tiểu luận thực trạng ô nhiễm không khí ở việt nam - Pdf 15

B GIO DC V ĐO TO
TRƯỜNG ĐI HỌC KHOA HỌC HUẾ
KHOA MÔI TRƯỜNG

TIỂU LUẬN
Đề tài: Thực trạng ô nhiễm không
khí ở Việt Nam
Giaïo viãn hæåïng dáùn : Nguyễn Bắc
Giang
Sinh viãn thæûc hiãûn : Nguyễn Đạo Phong
Trần Trung
Låïp :Khoa học môi trường k34
Huế,10 tháng 5 năm 2011
Thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam GVHD:Nguyễn Bắc Giang
Khoa: Môi trường
MC LC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 3
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 3
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường không khí 4
2.2 Nguồn gây ô nhiễm không khí 4
PHẦN 3: PHƯƠNG PHP NGHIÊN CỨU 5
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 5
4.1 Thực trạng ô nhiễm không khí ở một số nơi trên thế giới 5
III. Hậu quả 15
a. Ảnh hưởng đến sức khỏe 15
b. Gây thiệt hại kinh tế 16

1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu sẽ làm rõ những thực trạng về vấn đề ô nhiễm môi
trường ở Việt Nam hiện nay,đồng thời phân tích các nguyên nhân dẫn đến
thực trạng đó để từ đó đưa ra được các giải pháp nhằm khắc phục tình
trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam hiện nay
1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Môi trường không khí tại Việt Nam
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Môi trường không khí tại Việt Nam
Thời gian: đầu thế kỷ XXI đến nay
SVTH: Nguyễn Đạo Phong-Trần Trung Lớp: Khoa học môi trường k34
3
Thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam GVHD:Nguyễn Bắc Giang
Khoa: Môi trường
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường không khí
Ô nhiễm không khí là sự có mặt của các vật thể lạ hoặc một sự biến
đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không
sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa ( do
bụi ).
2.2 Nguồn gây ô nhiễm không khí
Có rất nhiều nguồn gây ô nhiễm không khí. Có thể chia ra thành
nguồn tự nhiên và nguồn nhân tạo.
* Nguồn tự nhiên:
+ Núi lửa: Núi lửa phun ra những nham thạch nóng và nhiều khói
bụi giàu sunfua, mêtan và những loại khí khác. Không khí chứa bụi lan
toả đi rất xa vì nó được phun lên rất cao.
+ Cháy rừng: Các đám cháy rừng và đồng cỏ bởi các quá trình tự
nhiên xảy ra do sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô như tre, cỏ.

tiêu nghiên cứu đã được công bố lấy từ sách, báo và trên internet .
Phương pháp miêu tả: Miêu tả tình trạng ô nhiễm môi trường không
khí đô thị ở Việt Nam, hậu quả và giải pháp hạn chế ô nhiễm
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1 Thực trạng ô nhiễm không khí ở một số nơi trên thế giới
 Hồng Kông (Trung Quốc) báo động vì màn “mây khói độc”
Mức độ ô nhiễm không khí ở Hồng Kông đã tăng cao kỷ lục, với Cơ
quan bảo vệ môi trường cảnh báo màn “mây khói độc” bao phủ thành
phố là một hiểm họa đối với dân chúng.
SVTH: Nguyễn Đạo Phong-Trần Trung Lớp: Khoa học môi trường k34
5
Thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam GVHD:Nguyễn Bắc Giang
Khoa: Môi trường
Chính quyền Hồng Kông
cho hay chỉ số ô nhiễm không
khí (API) hiện nay đã tăng gấp
đôi và dân chúng được khuyên
ở trong nhà hoặc tránh tiếp
xúc lâu với những khu vực
đông xe cộ. Chỉ số API hiện
nay đang ở mức cao kỷ lục”,
người phát ngôn của cơ quan
Bảo vệ môi trường cho hay.
Đường chân trời cùng vịnh nổi tiếng của Hồng Kông thường xuyên
bị phủ trong màn sương mờ khói bụi, được cho là thảm họa đối với sức
khỏe của dân chúng và khiến một số người tránh xa khỏi trung tâm tài
chính quốc tế này.
Tháng 7/2008, cơ quan môi trường thành phố đo được mức ô
nhiễm không khí là 202, thấp hơn nhiều so với con số kỷ lục 413 hiện
nay ở một nhà ga ven đường.

