này là do những hạn chế trong năng lực tuân thủ pháp luật về môi trường của cộng đồng dân
cư. Một bộ phận người dân vẫn còn nghèo, sống chủ yếu dựa vào môi trường, vì mưu sinh mà phá
hoại môi trường. Những người nghèo ở vùng miền núi phía Bắc hay Tây Nguyên, vì không có đất
canh tác nên đã phá rừng để trồng trọt. Phương thức canh tác du canh du cư không bền vững, hủy
hoại tài nguyên mà vẫn không thoát được nghèo. Người nghèo ở vùng ven biển, sống chủ yếu dựa
vào đánh bắt ven bờ, sử dụng những phương tiện đánh bắt hủy diệt gây cạn kiệt nguồn lợi thủy sản,
làm cho bản thân họ ngày càng nghèo thêm. Người nghèo ở khu vực đô thị, do không có điều kiện
Ba là, hình thành ý thức giữ gìn vệ sinh chung, từ bỏ các phong tục, tập quán lạc hậu, các thói quen,
nếp sống không văn minh, thiếu vệ sinh, các hủ tục trong mai táng. Xây dựng công sở, xí nghiệp, gia
đình, làng bản, khu phố sạch, đẹp đáp ứng các yêu cầu về vệ sinh môi trường. Đa dạng hóa các dịch
vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường cho nhân dân. Quan tâm bảo vệ, giữ gìn và tôn tạo
cảnh quan môi trường. Thực hiện các biện pháp nghiêm ngặt để bảo vệ môi trường các khu di tich
lịch sử, danh lam thắng cảnh, nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái.
Bốn là, xây dựng và hoàn thiện chính sách và tiêu chuẩn môi trường phù hợp với quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế. Ngăn chặn việc lợi dụng rào cản môi trường trong xuất khẩu hàng hóa làm ảnh
hưởng xấu đến sản xuất, kinh doanh. Hình thành các cơ chế công nhận, chứng nhận phù hợp với
điều kiện trong nước và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường. Tăng cường năng lực kiểm soát, ngăn
9
chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi chuyển chất thải, công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường từ
bên ngoài vào nước ta.
Năm là, chấm dứt nạn đổ rác và xả nước thải chưa qua xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường vào các
sông, kênh, rạch, ao, hồ; xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường các lưu vực sông. Thu gom và xử lý
toàn bộ rác thải sinh hoạt và rác thải công nghiệp bằng các phương pháp thích hợp, trong đó ưu tiên
cho việc tái sử dụng, tái chế chất thải, hạn chế tối đa khối lượng rác chôn lấp, nhất là với các đô thị
thiếu mặt bằng làm bãi chôn lấp. Xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; kiên
quyết đình chỉ hoạt động hoặc buộc di dời đối với những cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng trong khu
dân cư nhưng không có giải phắp khắc phục có hiệu quả. Tăng cường lượng cây xanh dọc các tuyến
phố và vành đai xanh xung quanh đô thị.
Sáu là, bảo vệ nghiêm ngặt rừng tự nhiên, rừng ngập mặn; hạn chế đến mức thấp nhất việc mở
đường giao thông và các hoạt động gây tổn hại đến tài nguyên rừng; đẩy mạnh trồng rừng, phủ xanh
đất trống, đồi trọc và khôi phục rừng ngập mặn; phát triển kỹ thuật canh tác trên đất dốc có lợi cho
bảo vệ độ màu mỡ của đất, ngăn chặn tình trạng thoái hóa đất và sa mạc hóa đất đai. Nghiêm cấm
triệt để việc săn bắt chim, thú trong danh mục cần bảo vệ; ngăn chặn nạn sử dụng các phương tiện
đánh bắt có tính hủy diệt nguồn lợi thủy, hải sản; quy hoạch phát triển các khu bảo tồn biển và bảo tồn
đất ngập nước.
Bảy là, đưa nội dung môi trường và bảo vệ môi trường vào trường học. Sử dụng các phương tiện
thông tin đại chúng trong bảo vệ môi trường. Phát huy vai trò của các tổ chức, xã hội, đoàn thể, các
Đặc biệt đi sâu công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, học tập
và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, cải cách hành chính,… Qua
đó kịp thời biểu dương nhân tố mới, những điển hình tiên tiến trên các lĩnh
vực gắn với dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn và những sự kiện quan trọng của tỉnh
đi đôi với việc lên án, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, các tiêu cực xã
hội,… tạo sự đồng thuận trong nhân dân. Đặc biệt, việc tăng từ 2 lên 3 số báo
chữ Việt/ tuần đã phục vụ tốt hơn cho việc thông tin nhanh nhạy kịp thời và
đầy đủ đến cán bộ và nhân dân trong tỉnh.
Đối với các cơ quan báo chí trung ương, địa phương khác có trên 700
tin, bài viết về tỉnh Sóc Trăng. Nội dung các tin, bài phong phú, đa dạng phản
ánh đầy đủ tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương. Một
số bài viết rất sâu sắc về con người, nét văn hóa đặc trưng của tỉnh Sóc
Trăng; nêu nhiều tấm gương tổ chức, cá nhân điển hình tiên tiến trong học
tập và làm theo lời Bác. Bên cạnh đó các báo trung ương cũng có nhiều tin,
bài phản ánh các vấn đề tiêu cực trong tranh chấp đất đai, tài sản, quyền thừa
kế,…
Công tác quản lý nhà nước về báo chí tiếp tục được tăng cường. Công
tác xây dựng các VBQPPL và các Đề án, Dự án được thực hiện có hiệu quả
như Quy hoạch hệ thống báo chí in và Quy hoạch truyền dẫn phát sóng PTTH
tỉnh Sóc Trăng đến năm 2020, ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông
tin cho báo chí; kiểm tra việc thực hiện pháp luật, chính sách, chế độ về báo
chí đối với cơ quan báo chí của địa phương, QLNN tốt đối với các cơ quan
báo chí trung ương và khu vực tại địa phương.
