Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA NGÂN HÀNG
TIỂU LUẬN NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Tiểu luận
Thực trạng cho vay của Doanh nghiệp
trong năm 2008 Giảng viên hướng dẫn: TS. Lại Tiến Dĩnh
Học viên thực hiện:
Lớp: Cao Học – Ngân Hàng – Ngày 1
- Cho vay trung hạn là các khoản vay cĩ thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60
tháng.
- Cho vay dài hạn là các khoản vay cĩ thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên.
1.2 Nguyên tắc vay vốn
Việc vay vốn ngắn hạn là nhu cầu tự nguyện của khách hàng và là cơ hội để ngân
hàng cấp tín dụng và thu lợi nhuận của mình. Tuy nhiên, cấp tín dụng liên quan đến
việc sử dụng vốn huy động của khách hàng nên phải tuân thủ theo những nguyên tắc
nhất định. Nĩi chung, khách hàng vay vốn của ngân hàng phải đảm bảo hai nguyên t ắc:
1.2.1 Sử dụng vốn đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín dụng
Việc sử dụng vốn vay vào mục đích gì do hai bên, ngân hàng và khách hàng thoả
thuận và ghi vào trong hợp đồng tín dụng. Đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích
thoả thuận nhằm bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn vay và khả năng thu hồi nợ vay sau
này. Do vậy, về phía ngân hàng trước khi cho vay cần tìm hiểu rõ mục đích vay vốn
của khách hàng, đồng thời phải kiểm tra xem khách hàng cĩ sử dụng vốn đúng như
mục đích đã cam kết hay khơng. Điều này rất quan trọng vì việc sử dụng vốn vay đúng
mục đích hay khơng cĩ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thu hồi nợ sau này. Việc khách
hàng sử dụng vốn vay khơng đúng mục đích dễ dẫn đến thất thốt và lãng phí khiến vốn
vay khơng tạo ra được ngân lưu để trả nợ cho ngân hàng.
Về phía khách hàng, việc sử dụng vốn vay đúng mục đích gĩp phần nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn vay, đồng thời giúp doanh nghiệp đảm bảo khả năng hồn trả nợ cho
ngân hàng. Từ đĩ, nâng cao uy tín của khách hàng đối với ngân hàng và củng cố quan
hệ giữa khách hàng và ngân hàng sau này.
1.2.2 Hồn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp
đồng
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
Hồ trả nợ gốc và lãi vốn vay là một nguy ên tắc khơng thể thiếu trong hoạt động
cho vay. Điều này xuất phát từ tính chất tạm thời nhàn rỗi của nguồn vốn mà ngân
hàng sử dụng để cho vay. Đại đa số nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cho vay là
vốn huy động từ khách hàng gửi tiền, do đĩ, sau khi cho vay trong một thời hạn nhất
- Thực hiện dự án di dời nhà máy vào khu cơng nghiệp, khu chế xuất, dự án đầu
tư xây dựng mới.
1.5 Hồ sơ vay vốn
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
Khi cĩ nhu cầu vay vốn, khách hàng gửi cho tổ chức tín dụng một bộ hồ sơ vay
vốn bao gồm giấy đề nghị vay vốn và các tài liệu cần thiết chứng minh đủ điều kiện
vay vốn. Khách hàng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác và hợp
pháp của các tài liệu gửi cho tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng phù hợp với đặc điểm
cụ thẻ của từng loại khách hàng, laọi cho vay và khoản vay. Thơng thường bộ hốn sơ
vay vốm gồm cĩ:
- Giấy đề nghị vay vốn.
- Giấy tờ chứng minh tư cánh pháp nhân của khách hàng, chẳng hạn như giấy
phép thành lập, quyết định bổ nhiệm giám đốc, điều lệ hoạt động.
- Phương án sản xuất kinh doanh và kế hoạch trả nợ, hoặc dự án đầu tư.
- Báo cáo tài chính của htời kỳ gần nhất.
- Các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh nợ vay.
- Các giấy tờ liên quan khách nếu cần thiết.
Trên đây kà hướng dẫn về các tài liệu khách hàng phải xuất trình trong hồ sơ vay
vốn. Khi cụ thề hố hồ sơ vay vốn, các NHTM cĩ thể yêu cầu khách hàng nộp cho ngân
hàng những tài liệu cần thiết phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng ngân hàng.