cũng cho thấy chất lượng không khí tồi tệ là nguyên nhân dẫn tới cái
chết của 4.300 người tại London, gây thiệt hại khoảng 2 tỷ bảng mỗi
năm.
 Moscow khói bụi mịt mờ
Tại Kremlin và Nhà thờ St. Basil, đường chân trời đã biến mất do
màn khói bụi dày đặc và độc hại bao trùm khắp thủ đô Moscow, khiến
rất nhiều trong số 10 triệu cư dân của thành phố này bị đau mắt, rát
họng.
Hôm 6/8/2010, Tổng thống
Dmitry Medvedev cùng các
quan chức y tế Nga đã tới
thăm một trạm cứu thương
Moscow. Ông được báo cáo
rằng số lượng các cuộc gọi
khẩn cấp trong thời gian gần
đây tăng 10%, liên quan tới
nắng nóng và khói mù. Khói
bụi từ hàng trăm đám cháy
rừng đã khiến cho lượng
carbon monoxide ở Moscow tăng gấp 5 lần mức được cho là an toàn,
theo Bộ Y tế Nga. Người dân thành phố được khuyến khích ở yên trong
nhà.
SVTH: Nguyễn Đạo Phong-Trần Trung Lớp: Khoa học môi trường k34
Ảnh 4: Người dân đi bộ tại trung tâm
Moscow trong làn khói dày đặc.
(Ảnh: Reuters)
7
Thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam GVHD:Nguyễn Bắc Giang
Khoa: Môi trường
Trả lời phỏng vấn báo RIA Novosti, các quan chức y tế so sánh mức

10
trung bình năm trong không khí xung quanh
một số đô thị từ năm 2005 đến 2009
Ghi chú : Tp. Hồ Chí Minh: số liệu trung bình của 9 trạm tự động
liên tục trong thành phố
Hà Nội, Đà Nẵng: số liệu từ một trạm tự động liên tục
tại 1 vị trí của mỗi thành phố
Nguồn: TTKTTV Quốc gia, 2010; Chi cục BVMT Tp. Hồ Chí
Minh, 2010
Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành
phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng trung bình lớn hơn trị số tiêu
chuẩn cho phép từ 2 đến 3 lần, ở các nút giao thông thuộc các đô thị này
nồng độ bụi lớn hơn tiêu chuẩn cho phép từ 2 đến 5 lần, ở các khu đô thị
mới đang diễn ra quá trình thi công xây dựng nhà cửa, đường sá và hạ
tầng kỹ thuật thì nồng độ bụi thường vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 -
20 lần
b. Ô nhiễm khí SO
2
:
Nói chung, nồng độ khí SO
2
trung bình ở các đô thị và khu công
nghiệp nước ta còn thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép.Trong các thành
phố, thị xã đã quan trắc thì ở các thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng,
Biên Hoà, Thủ Dầu Một, Vũng Tàu, Long An có nồng độ khí SO2 lớn
nhất, nhưng vẫn thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép tới 2 lần, ở các
thành phố khác còn lại, như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long, Thanh Hoá,
Vinh, Huế, Cần Thơ, Cà Mau, Mỹ Tho, nồng độ khí SO
2
trung bình

2
= 0,191mg/m
3
và khí CO = 12,67mg/m
3
.
SVTH: Nguyễn Đạo Phong-Trần Trung Lớp: Khoa học môi trường k34
10
Thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam GVHD:Nguyễn Bắc Giang
Khoa: Môi trường
Biểu đồ : Diễn biến nồng độ CO tại các tuyến đường phố của một số
đô thị 2002-2006
Nguồn: Chi cục BVMT TP. Hồ Chí Minh, Cục BVMT, 2007
d. nhiễm chì (Pb) trong không khí đô thị
Thực hiện chỉ thị 24/2000/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ở
nước ta đã sử dụng xăng không pha chì từ ngày 1-7-2001. Số liệu quan
trắc ô nhiễm giao thông cho thấy nồng độ chì trong không khí Hà Nội
trung bình năm 2002 giảm đi khoảng 40 - 45% so với cùng thời kỳ năm
trước; tương tự, ở thành phố Hồ Chí Minh nồng độ chì giảm đi khoảng
50%.
II. Nguyên nhân
a. Nguồn ô nhiễm không khí từ hoạt động công nghiệp
Công nghiệp hóa càng mạnh thì nhu cầu tiêu thụ năng lượng càng
lớn, nguồn ô nhiễm không khí càng tăng. Ta thấy nhu cầu tiêu thụ xăng
dầu trong nước ngày càng tăng và dự báo trong 25 năm tới còn tiếp tục
tăng cao .Nếu các Tiêu chuẩn về chất lượng xăng dầu không được thắt
chặt thì chúng ta sẽ phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm không khí đô thị rất
nghiêm trọng. Tiêu thụ xăng dầu là một trong những nguyên nhân phát
thải các chất độc hại như CO, hơi xăng dầu (H
m

