Tính chuyên nghiệp của KTĐL cơ sở lý luận và thực trạng ở Việt Nam - Pdf 76

Tính chuyên nghiệp của KTĐL cơ sở lý luận và thực trạng ở Việt Nam
2.1. Khái niệm về tính chuyên nghiệp của KTĐL
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về tính chuyên nghiệp trong công việc,
nhưng tất cả đều thống nhất rằng “tính chuyên nghiệp được khẳng định bằng hiệu
quả”. Chuyên nghiệp, hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là chuyên tâm vào ngành nghề
của mình. Ai chuyên tâm làm việc đều đã có thể gọi là chuyên nghiệp. Khi chuyên
tâm và dốc toàn lực vào đó thì thường họ sẽ rất giỏi trong phạm vi ngành nghề của
họ. Tuy nhiên không hẳn chuyên nghiệp chỉ là việc nắm vững về kiến thức chuyên
môn mà còn phải tuân thủ các quy định mực thước khác đối với ngành nghề của
mình. Theo Ông Nguyễn Trung Thắng, tổng giám đốc Công ty Masso, đơn vị đã
chọn cho mình khẩu hiệu “Leading by professionalism” (Dẫn đầu bằng tính
chuyên nghiệp) đưa ra định nghĩa: “Chuyên nghiệp bao gồm sự đồng bộ nhất quán
từ ý tưởng đến cách thức thực hiện sao cho đạt được mục tiêu đề ra. Đặt mục tiêu
là 1 và thực hiện trọn vẹn được 1”.
Tính chuyên nghiệp của kiểm toán là một khái niệm khá mới mẻ chưa được
đề cập một cách cụ thể ở bất cứ tài liệu nào. Tuy nhiên thông qua các khái niệm
khác, các văn bản khác, khái niệm về tính chuyên nghiệp của kiểm toán đã được đề
cập đến một phần nhưng trên các phương diện khác nhau. Ta có thể hiểu khái niệm
tính chuyên nghiệp của KTĐL như sau: “Tính chuyên nghiệp của KTĐL là một
thuộc tính của KTĐL thể hiện qua việc tuân thủ đầy đủ các CMKT, chuẩn mực
đạo đức nghề nghiệp của KTV và chất lượng kiểm toán được kiểm soát một cách
nghiêm ngặt từ bên trong lẫn bên ngoài nhằm đạt được hiệu quả tốt nhất”
Ở đây ta thấy tính chuyên nghiệp hướng đến việc xây dựng một hệ thống
KTĐL làm việc hiệu quả, hoàn toàn trung thực, độc lập và khách quan nhằm đưa ra
các ý kiến đúng đắn và đáng tin cậy. Muốn được như vậy thì nền tảng ban đầu cần
phải có là các KTV có trình độ cao, kiến thức chuyên môn vững vàng. Thứ nữa
KTV cần phải đảm bảo là việc tuân thủ các quy định mang tính pháp lý và các quy
định mang tính mực thước. Cuối cùng, các quy trình kiểm soát chất lượng kiểm
toán cả bên trong và bên ngoài phải được xây dựng một cách có khoa học nhằm
đảm bảo hiệu quả cho công việc kiểm toán.
2.1.1. Tuân thủ quy tắc về đạo đức nghề nghiệp trong KTĐL