Những giấy tờ quy định trong bộ hồ sơ vay vốn như trình bày trên đây được nhân
viên tín dụng hướng dẫn và yêu cầu khách hàng lập và nộp vào ngân hàng cùng với
giấy đề nghị vay vốn. Sau khi nhận hồ sơ vay, ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định và ra
quyết định cho vay.
1.6 Thẩm định và quyết định cho vay
Để căn cứ ra quyết định cho vay hay khơng cho vay, các tổ chức tín dụng đều cĩ
xây dựng quy trình xét duyệt cho vay theo nguyên tắc bảo đảm tính độc lập và phân
định rõ ràng trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm giữa khâu thẩm định và quyết định cho
vay. Khi thẩm địmh, tổ chức tín dụng sẽ xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu qủa của
phục vụ đời sống khả hti, khả năng tài chính của mình và của người bảo lãnh trước khi
quyết định cho vay; (2) Từ chối yêu cần vay vốn của khách hàng nếu thấy khơng đủ
điều kiện vay vốn, hoặc phương án vay vốn khơng cĩ hiệu quả, khơng phù hợp với quy
định của pháp luật hoặc ngân hàng khơng cĩ đủ nguồn vốn để cho vay; (3) Kiểm tra,
giám sát quá trình vay vốn, sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng; (4) Chấm dứt
việc cho vay, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thơng tin sai sự
thật, vi phạm hợp đồng tín dụng; (5) Khởi kiện khách hàng vi phạm hợp đồng tín dụng
hoặc người bảo lãnh theo quy định của pháp luật, (6) Khi đến hạn trả nợ mà khách
hàng khơng trả nợ, nếu các bên khơng cĩ thoả thuận khác, thì tổ chức tín dụng cĩ quyền
sử lý tài sản bảo đảm vốn vay theo sự thoả thuận trong hợp đồng để thu hồi nợ theo
quy định của pháp luật hoặc yêu cầu người bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối
với trường hợp khách hàng được bảo lãnh vay vốn, (7) M iễn, giảm lãi vốn vay, gia hạn
nợ, điều chỉnh kỳ hạn nợ thực hiện theo quy định, mua bán nợ theo quy định của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam và thực hiện đảo nợ, khoanh nợ, xố nợ theo quy định của
Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Về mặt nghĩa vụ, ngân hàng cĩ nghĩa vụ : (1) thực hiện đúng thoả thuận trong hợp
đồng tín dụng, (2) Lưu giữ hồ sơ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật.
1.8 Giới hạn và hạn chế cho vay
Trong hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại bị giới hạn cho vay theo quy
định của Luật các tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo an tồn. Các giới hạn tín dụng khi
cho vay ngắn hạn bao gồm:
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
. Tổng dư nợ cho vay đối với khách hàng khơng được vượt quá 15% vốn tự cĩ
của ngân hàng , trừ trường hợp đối với những khoản cho vay từ các nguồn vốn uỷ
thác của Chính phủ, của các tổ chức và cá nhân. Trường hợp nhu cầu vốn của khách
hàng vượt quá 15% vốn tự cĩ của ngân hàng hoặc khách hàng cĩ nhu cầu huy động vốn
từ nhiều nguồn thì các ngân hàng cĩ thể cho vay hợp vốn theo quy định của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam.
- Trong trường hợp đặc biệt, ngân hàng chỉ được cho vay vượt quá mức giới hạn
Phương thức cho vay là cách thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng của ngân
hàng. Hiện nay trong cho vay cho vay đối với doanh nghiệp, các ngân hàng thương
mại cĩ thể thoản thuận với khách hàng về sử dụng loại phương thức cho vay.