thấy, hoạt động giao thông đóng góp tới gần 85% lượng khí CO, 95%
lượng VOCs.
Theo báo cáo môi trường quốc gia năm 2007, ô nhiễm không khí ở
đô thị do giao thông gây ra chiếm 70%. Xét theo các nguồn thải gây ô
nhiễm trên toàn quốc, hoạt động giao thông đóng góp khoảng 85%
SVTH: Nguyễn Đạo Phong-Trần Trung Lớp: Khoa học môi trường k34
Các phương tiện giao thông
đang góp phần làm tăng lượng
khí thải vào môi trường
12
Thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam GVHD:Nguyễn Bắc Giang
Khoa: Môi trường
lượng CO, 95% VOCs.
Mô tô, xe máy là phương tiện giao thông phổ biến nhất, chiếm 95% về
số lượng và đáp ứng 90% nhu cầu đi lại tại các thành phố lớm. Hàng
năm có khoảng 3 triệu mô tô, xe máy và 150.000 ô tô mới tham gia giao
thông. Mô tô, xe máy lưu hành chưa được kiểm soát khí thải. Đa số mô
tô, xe máy không được bảo dưỡng, sửa chữa trong quá trình sử dụng nên
mức phát thải và tiêu hao lớn. Ý thức bảo vệ môi trường kém. Đa số dân
không hiểu rõ tác hại của khí thải và tác dụng của bảo dưỡng, sửa chữa
đến giảm khí thải độc hại và tiết kiệm tiêu hao nhiên liệu. Tính đến 2010
có 1.394.858 xe ô tô đang lưu hành trong đó xe ô tô con 617.473, ô tô
khách 163.514 và ô tô tải 660.324. Tổng số xe mô tô, xe máy đang lưu
hành xấp xỉ 33.000.000 chiếc.
TT Ngành sản xuất CO NO2 SO2 VOCs
1 Nhiệt điện 4.562 57.263 123.665 1.389
3
Sản xuất công nghiệp, dịch vụ, sinh
hoạt
54,004 151,031 272,497 854

nồng độ bụi trong không khí ở các nơi có hoạt động xây dựng vượt trị số
tiêu chuẩn cho phép tới 10 - 20 lần.
d. Nguồn ô nhiễm không khí từ sinh hoạt đun nấu của nhân dân
Nhân dân ở nông thôn nước ta thường đun nấu bằng củi, rơm, cỏ, lá
cây và một tỷ lệ nhỏ đun nấu bằng than. Nhân dân ở thành phố thường
đun nấu bằng than, dầu hoả, củi, điện và khí tự nhiên (Gas). Đun nấu
bằng than và dầu hoả sẽ thải ra một lượng chất thải ô nhiễm đáng kể,
đặc biệt nó là nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí
trong nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của người dân. Trong
những năm gần đây nhiều gia đình trong đô thị đã sử dụng bếp gas thay
cho bếp đun bằng than hay dầu hoả.
SVTH: Nguyễn Đạo Phong-Trần Trung Lớp: Khoa học môi trường k34
14
Thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam GVHD:Nguyễn Bắc Giang
Khoa: Môi trường
Theo báo cáo hiện trạng môi trường của các tỉnh thành năm 2002, và
năm 2003, ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải
Phòng, Đà Nẵng, đặc biệt là ở các thành phố và thị xã của các tỉnh phía
Nam, một số gia đình có mức sống cao chuyển từ đun nấu bằng than,
dầu sang đun nấu bằng bếp gas ngày càng nhiều. Bếp gas gây ô nhiễm
không khí ít hơn rất nhiều so với đun nấu bằng than, dầu. Ngược lại, do
giá dầu hoả và giá điện tăng lên đáng kể, rất nhiều gia đình có mức thu
nhập thấp đã chuyển sang dùng bếp than tổ ong với số lượng lớn, bình
quân mỗi gia đình tiêu thụ khoảng 2kg than/ngày, gây ra ô nhiễm không
khí cục bộ nặng nề, nhất là lúc nhóm bếp và ủ than.
III. Hậu quả
a. Ảnh hưởng đến sức khỏe
Ô nhiễm không khí có những ảnh hưởng rất lớn đến sức khoẻ, đặc
biệt đối với đường hô hấp. Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy, khi
môi trường không khí bị ô nhiễm, sức khoẻ con người bị suy giảm, quá