cập nhật và nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi trường pháp lý
và các tiến bộ kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc.
Năm là, Tính bảo mật: Người làm kiểm toán phải bảo mật các thông tin có
được trong quá trình kiểm toán; không được tiết lộ bất cứ một thông tin nào khi
chưa được phép của người có thẩm quyền, trừ khi có nghĩa vụ phải công khai theo
yêu cầu của pháp luật hoặc trong phạm vi quyền hạn nghề nghiệp của mình.
Sáu là, Tư cách nghề nghiệp: Người làm kiểm toán phải trau dồi và bảo vệ
uy tín nghề nghiệp, không được gây ra những hành vi làm giảm uy tín nghề
nghiệp.
Bảy là, Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn: Người làm kiểm toán phải thực
hiện công việc kiểm toán theo những kỹ thuật và chuẩn mực chuyên môn đã quy
định trong CMKT Việt Nam, quy định của Hiệp hội nghề nghiệp và các quy định
pháp luật hiện hành.
Như vậy ta có thể thấy rằng Chuẩn mực đạo đức kiểm toán có đặc thù riêng
so với các ngành nghề khác trong xã hội:
Một là, Trong quá trình kiểm toán, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp yêu cầu
KTV phải thực sự không bị chi phối hoặc bị tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất
hoặc tinh thần nào làm ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan và độc lập nghề
nghiệp của mình.
Hai là, Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp đòi hỏi KTV không được nhận làm
kiểm toán hoặc làm kế toán cho các đơn vị mà mình có quan hệ kinh tế hoặc quyền
lợi kinh tế như góp vốn, cho vay hoặc vay vốn từ khách hàng, hoặc là cổ đông chi
phối của khách hàng, hoặc có ký hợp đồng gia công, dịch vụ, đại lý tiêu thụ hàng
hoá.
Ba là, Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kiểm toán bắt buộc KTV không
được nhận làm kế toán, kiểm toán ở những đơn vị mà bản thân có quan hệ gia đình
ruột thịt (như có bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột) là người trong bộ máy
quản lý, điều hành (Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, Kế toán trưởng, các trưởng,
phó phòng và những người tương đương) trong đơn vị khách hàng.
Bốn là, Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, kiểm toán yêu cầu KTV hành nghề

Theo thông lệ quốc tế thì các tổ chức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán quốc
gia (Mỹ, Nga, Nhật, Úc …) sẽ căn cứ vào hệ thống CMKT quốc tế do Liên đoàn
kế toán quốc tế (IFAC) công bố để ban hành CMKT quốc gia. Đối với các nước
thành viên của IFAC và một số nước khác chưa là thành viên của IFAC cũng chấp
nhận và coi những nguyên tắc chỉ đạo kiểm toán quốc tế do IFAC ban hành làm
các văn bản pháp quy về kiểm toán của quốc gia mình. Theo thông báo ngày
27/6/1994 của Uỷ ban thực hành kiểm toán quốc tế (IAPC) thì từ 1/9/1994 toàn bộ
KTV chuyên nghiệp ở 89 nước thành viên của liên đoàn quốc tế các nhà kế toán sẽ
áp dụng hệ thống CMKT quốc tế mới. Cụ thể:
- Ở Trung Quốc: Theo điều 35 Luật kế toán viên công chứng năm 1993 thì
Hội nghề nghiệp là Viện kế toán viên công chứng Trung Quốc (CICPA) được
quyền ban hành các CMKT và các quy tắc đối với kế toán viên công chứng (CPA -
tương tự KTV hành nghề ở Việt Nam). Dự thảo các chuẩn mực và quy tắc này phải
được BTC chấp thuận mới có hiệu lực thi hành.
- Ở Malaixia: CMKT do Viện kế toán viên công chứng Malaixia (MICPA)
soạn thảo và ban hành.
- Ở Hà Lan: CMKT do Viện kế toán viên đăng ký Hoàng gia Hà Lan
(NIVRA) ban hành.
- Ở Singapo: CMKT do Viện kế toán viên công chứng Singapo (ICPAS) ban
hành.
Ở Việt Nam, BTC có trách nhiệm soạn thảo và ban hành các CMKT và đến
nay đã ban hành 7 đợt gồm 38 CMKT. Các CMKT được ban hành thể hiện một
bước phát triển mạnh trong hoạt động kiểm toán, đã tạo ra hành lang pháp lý thuận
lợi hơn cho hoạt động KTĐL, là cơ sở cho KTV chuyên nghiệp và CTKT kiểm tra,
đánh giá các thông tin tài chính một cách trung thực, khoa học, khách quan. CMKT
còn là cơ sở cho việc chỉ đạo giám sát, kiểm tra và đánh giá chất lượng dịch vụ
kiểm toán, là cơ sở cho việc đào tạo, huấn luyện và thi tuyển KTV.
Đối với ngành nghề kiểm toán, hệ thống CMKT là những quy định mực
thước, đó là các nguyên tắc căn bản của kiểm toán. Các quy định này có vai trò và
tác dụng rất lớn:

