luận văn thạc sĩ Nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon Tum hiện nay. - Pdf 13

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Kon Tum là một tỉnh vùng cao biên giới nằm ở cực bắc Tây Nguyên.
Đây không chỉ là một vị trí quan trọng về kinh tế, quốc phòng và an ninh
mà còn là một địa bàn phức tạp về tôn giáo. ở Kon Tum, bên cạnh tín ng-
ỡng - tôn giáo bản địa cổ truyền, còn có một số tôn giáo đợc ngoại nhập vào
những thời điểm, hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Đạo Công giáo là một trong
những tôn giáo nh thế.
Sự thâm nhập đạo Công giáo vào địa bàn tỉnh Kon Tum bắt đầu từ
những năm giữa thế kỷ trớc (1842), tồn tại và phát triển cho đến nay. Từ khi
thành lập giáo phận Kon Tum đến nay đã trải qua 152 năm (1848 - 2000),
trớc sau vẫn là một giáo phận truyền giáo gắn bó chặt chẽ với Vatican, Tòa
thánh Vatican cho rằng đây vẫn còn là một miền truyền giáo và giao cho
hội truyền giáo thừa sai Paris cai quản. Giáo hội Công giáo vẫn tìm mọi
cách để phát triển đạo lên vùng cao nguyên Kon Tum.
Ngày nay, trong quá trình thực hiện chiến lợc "Diễn biến hoà bình",
các thế lực phản động đã triệt để sử dụng vấn đề tôn giáo nh một phơng
thức, một ngòi nổ để thúc đẩy sự sụp đổ về thể chế chính trị ở các nớc
XHCN. Chúng cấu kết với bọn cầm đầu giáo hội ở Trung tâm Toà thánh
Vatican, chỉ đạo, điều khiển các giáo sỹ cao cấp trong các nớc XHCN lôi
kéo quần chúng tín đồ, biến họ thành lực lợng đối trọng ngay trong lòng
các nớc đó, tạo nên mâu thuẫn xã hội bên trong và tách họ ra khỏi sự lãnh
đạo của Đảng Cộng Sản. Địa bàn tỉnh Kon Tum nằm trong phạm vi mà các
thế lực phản động thực hiện chiến lợc đó.
Đạo Công giáo ở Kon Tum là một tôn giáo lớn nhất trong tỉnh, có số
giáo dân chiếm hơn 70% tổng số đồng bào theo đạo trong tỉnh. Suốt hai
cuộc kháng chiến, đông đảo quần chúng tín đồ Công giáo yêu nớc đã đi
theo cách mạng, theo Đảng và đã góp phần vào cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc. Trong thời kỳ xây dựng đất nớc hiện nay, quần chúng tín đồ Công
giáo vẫn là lực lợng có vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong địa bàn dân c.

công bằng, dân chủ, văn minh", qua đó thể hiện đợc ớc nguyện sống "Tốt
đời, đẹp đạo" của đông đảo quần chúng giáo dân ở Kon Tum là vấn đề bức
xúc hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Đổi mới công tác đối với đạo Công giáo nói chung và đổi mới công
tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo nói riêng đang là một trong
những yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, nhất là sau khi có Nghị quyết 24 của
Bộ Chính trị. Xung quanh vấn đề này đã có nhiều công trình nghiên cứu của
nhiều tác giả nh: Nguyễn Văn Long, luận án tiến sỹ triết học "Vận dụng
quan điểm khoa học về tôn giáo trong công tác đối với thiên chúa giáo hiện
nay ở Việt Nam"(1999); Lê Văn Phụ, luận văn thạc sỹ "Công tác t tởng của
tổ chức cơ sở Đảng đối với quần chúng theo đạo Thiên chúa" (1993).
ở khu vực Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh có tác giả Lê Tăng,
luận văn thạc sỹ "Giải quyết vấn đề Thiên chúa giáo ở huyện Thủ Đức -
thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới" (1993).
ở khu vực Miền Bắc có tác giả Hoàng Mạnh Đoàn, luận văn thạc sỹ
"Công tác vận động quần chúng theo đạo Thiên chúa ở miền Bắc nớc ta
hiện nay" (1993).
ở Kon Tum có tác giả Võ Sáu, luận văn tốt nghiệp cử nhân chính trị
"Đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng đạo Công giáo ở tỉnh Kon
Tum nhằm đảm bảo ổn định chính trị, an ninh Quốc phòng ở địa phơng"
(1998).
Nhìn chung các công trình nghiên cứu đó đã đề cập đến công tác đối
với đạo Công giáo trên nhiều góc độ, nhiều mặt; mang tính tổng quát trên
phạm vi cả nớc, hay từng khu vực. Riêng "Nâng cao hiệu quả công tác vận
động quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon Tum hiện nay" vẫn cha có một
công trình nghiên cứu nào đề cập đến một cách trực diện, có hệ thống.
Nghiên cứu công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon
Tum là vấn đề hết sức phức tạp, khó khăn: T liệu quá ít ỏi, tản mạn, thời
gian tiếp cận thực tế có hạn. Hơn nữa trên thực tế cha có một tài liệu nào