Tuỳ theo đặc điểm chu chuy ển vốn của khách hàng, ngân hàng và khách hàng cĩ
thể thoản thuận lựa chọn phương thức cho vay thích hợp. Đa số các ngân hàng thương
mại đều cĩ đưa ra các phương thức cho vay của mình cho khách hàng tham thảo.Thực
tiễn cho thấy, ngồi các phương thức cho vay phổ biến như cho vay từng lần, cho vay
theo hạn mức tín dụng và cho vay theo dự án đầu tư, cịn nhiều phương thức cho vay
khác dành cho những hồn cảnh vốn vay khác nhau được thực hiện ở những ngân hành
khác nhau. Chẳng hạn Vietcom bank là ngân hàng thương mại cĩ khá nhiều phương
thức cho vay đa dạng phù hợp vời từng loại nhu cầu vay vốn khác nhau của những
khách hàng khác nhau. Chương II
:
Thực trạng cho vay của Doanh nghiệp
trong năm 2008
2.1. Tình hình nền kinh tế đối với doanh nghiệp trong những tháng đầu năm
2008:
Bên cạnh một số kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội đang nổi lên những
vấn đề đáng lưu ý sau đây :
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế tuy vẫn tiếp tục giữ ở mức cao nhưng đã cĩ biểu hiện
chậm lại. Đ áng lưu ý, tốc độ tăng trưởng trong lĩnh vực cơng nghiệp - xây dựng thấp
hơn kế hoạch và mức tăng cùng kỳ năm 2007, tháng sau thấp hơn tháng trước. Xuất
hưởng đến lịng tin của nhà đầu tư và các doanh nghiệp về sự ổn định kinh tế vĩ mơ.
Nhìn tổng quát, tình hình kinh tế - xã hội quý I năm nay tuy tiếp tục đạt được
những kết quả nhất định, nhưng đã cĩ những yếu tố khĩ khăn vượt quá những dự báo
kế hoạch, nếu khơng cĩ biện pháp xử lý kịp thời và đồng bộ để kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mơ, thúc đẩy sản xuất phát triển thì sẽ ảnh hưởng lớn đến việc thực
hiện mục tiêu kế hoạch năm 2008 và mục tiêu Đại hội X của Đ ảng đã đề ra cho cả
nhiệm kỳ.
2.2 Tình hình cho vay đối với doanh nghiệp trong các tháng cuối năm 2008:
Trong những tháng cuối năm 2008, lãi suất ngân hàng liên tục giảm, nguồn vốn
trong ngân hàng khá dồi dào, nhưng các doanh nghiệp vẫn thiếu vốn.
Nguy ên nhân, do nhiều ngân hàng áp dụng các thủ tục cho vay khắt khe hơn và
trong bối cảnh nền kinh tế khĩ khăn, nhiều DN cho rằng mức lãi suất hiện tại vẫn
khơng khả thi đối với các dự án của họ.
Vay vốn NH tại thời điểm này rất dễ nhưng khơng DN nào muốn vay, bởi một lẽ
thị trường khơng cĩ đầu ra. Hiện tại, với lãi vay ngắn hạn khoảng 10-12%/năm thì
khơng khả thi với các dự án, đặc biệt trong lĩnh vực BĐ S cĩ nhu cầu vay vốn trung và
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
dài hạn. Đầu tư một dự án phải huy động vốn ít nhất trong thời hạn 2-3 năm, lâu 5-6
năm, nhưng lãi suất trung và dài hạn của các NH hiện ở mức 10-12%/năm thì DN càng
khĩ cĩ lãi để tiếp tục cầm cự.
Hầu hết các dự án BĐ S hiện nay đều gặp vướng mắc vì NH yêu cầu phải cĩ đầy đủ
giấy tờ pháp lý để hồn tất các thủ tục thế chấp, phải cĩ sổ đỏ.
Tuy nhiên, nhiều trường hợp chủ đầu tư mong muốn vay tiền NH để triển khai các
phần việc như đền bù, GPMB, xây dựng hạ tầng khu đơ thị, trước khi huy động vốn
của nhà đầu tư thứ cấp hoặc của chủ sở hữu các căn hộ. Chính vì khơng thể cĩ đủ các
giấy t ờ cần thiết nên thủ tục giải ngân khơng thực hiện được. Thời kỳ kinh doanh siêu
lợi nhuận đã qua, các DN BĐS khơng thể đầu tư bằng mọi giá để kiếm tiền một cách
nhanh chĩng, nên họ phải "trơng giỏ bỏ thĩc".