Nhìn chung, năm 2009 là năm báo chí TW và địa phương đã thực sự
đồng hành cùng chính quyền địa phương vượt qua khó khăn mang lại thành
công chung của tỉnh. Báo chí Sóc Trăng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ
tuyên truyền các chủ trương lớn của tỉnh đến nhân dân nhằm nâng cao nhận
thức về tinh thần, trách nhiệm của nhân dân từ đó tạo chuyển biến tích cực
trong suy nghĩ, hành động của người dân góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm
vụ chính trị tại địa phương.
cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI; tuyên truyền về các ngày lễ
kỷ niệm và các sự kiện trọng đại của tỉnh và của đất nước; tiếp tục tuyên
truyền cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh”; phát hiện và nêu những tấm gương điển hình tiên tiến trong tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt khi tuyên truyền trên báo
chí, tránh lối viết chung chung, mà nên bám sát các điển hình tiên tiến ,
những tấm gương thật cụ thể trong cuộc sống đời thường xem họ đã học và
làm theo tấm gương của Bác như thế nào, từ đó góp phần nhân rộng ra toàn
xã hội. Ngoài ra cần quan tâm triển khai đề án phát triển Báo Điện tử tỉnh Sóc
Trăng trong thời gian sớm nhất.
Thứ ba, đối với Đài Phát thanh Truyền hình Sóc Trăng: thực hiện tốt
chức năng thông tin và định hướng dư luận, phải giúp người dân nhận thức
đúng đắn về những khó khăn, thách thức phải vượt qua, từ đó tăng cường
đoàn kết, phấn đấu toàn diện trong công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập
quốc tế. Bám sát các sự kiện xảy ra trong đời sống hàng ngày để thông tin
12
nhanh, đầy đủ và kịp thời, đáp ứng tốt nhu cầu của bạn nghe và xem đài góp
phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực; cổ vũ phong trào thi
đua yêu nước, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các tệ nạn
xã hội góp phần thực hiện dân chủ hóa xã hội. Không chạy theo thị hiếu tầm
thường của một bộ phận bạn nghe, xem đài, không vì lợi nhuận, vì lợi ích
kinh tế cục bộ mà xa rời chức năng, nhiệm vụ, thương mại hóa; không để
chương trình chính luận thấp so với các chương trình giải trí. Bên cạnh đó,
từng bước nâng cao chất lượng nội dung, hình thức của các tin, bài, phóng
sự; chú trọng công tác đào tạo, nâng cao đạo đức chính trị, chuyên môn
nghiệp vụ cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên; quan tâm triển khai Dự án
công trình xây dựng Trạm phát xạ AM, Dự án đầu tư, mua sắm hệ thống
thiết bị truyền dẫn tín hiệu truyền hình,…
Hai là, đối với cơ quan quản lý nhà nước về báo chí: Tiếp tục quán triệt
sâu sắc các văn bản, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước cũng như của Tỉnh ủy, UBND
kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010 theo Nghị Quyết tỉnh Đảng bộ lần thứ XI.
Năm 2008 là năm thứ ba thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng,
đất nước ta tiếp tục đạt được những thành tựu về kinh tế - xã hội. Đảng,
Nhà nước, các cấp, các ngành và toàn dân quan tâm đến sự nghiệp th«ng
tin vµ truyÒn th«ng, luôn tạo điều kiện để ngành Thông tin và Truyền thông
phát triển ngày càng lớn mạnh xứng đáng là ngành mũi nhọn, tiên phong
của đất nước.
14
KẾT LUẬN CHUNG
Qua phân tích trên đây chúng ta có thể thấy rõ thực trạng ô nhiễm môi trường cũng
như mức độ ô nhiễm môi trường đô thị ở Việt Nam trong quá trình xây dựng và phát triển đất
nước . Do vậy Chính Phủ cần tìm ra nhiều biện pháp ngăn chặn sự suy thoái môi trường nói
chung và môi trường đô thị nói riêng. Vậy nhiệm vụ của Chính Phủ là phải bảo vệ môi trường
song Chính Phủ không thể tự mình làm được tất cả. Do vậy để bảo vệ môi trường cần có sự
tham gia của mọi công dân. Hợp sức cùng nhau không còn là điều lựa chọn mà là điều cần
thiết . Bởi vì tất cả chúng ta cùng hít thở một bầu không khí , uống một dòng nước , lao động
nghỉ ngơi và giải trí trong cùng một môi trường . Do đó nhà nước cần tiếp tục có chính sách
khuyến khích cộng đồng dân cư thực hiện hoá chủ trương của Đảng "bảo vệ môi trường là sự
nghiệp của toàn Đảng toàn dân " làm tốt nhiệm vụ hoá bảo vệ môi trường trước mắt cần xây
dựng chương trình bảo vệ môi trường để phát triển bền vững từ cộng đồng là cách tiếp cận
phù hợp nhất cho phát triển bền vững môi trường đất nước Thế kỷ 21 .
Qua đây em cũng xin chân thành cảm ơn thầy giáo Phạm Văn Duyên cùng các thầy cô
giáo và bạn bè đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành tiểu luận này .
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tạp chí bảo vệ môi trường số 15,6 và 10 năm 2001
2. Báo cáo dự án "điều tra khảo sát đánh giá hiện trạng và định hướng bảo vệ môi
trường đô thị Việt Nam"
15
3. Cục môi trường .Báo cáo kết quả quan trắc môi trường .
4. Sách giáo khoa triết học Mác -Lênin-2001- ĐHQLKDHN