Phú Thọ và Nam Định cho kết quả ước tính thiệt hại kinh tế do ô nhiễm
không khí tác động đến sức khoẻ trên đầu người mỗi năm trung bình là
295.000 đồng. Giả thiết, tổn thất về kinh tế do ô nhiễm không khí tác
động đến sức khoẻ đối với người dân Hà Nội và TP Hồ Chí Minh tương
tự như người dân ở Phú Thọ và Nam Định thì Hà Nội với 6,5 triệu dân,
mỗi ngày thiệt hại 5,3 tỷ đồng và TP Hồ Chí Minh với 7 triệu dân, mỗi
ngày thiệt hại 5,7 tỷ đồng. Thực tế, môi trường không khí ở các đô thị
lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng bị ô nhiễm cao
hơn so với các tỉnh Phú Thọ và Nam Định, nên thiệt hại về kinh tế do ô
nhiễm không khí thực tế còn cao hơn con số nêu trên.
c. Ảnh hưởng tới biến đổi khí hậu
Ô nhiễm không khí cũng đang ảnh hưởng tới điều kiện sinh sống của
con người, đa dạng sinh học và các hệ sinh thái. Ảnh hưởng tổng hợp
nhất là đối với sự biến đổi khí hậu. Vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu
đang diễn ra và trái đất đang nóng lên là do các hoạt động của con người
chứ không phải thuần tuý do biến đổi khí hậu tự nhiên. Do các hoạt
động của con người, đặc biệt là việc sử dụng nhiên liệu hoá thạch (than,
dầu, gas) trong công nghiệp, giao thông vận tải, nông nghiệp lượng
phát thải các loại khí nhà kính, đặc biệt là CO
2
không ngừng tăng nhanh
SVTH: Nguyễn Đạo Phong-Trần Trung Lớp: Khoa học môi trường k34
16
Thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam GVHD:Nguyễn Bắc Giang
Khoa: Môi trường
và tích lũy trong thời gian dài, gây ra hiện tượng hiệu ứng nhà kính, làm
biến đổi khí hậu toàn cầu .
4.2.2. Tại các vùng nông thôn
I. Thực trạng
a. Ô nhiễm môi trường hoạt động sản xuất nông nghiệp

giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Không chỉ trồng trọt, chăn nuôi mà tình
trạng phát triển nuôi trồng thủy sản tự phát, thiếu quy hoạch, thức ăn
thừa không được xử lý, việc sử dụng kháng sinh tùy tiện cũng dẫn tới ô
nhiễm môi trường xảy ra nghiêm trọng ở một số nơi.
b. Ô nhiễm môi trường nông thôn do rác thải sinh hoạt
Khi nói đến rác, nhiều người thường nghĩ đó là vấn đề cấp bách của
đô thị hay các thành phố lớn. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Với sự phát
triển của khoa học kỹ thuật, nhất là kỹ thuật sản xuất, đóng gói bao bì,
nhiều loại giấy, hộp đóng gói chủ yếu bằng ni lông, nhựa, thiếc…rất tiện
lợi góp phần làm thay đổi phong cách và tập quán sống của nhiều người
dân cư nông thôn đến thành thị.
Về nông thôn, chúng ta dễ
dàng nhận thấy ven làng, các bờ
sông, con ngòi, các túi rác, có
khi là cả một tải rác hay đống
rác “tự do nhảy dù” chẳng có
người nào thu gom, mới đầu còn
là một túi rác nhỏ, dần dà chúng
“tập kết” thành đống lớn dần lên
qua từng ngày tạo nên cảnh
quan “lạ mắt” ven đường làng,
mương máng, có khi còn làm tắc
dòng chảy. Bên cạnh đó rác thải ở các chợ quê đã đến hồi báo động, các
đống rác được chất đống lưu cữu rất nhiều ngày, ngay gần khu dân cư,
bốc mùi ô uế.
Mỗi năm, trong cả nước có hàng chục tấn rác thải sinh thải sinh hoạt
phát sinh và theo dự báo thì tổng lượng chất thải đó vẫn tiếp tục tăng lên
nhanh chóng trong thập kỷ tới. Theo ông Trương Đình Bắc - Trưởng
phòng Sức khoẻ và môi trường, cho biết nếu ở các đô thị lớn, trung bình
SVTH: Nguyễn Đạo Phong-Trần Trung Lớp: Khoa học môi trường k34