Cịn các doanh nghiệp sản xuất thì lại phải đối mặt với nguy cơ phá sản. Nhiều DN
chấp, nhưng nay các NH chỉ duyệt khoảng 50% hoặc cao lắm là 60%. Vì vậy, tuy lãi
suất cĩ giảm so với những tháng trước, nhưng chưa hẳn các DN dễ dàng vay được
nguồn vốn mình cần.
Khĩ khăn của DN cịn ở mặt "kích cầu”.
Mặc dù lãi suất cho vay đã giảm nhiều, nhưng các DN khơng dám vay vốn. Bởi
vay vốn để làm gì khi mà khơng cĩ đơn hàng, thị trường khủng hoảng, nhiều chủ
trương hiện nay là co cụm lại để tồn t ại. Nếu thời điểm này đầu tư thêm vốn sản xuất,
chỉ cĩ nước sản xuất xong phải bán khuyến mãi. Do đĩ, chính sách thiết thực nhất hiện
nay của Nhà nước là nên giảm thuế, giảm phí, kích cầu.
2.3 Sự kích cầu
2.3.1 Sự cần thiết phải thực hiện kích cầu trong giai đoạn hiện nay:
Trong bối cảnh tăng trưởng có xu hướng đi xuống, sản xuất ảm đạm như hiện nay,
việc kích cầu là cần thiết .
Thực tế cho thấy, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển hiệu quả cĩ tác dụng
thiết thực gĩp phần kiềm chế lạm phát. Thúc đẩy tăng nguồn hàng xuất khẩu, tăng kim
ngạch xuất khẩu, gĩp phần giảm nhập siêu cũng là gĩp phần chống lạm phát một cách
bền vững. Thiếu vốn, lãi suất vốn vay quá cao, sản xuất kinh doanh bị đình trệ sau này
khơi phục lại cần thời gian rất lâu và cũng rất “tốn kém".
Tại Việt Nam giải quyết vốn cho doanh nghiệp cần được linh hoạt, phù hợp với
diễn biến thực tế trên cơ sở dự báo những tình huống cĩ thể xảy ra.
Hiện nay, hàng Trung Quốc đang chạy sang, nếu kích cầu chậm thì hàng Trung
Quốc dễ chiếm được nhiều thị phần của nước ta, gây hậu quả xấu không dễ khắc phục.
Chính vì vậy, cùng với chủ trương kích cầu của hầu hết các chính phủ các nước
trên toàn thế giới, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó.
Ở nước ta, tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào vốn, yếu tố vốn chiếm đến khoảng
60%. Chính vì vậy, có thể khẳng định, không có đầu tư là không có tăng trưởng kinh tế
và kích cầu thực chất là tăng vốn đầu tư.
Mặc dù biết rằng chỉ chạy theo vốn như thế này là không cơ bản và rất có giới hạn,
không thể đi mãi bằng con đường này, nhưng trước mắt, khi chưa “đi” được bằng con
đường khoa học công nghệ, bằng năng suất cao thì buộc lòng phải sống bằng con
Chiến lược, mục tiêu của gói kích cầu kinh tế đã có, song theo lãnh đạo các t ổng
công ty, tập đoàn, thành công hay không phụ thuộc vào quá trình triển khai thực hiện.
Theo như công bố gần đây của Chính phủ, việc thực hiện gói giải pháp kích cầu trị
giá 100 ngàn tỷ (tương đương với khoảng 25% dự toán tổng thu ngân sách năm 2009)
sẽ được tài trợ qua ba nguồn chính: phát hành trái phiếu Chính phủ; miễn giảm thuế;
và sử dụng quỹ dự trữ Nhà nước.
Tài trợ thông qua phát hành trái phiếu trong nước có thể chia t hành vay nợ từ
công chúng hoặc từ hệ thống các ngân hàng thương mại.
Giả sử Chính phủ phát hành trái phiếu ra công chúng và dùng số tiền huy động
được để tài trợ cho gói kích cầu. Trong trường hợp này cơ sở tiền tệ sẽ không đổi và
không có tác động gì đến cung tiền lẫn sức ép lạm phát. Tuy nhiên, việc tài trợ này gặp
phải những khó khăn nhất định.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
Thứ nhất, việc phát hành trái phiếu ra công chúng sẽ gặp khó khăn khi mức lãi suất
không còn hấp dẫn như trước, đồng thời lạm phát kỳ vọng có thể tăng trở lại khi Chính
phủ phát đi tín hiệu kích cầu. N guồn huy động được chắc chắn sẽ không lớn khi mức
huy động vay nợ trong nước hiện nay của Chính phủ đã vào khoảng gần 50 ngàn tỷ
đồng một năm.