mãn về mong muốn có được những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác quản lý tài chính, kế toán của đơn vị được kiểm toán với thời gian định
trước và giá phí thích hợp”. Như vậy chất lượng kiểm toán có thể được hiểu như
sau:
Một là, Chất lượng kiểm toán là sự phù hợp với CMKT. Việc tuân thủ
CMKT chỉ là điều kiện cần để thoả mãn các đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán.
Do vậy việc thoả mãn của khách hàng đã bao hàm việc tuân thủ CMKT, đồng thời
bao hàm luôn cả quan điểm cho rằng chất lượng thể hiện ở tính chuyên nghiệp của
KTV. Kiểm toán là hoạt động dịch vụ, do vậy tính chuyên nghiệp của KTV trong
quá trình thực hiện công việc kiểm toán sẽ hấp dẫn hơn và tạo sự tin tưởng hơn vào
kết quả kiểm toán của các đối tượng sử dụng dịch vụ kiểm toán.
Hai là, Chất lượng kiểm toán bao gồm cả việc tạo ra giá trị gia tăng cho
khách hàng thông qua việc đưa ra các ý kiến đóng góp giúp hoàn thiện và nâng cao
công tác quản lý của khách hàng.
Ba là, Việc xác định giá phí thích hợp thể hiện đầy đủ và thoả đáng đối với
đối tượng sử dụng dịch vụ và người cung cấp dịch vụ là các CTKT, đạt được yêu
cầu này là sự điều chỉnh của thị trường và điều kiện thực tế của mỗi CTKT.
Đối với hoạt động kiểm toán, kiểm soát chất lượng kiểm toán có thể được
hiểu là một hệ thống chính sách và biện pháp để nắm bắt và điều hành hoạt động
kiểm toán đạt chuẩn mực chung. Hệ thống chính sách và biện pháp đó bao gồm:
quan điểm về kiểm soát, các quy định nghiệp vụ kiểm toán và kiểm soát, cơ cấu tổ
chức bộ máy kiểm soát, chính sách về nhân sự, các hoạt động kiểm tra, soát xét,
thu thâp thông tin, xác nhận... Kiểm soát chất lượng kiểm toán được thực hiện
trong toàn bộ quá trình kiểm toán của một cuộc kiểm toán, do nhiều cấp độ kiểm
soát tiến hành, với nhiều phương pháp kiểm soát khác nhau. Việc thực hiện kiểm
soát chất lượng phải được thực hiện cả bên trong và bên ngoài CTKT:
Một là, Hoạt động kiểm soát bên trong: Kiểm soát chất lượng bắt đầu
ngay từ ngày làm việc đầu tiên của KTV và sẽ được duy trì cho đến ngày làm việc
cuối cùng của họ. Đó không phải là một công việc tách biệt mà là một quá trình
xuyên suốt nhằm củng cố mọi phương diện hoạt động của một CTKT. Nội dung,

tra tính hiệu quả của các chính sách và thủ tục kiểm soát chất lượng hoạt động của
công ty.
Hai là, Kiểm soát chất lượng từ bên ngoài : Đó là các hoạt động quản lý
từ cơ quan quản lý Nhà nước và Hiệp hội nghề nghiệp. Hoạt động quản lý bên
ngoài thực hiện thông qua cơ chế giám sát hoạt động đối với việc tuân thủ các
chuẩn mực và quy định pháp lý.
Ở Anh, Hiệp hội nghề nghiệp (ví dụ ACCA) phải kiểm tra chất lượng dịch
vụ của hội viên. Một tổ chức độc lập khác thực hiện kiểm tra hoạt động của các
CTKT và các hiệp hội nghề nghiệp ở Anh.
Ở Mỹ việc kiểm soát chất lượng dịch vụ kế toán kiểm toán được thực hiện
bởi 3 tổ chức khác nhau : Ủy ban Giám sát hoạt động kiểm toán cho các công ty
đại chúng (Public Company Accounting Oversight Board – PCAOB), trung tâm
chương trình Kiểm tra chéo các CTKT cho các công ty đại chúng (Centre for


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status