nóng bỏng đặt ra cho các làng nghề, nhất là các làng nghề tái chế kim
SVTH: Nguyễn Đạo Phong-Trần Trung Lớp: Khoa học môi trường k34
19
Thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam GVHD:Nguyễn Bắc Giang
Khoa: Môi trường
loại và dệt nhuộm, thuộc da. Kết quả phân tích chất lượng nước thải cho
thấy: Hàm lượng độc hại đang ở mức đáng báo động, vượt tiêu chuẩn
cho phép nhiều lần. Tại các làng nghề tái chế kim loại có nơi hàm lượng
Pb2+ vượt tiêu chuẩn cho phép tới 4,1 lần, Cu2+- vượt quá 3,25 lần.
Hàm lượng Phenol trong nước thải tại làng nghề tái chế giấy cũng vượt
quá tiêu chuẩn cho phép 10 lần.
Tại hầu hết các làng nghề chỉ tiêu BOD, COD, SS đều lớn hơn rất
nhiều so với tiêu chuẩn, các chất gây ô nhiễm này không được xử lý sẽ
phát sinh ra nhiều dạng khí gây ô nhiễm môi trường như CH4, H2S,
NH3 Các chất thải rắn nguy hại không được các làng nghề xử lý đến
nơi đến chốn mà chỉ được thu gom rất thủ công và đem chôn lấp đơn
giản ở các bãi chôn lấp hở, thậm chí là bị thải bỏ và đốt bừa bãi ngay
trên các con đê làng hoặc đổ xuống dòng sông cũng đang là nguồn gây ô
nhiễm đất, các chất thải rắn.
II. Nguyên nhân
a. Ô nhiễm môi trường hoạt động sản xuất nông nghiệp
Trước hết phải kể đến nguyên nhân từ nhận thức, ý thức, tập quán
canh tác của người dân.
Việc sử dụng hóa chất trong nông nghiệp như phân hóa học, thuốc
bảo vệ thực vật (BVTV) gồm: Thuốc trừ sâu, thuốc trừ nấm, thuốc diệt
chuột, thuốc trừ bệnh; thuốc trừ cỏ một cách tràn lan, không tuân thủ
thời gian cách ly sau khi phun thuốc và cả việc vứt bao bì thuốc BVTV.
Sử dụng phân bón thừa thãi gây tồn đọng trong đất, nước, ảnh hưởng
đến sức khoẻ con người. Việc sử dụng “phân chuồng tươi” liều lượng
lớn, không tuân thủ quy trình kỹ thuật, các mẫu đất, nước, rau quả được