Thứ hai, việc tài trợ cho gói kích cầu này thông qua vay nợ sẽ đẩy lãi suất lên cao
và gây sức ép xấu đến khu vực tư nhân và tăng trưởng kinh tế. Huy động với lãi suất
cao còn làm tăng các khoản trả lãi thêm hàng chục ngàn tỷ đồng mỗi năm trong tương
lai, và làm trầm trọng thêm vấn đề thâm hụt ngân sách
Ngược lại, nếu Chính phủ vay nợ hệ thống ngân hàng thương mại sẽ gây sức ép
đối với dự trữ của các ngân hàng này và các ngân hàng sẽ đòi hỏi trợ giúp về khả năng
thanh khoản từ Ngân hàng Nhà nước. Nếu những đòi hỏi này được đáp ứng, cơ sở tiền
tệ sẽ tăng và lạm phát sẽ quay trở lại.
Nếu Ngân hàng Nhà nước không đáp ứng những đòi hỏi về tính thanh khoản này,
các ngân hàng thương mại buộc phải giảm các nguồn tín dụng cho khu vực doanh
nghiệp tư nhân và lao vào một cuộc cạnh tranh lãi suất huy động như những gì đã diễn
vừa đủ ngưỡng đảm bảo an toàn của hệ thống tỷ giá (đặc biệt về mặt tâm lý).
Rõ ràng, việc sử dụng dự trữ ngoại hối tài trợ toàn bộ cho gói kích cầu vài tỷ USD
là điều vừa không khả thi vừa không sáng suốt.
Tăng sản lượng khai thác và xuất khẩu dầu thô cũng là một nguồn tài trợ quan
trọng khác cho chi tiêu Chính phủ.
Tổng nguồn thu từ dầu thô hàng năm trong năm các năm 2007-2008 là vào khoảng
gần 70 ngàn tỷ đồng, chiếm hơn 20% tổng nguồn thu. Tuy nhiên, tác động của cuộc
khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến giá dầu thô giảm hơn 70% kể từ đỉnh cao 140
USD/thùng xuống dưới 40USD/thùng, và chưa có dấu hiệu tăng trở lại trong thời gian
tới.
Điều này khiến cho việc duy trì tổng mức thu từ dầu theo kế hoạch trong năm 2009
giảm mạnh. Lấy một ước lượng sơ bộ và đơn giản là nguồn thu giảm khoảng 50%, thì
đã tương đương 30 ngàn tỷ đồng.
In tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách thì sẽ có hai trường hợp xảy ra. Một là
Chính phủ có thể trực tiếp thông qua Ngân hàng Nhà nước in tiền để tài trợ cho chi
tiêu. Biện pháp tài trợ này ngay lập tức sẽ dẫn đến tăng trưởng cơ sở tiền tệ và cung
tiền.
Hai là Chính phủ ban đầu có thể vay tiền của công chúng và hệ thống ngân hàng
thương mại thông qua phát hành trái phiếu. Nhưng nếu sau đó Ngân hàng Nhà nước
can thiệp mua lại các khoản nợ này của chính phủ thông qua nghiệp vụ thị trường mở,
hoặc nhằm đáp ứng sức ép thanh khoản gia tăng của hệ thống ngân hàng thương mại,
thì một lượng tiền tương tự như khi in tiền trực tiếp cũng sẽ được bơm vào nền kinh tế.
Trong cả hai trường hợp, cơ sở tiền tệ và cung tiền sẽ tăng, gây ra lạm phát và bất
ổn kinh tế vĩ mô trong tương lai.
Việc tài trợ cho chi tiêu qua gói kích cầu thông qua Ngân hàng Nhà nước còn có
thể làm trầm trọng hơn những rủi ro kinh tế khi N gân hàng Nhà nước theo đuổi chế độ
tỷ giá gắn chặt với đồng U SD như hiện nay.
Như đã nói ở trên, kích thích đầu tư và tiêu dùng thường kéo theo sự gia t ăng
mạnh của nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng. Vì vậy, việc
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
phát triển trong tương lai của nền kinh tế. Các cá nhân và tổ chức kinh tế sẽ dự đoán
về sự gia tăng của thuế và lạm phát, và làm xấu đi tình hình tài chính.
Sau khi phân tích các ưu nhược điểm của các nguồn tài trợ, có những kịch bản
đã được đề xuất:
Chính phủ có thể kết hợp các nguồn tài trợ nói trên để tài trợ cho gói kích cầu, với
giả định Chính phủ tiếp tục duy trì cơ cấu các khoản thu - chi khác và mức thâm hụt
ngân sách hàng năm như hiện nay, và tìm các nguồn khác để tài trợ cho gói kích cầu.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
Căn cứ trên các số liệu thực tế hoặc dự toán của năm 2008 đối với các nguồn tài
trợ này, Chính phủ có thể tăng mỗi nguồn tài trợ này ở bốn mức khác nhau, tương ứng
với bốn kịch bản sau (các kịch bản có cùng giả định nguồn thu từ dầu thô giảm một
nửa trong năm tới so với năm 2008).
Kịch bản (1) (2) (3) (4)
1. Quy m
ơ
g
ĩ
i k
í
ch c
ầu (tỷ đồng)
17.000
50.000
75.000
2.1. D
ầu th
ơ
(thay đ
ổi so với năm
trước)
-
32.800
-
32.800
-
32.800
-
32.800
2.2. S
ử dụng quỹ dự trữ10.000
14.000
10.000
20.000
25.000
30.000
Gia tăng thâm h
ụt
NS
(so v
ới 2008)
29.800
58.800
75.800
92.800
Thâm h
ụt ngân sách (% GDP)
7,03
8,99
GDP. Nếu Chính phủ muốn huy động nhiều hơn chỉ tiêu trên, mức thâm hụt sẽ nhanh
chóng đạt và vượt mức 10% GDP. Đây là mức có thể gây những mất cân đối nghiêm
trọng đối với nền kinh tế mà hậu quả chưa lường hết được về mặt vĩ mô.
Đồng thời, trong thời gian ngắn nhất phải làm cho các yếu tố về năng suất lao
động, công nghệ - tức là các yếu tố tăng chất lượng của tăng trưởng phải vượt trội.
Nói như vậy để thấy rõ chúng ta phải bắt đầu ngay từ bây giờ việc thay đổi cơ cấu
đầu tư nhằm nhanh chóng cải thiện hiệu quả sản xuất, kinh doanh thì may ra từ năm
2010 trở đi mới có thể có tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững như mong muốn.
Tăng trưởng kinh tế 6,5% đề ra cho năm 2009 cũng là con số khá cao, đạt được nó
là không đơn giản. Trong điều kiện cụ thể của nước ta, tăng trưởng kinh tế cao là
nguyện vọng cháy bỏng của mỗi người dân, là con đường sống của cả dân tộc.
Nếu ví cuộc khủng hoảng tài chính như cơn bão thì kinh nghiệm cho hay cơn bão
này đổ bộ vào nước ta chậm, nhưng ở lại lâu và sẽ tàn phá nặng nề. Do đó, cần có
hành động ngay để ngăn chặn bớt sự tàn phá của cơn bão tài chính đang diễn ra, giảm
thiểu tác động xấu của nó.
Tăng trưởng phải đi đôi với bền vững, tăng trưởng kinh tế phải gắn với phát triển
xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, phát triển văn hóa, thực hành dân chủ, phát triển
con người; phát triển kinh tế của thời kỳ này phải tạo tiền đề, nền tảng cho phát nhanh
và bền vững của giai đoạn tiếp theo
Số tiền kích cầu này nên được cho vay một cách cân nhắc để trở thành “mồi” hợp
lý trong việc kích thích kinh t ế.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
Thông thường, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng tốt yêu cầu này. Việc kích vào
nhóm doanh nghiệp này không phải là “làm từ thiện” cho những doanh nghiệp đang
gặp nhiều khó khăn hơn. Điều quan trọng là nó nhằm đúng mục tiêu đại cục của công
cuộc kích cầu.