chuyên ngành bảo vệ môi trường nên không hướng dẫn kịp thời, đầy đủ
những nội dung về bảo vệ môi trường để mọi người nắm và tự giác chấp
SVTH: Nguyễn Đạo Phong-Trần Trung Lớp: Khoa học môi trường k34
21
Thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam GVHD:Nguyễn Bắc Giang
Khoa: Môi trường
hành (An Giang). Ở một số nơi cán bộ địa phương cũng chưa chú trọng
việc giáo dục, tuyên truyền cho người dân biết và chấp hành.
Theo chúng tôi nguyên nhân chính của ô nhiễm môi trường ở nông thôn
do rác thải sinh hoạt là vì thói quen của người dân đã bao đời nay là
“nhắm thấy tiện là quăng” nên quanh nhà là bãi chứa rác và thiếu ý thức
của người dân trong việc xử lý rác.
c. Ô nhiễm làng nghề
1. Do các làng nghề hình thành và phát triển tự phát, quy mô nhỏ lẻ,
chưa có quy hoạch.
2. Trang thiết bị, công nghệ sản xuất của các làng nghề còn rất lạc
hậu
3. Người dân còn chưa ý thức được việc phải giữ gìn, bảo vệ môi
trường.
4. Quá tận dụng sức lao động giá rẻ thay vì phải đầu tư đổi mới
công nghệ
5. Không có biện pháp nào xử lý ô nhiễm.
6. Do giá thành sản phẩm nên người ta vẫn phải sử dụng các
phương pháp thủ công gây ô nhiễm môi trường cao.
7. Hệ thống cống rãnh thoát nước bị lấp bởi chất thải rắn,gây ngập
úng mỗi khi mưa xuống.
8. Tình trạng ô nhiễm của tất cả các làng nghề mới chỉ được khảo
sát và đưa ra những con số đáng báo động, nhưng chưa có giải
pháp khắc phục cụ thể, hiệu quả từ các ban ngành chức năng.
SVTH: Nguyễn Đạo Phong-Trần Trung Lớp: Khoa học môi trường k34

nghiêm trọng nhất tới sức khỏe cộng đồng, các bệnh phổ biến là bệnh hô
SVTH: Nguyễn Đạo Phong-Trần Trung Lớp: Khoa học môi trường k34
23
Thực trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam GVHD:Nguyễn Bắc Giang
Khoa: Môi trường
hấp, bệnh ngoài da, thần kinh và đặc biệt là ung thư. Số người lao động
có sức khỏe yếu kém (loại 4 hoặc 5) chiếm tỷ lệ rất cao.
Theo đánh giá của các chuyên gia môi trường, ở hầu hết các làng
nghề không chỉ sức khoẻ của những người sản xuất, mà cả người dân
xung quanh đang bị chất thải rắn và nước thải xâm hại. Tác động không
nhỏ sức khỏe người lao động, các bệnh nghề nghiệp như đường hô hấp,
đau mắt, suy nhược thần kinh, bệnh ngoài da, đường ruột ngày càng
gia tăng. Nước ngầm ở nhiều nơi bị ô nhiễm nặng về mặt sinh học và
hóa học làm suy giảm chất lượng cuộc sống ở nông thôn. Một số làng
nghề có đặc thù sản xuất dẫn tới các bệnh mãn tính nguy hiểm như ung
thư, quái thai, nhiễm độc kim loại nặng. Thậm chí, nhiều dòng sông
chảy qua các làng nghề cũng bị ô nhiễm nặng, nhiều ruộng lúa, cây
trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm khí từ các làng nghề.
Mặt nước bị thu hẹp dần và ngày càng mất vệ sinh. Một số ít làng đã
xây dựng được hệ thống cống rãnh thoát nước trước đây thì nay do bị
lấp bởi chất thải rắn, gây ngập úng mỗi khi mưa xuống.
4.3 Các biện pháp hạn chế ô nhiễm không khí
Mặc dù có sự khác nhau giữa hai khu vực đô thị và nông thôn nhưng
các biện pháp tổng quát sau đây đều có thể áp dụng cho cả hai:
Một là, hoàn thiện tổ chức cơ quan quản lý môi trường không khí:
Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của hệ thống các cơ quan
quản lý môi trường không khí từ cấp trung ương đến địa phương theo
hướng phân định rõ chức năng của các cơ quan, đơn vị và đầu mối về
quản lý môi trường không khí trong hệ thống các cơ quan quản lý môi
trường.

các thành phố lớn, khu công nghiệp để giám sát, phát hiện các vấn đề ô
nhiễm không khí, hoặc các nguồn khí thải gây ô nhiễm môi trường
không khí.
Bảy là, tăng cường áp dụng một số biện pháp nhằm kiểm soát, giảm
phát thải chất ô nhiễm vào môi trường không khí đô thị: Tăng cường
phương tiện giao thông công cộng và khuyến khích phát triển của các
phương tiện giao thông sử dụng năng lượng sạch như cồn nhiên liệu,
biodiesel và điện. Ứng dụng các giải pháp giảm thiểu phát thải chất ô
SVTH: Nguyễn Đạo Phong-Trần Trung Lớp: Khoa học môi trường k34
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status