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
Nên đầu tư bằng cách phát triển các doanh nghiệp, tạo ra mơi trường kinh doanh
hiệu quả và cĩ tính cạnh tranh lành mạnh.
Việc đầu tư phát triển doanh nghiệp cĩ thể thực hiện bằng cách cho vay với lãi suất
ưu đãi, mua cổ phần , phát triển các ngành kinh tế cĩ chức năng là chất dẫn kích thích
phát triển các ngành kinh tế khác. Bằng cách này Nhà nước cĩ thể thu hồi lại được vốn
và tiếp tục tái đầu tư vào các lĩnh vực khác.
Về tiêu chí của các dự án:
Số t iền “mồi” có thể là ít, cho nên cần tìm cái gì cần “mồi”. Chọn dự án nào đã có
đủ điều kiện nhất để đầu tư. Danh sách đưa ra thì nhiều nhưng phải có tiêu chí cụ thể
để lựa chọn. Vì vậy trong thời gian ngắn, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần sớm xây dựng
những tiêu chí để có cơ sở cho các địa phương, ban ngành có căn cứ để lựa chọn.
Thứ nhất là ưu tiên các dự án có “đầu ra” chứ không phải những dự án chứng minh
được có đủ điều kiện “đầu vào”. Đầu ra càng hiện thực bao nhiêu thì càng tốt bấy
nhiêu.
Nhóm thứ hai là những lĩnh vực cũng tạo sức mua nhưng sản phẩm rất cơ bản
và lâu dài, đó là những công trình, dự án phát huy tác dụng, hiệu quả trong tương lai
xa hơn, tạo ra cơ cấu kinh tế tốt hơn, làm nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững.
Việt Nam có thể xem xét tăng chi tiêu của Chính phủ lên. Trong điều kiện hạ tầng
giao thông của ta còn kém, nguồn vốn đổ vào đây có thể là một giải pháp tốt.
Tuy nhiên không thể kích cầu tràn lan mà nên tập trung vào những công trình hiệu
quả, có thể sinh ra tiền sau khi đi vào sử dụng như kích cầu đối với mộ số dự án: dự án
nhà ga sân bay quốc tế Đ à Nẵng, Nội Bài; luồng cho tàu vào sông Hậu tại khu vực
ĐBSCL; nâng cấp, thay tà vẹt của một số dự án đường sắt; nâng cấp một số dự án
quốc lộ như: quốc lộ 70, quốc lộ 6, quốc lộ 279…; và một phần nhỏ cho các doanh
kích cầu sẽ tăng.
Cịn việc cho vay để đầu tư máy mĩc, thiết bị vào thời điểm này, đặc biệt là với
những cơng nghệ cao hơn so với những cơng nghệ sản xuất cịn thơ sơ và gây ơ nhiễm
tại Việt Nam là điều cần thiết. Và khơng lúc nào thích hợp hơn lúc này khi mà kinh tế
thế giới bước vào tình trạng suy thối và chúng ta cĩ thể đầu tư vào cơng nghệ cao với
giá rẻ hơn so với trước đây.
Kích thích tiêu dùng và sản xuất nội địa, tránh nhập khẩu thiết bị máy mĩc, đồ
dùng xa xỉ để tiết kiệm ngoại tệ cho quốc gia. Xử lý vấn đề này rất không dễ dàng. Về
cơ bản, đây là bài toán thị trường, phải được giải chủ yếu theo nguyên lý thị trường.
M ột khi sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam còn yếu, ít có khả năng cải thiện nhanh
thì sứ mệnh “giảm nhập siêu” một phần đáng kể được trao cho các công cụ hành chính
- kỹ thuật, ví dụ hàng rào thuế quan, hàng rào kỹ thuật hay các đội chống buôn lậu.
Song sử dụng có hiệu quả những công cụ này là không dễ, khó có hiệu quả cao và
cũng cần thời gian để chuẩn bị cơ chế, lực lượng. Không ráo riết chuẩn bị để triển khai
thì nguy cơ và hậu quả sẽ càng nặng nề.
Ngồi những thị trường chiếm tỉ trọng lớn về xuất khẩu, chúng ta nên tìm những thị
trường khác nhằm cải thiện cho việc giảm sút của xuất khẩu rịng khi các nước cắt
giảm chi tiêu. Cần cĩ quan hệ ngoại giao tốt hơn nữa của nhà nước sang các thị trường
khác. điều đĩ làm mở rơng thị trương tiêu thụ hàng hố, làm tăng kim ngạch xuất khẩu.
Ở nước t a, hoạt động xuất khẩu gắn nhiều với nông dân, với các doanh nghiệp sử dụng
nhiều lao động (dệt may, da giày, thủ công mỹ nghệ). Kích vào đây một mặt để giữ
một động lực tăng trưởng mạnh của nền kinh tế, giảm nguy cơ thâm hụt thương mại
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
đang có khả năng tăng lên; mặt khác, giúp đông đảo người lao động thuộc nhóm thu
nhập thấp, dễ bị tổn thương – và thực tế họ đang bị tổn thương nặng nề sau cơn lạm
phát kéo dài và tác động suy thoái của kinh tế thế giới – duy trì việc làm, thu nhập và
đời sống, đồng thời, giữ vững ổn định chính trị - xã hội.
Sau bài học kinh nghiệm về chống lạm phát, điều hành của Chính phủ (ít dùng
hành chính hơn, kịp thời thay đổi mục tiêu ưu tiên, chọn giải pháp bài bản hơn, phối
Tiểu luận GVHD: T S. Lại Tiến Dĩnh
Trên thực tế, vấn đề trên là không đáng ngại. Năm 2007, cung tiền cho nền kinh tế
tăng 43%, dư nợ tín dụng tăng 54%; song, năm 2008, cung tiền chỉ tăng 16,3%, dư nợ
tín dụng tăng 21%.
Như vậy, SBV có đủ điều kiện để mở rộng việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Để
các ngân hàng không phụ thuộc nguồn vốn huy động tiết kiệm, SBV cần mạnh tay
"bơm" tiền cho hệ thống ngân hàng thông qua nghiệp vụ thị trường mở, cho vay tái
cấp vốn, tái chiết khấu các loại giấy tờ có giá với lãi suất thấp để các ngân hàng có
điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả vay với lãi suất tối đa 7% - 9%/năm.
Làm được như vậy, vấn đề vốn của các ngân hàng sẽ được giải quyết.
Nới lỏng đầu ra tín dụng
Việc đưa ra cơ chế lãi suất thỏa thuận là hướng đi đúng nhưng cần có lộ trình.
Hiện nay, lãi suất trần cho vay đang khiến các ngân hàng thiếu linh hoạt khi triển khai
các dịch vụ như cho vay tiêu dùng, hay hướng đến các đối tượng là hộ kinh doanh cá
thể, hộ nông dân vùng sâu, vùng xa
Vì hệ thống ngân hàng chưa phủ kín “sóng” nên một bộ phận khách hàng phải tiếp
cận tín dụng đen với lãi suất cao (3% - 5% /tháng). Trong khi đó, để thực hiện và tiếp
cận dịch vụ, đối tượng khách hàng nói trên, chi phí sẽ rất lớn nên các ngân hàng ngại
đầu tư, dẫn đến bên có nhu cầu vay tiếp tục gặp khó khăn về vốn.
Còn nếu SBV đột ngột bỏ cơ chế lãi suất trần cho vay, thị trường tiền tệ sẽ có diễn
biến tiêu cực. Các ngân hàng nhỏ sẽ đua nhau tăng lãi suất huy động vốn, làm tái diễn
hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng, gây rối thị trường.
Từ đĩ, lãi suất cho vay sẽ bị đẩy lên cao khiến cả ngân hàng lẫn người vay đều đối
mặt với rủi ro. Do đĩ, SBV nên bật đèn xanh cho các ngân hàng áp dụng lãi suất cho
vay tiêu dùng và cho vay cá nhân khơng quá 200% so với lãi suất cơ bản đối với một
số đối tượng kể trên hoặc cho phép các ngân hàng thu phí vay vốn theo quy định của
SBV.
Chính phủ đã họp và quyết định sẽ sử dụng nguồn vốn 1 tỷ USD để kích cầu trong
trường hợp cấp bách, từ nguồn dự trữ.