Mác - Lênin, t tởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và các quan điểm, đờng lối,
chủ trơng, chính sách của Đảng và Nhà nớc ta về công tác tôn giáo. Đồng
thời có kế thừa những kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan để
làm rõ những vấn đề mà mục đích và nhiệm vụ của luận văn đặt ra.
- Phơng pháp nghiên cứu:
Luận văn thực hiện theo các phơng pháp kết hợp lôgic với lịch sử, kết
hợp phân tích với tổng hợp, phơng pháp so sánh, trong đó coi trọng phơng pháp
tổng kết thực tiễn
5. Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn.
- Bớc đầu phát hiện một số vấn đề cấp bách đang đặt ra trong công
tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon Tum hiện nay.
- Nêu phơng hớng và những giải pháp chủ yếu có tính khả thi, góp
phần đổi mới công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở Kon Tum
hiện nay có hiệu quả hơn.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn.
- Luận văn góp phần cung cấp cơ sở khoa học giúp cho việc thực hiện
công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo ở tỉnh Kon Tum hiện nay
có hiệu quả hơn.
- Ngoài ra luận văn có thể làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu
giảng dạy, học tập ở trờng chính trị tỉnh Kon Tum về những vấn đề có liên
quan.
7. Kết cấu của luân văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo. Nội
dung chính của luận văn đợc kết cấu thành 2 chơng 4 tiết.
Chơng 1
Tình hình quần chúng tín đồ Công giáo
và công tác vận động quần chúng tín đồ Công giáo
ở Kon Tum
1.1. Đạo Công giáo và đặc điểm tình hình quần chúng
tín đồ Công giáo ở Kon Tum

đã chọn, trên cơ sở xem xét độ dốc, đất đai và đã tiến hành các nghi thức
tôn giáo xin phép thần linh suôn sẻ, việc đầu tiên là đốn cây, phát cỏ, khai
quang mặt bằng. Khi sắp đến thời vụ gieo trồng, ngời ta chỉ dọn rẫy, rồi có
thể dùng cây vót nhọn chọc hốc để tra hạt giống. Sau đó, rẫy đợc rào giậu,
trông coi. Cuối cùng là đến kỳ thu hoạch với đặc điểm nổi bật là dùng đôi
tay trần tuốt lấy thóc. Ngoài ra, trên rẫy còn trồng nhiều thứ khác để đáp
ứng nhu cầu của cuộc sống nặng tính tự cung tự cấp, nhng cây lúa giữ vị trí
chủ đạo, năng suất lao động thấp, đời sống gặp nhiều khó khăn. Một bộ
phận khá lớn của dân c, gồm 9.241 hộ, 47.849 nhân khẩu còn du canh du c,
hay đã định c cha định canh.
Canh tác ruộng nớc: Tuy không phổ biến nhng nó có mặt trong nền
kinh tế của đồng bào khá lâu. Ngời dân thờng làm ruộng theo kiểu "dao
canh thủy nậu". Tại các thửa ruộng ngân nớc, cả tập thể ngời hoặc cả đàn
trâu quần đất thay vì việc cuốc hay cày bừa, rồi dùng cuốc hoặc bàn trang
để san mặt ruộng. Ngời Xơ Đăng, Rơ Mâm tuy còn dùng kỹ thuật canh tác
khá sơ khai nhng lại biết đắp đập, khơi mơng, bắt mảng lấy nớc về làm
ruộng. Sau mùa tuốt lúa hay xét trên bình diện chung của tỉnh, ruộng nớc
chỉ là một bộ phận nhỏ trong nền kinh tế cổ truyền của đồng bào các dân
tộc tỉnh Kon Tum.
Kinh tế hái lợm: Có tầm quan trọng đáng kể để cung cấp, bổ sung
thức ăn cho ngời dân một cách thờng xuyên. Thờng ngày theo mùa, ngời
dân có thể hái các loại rau, măng, nấm Vào lúc giáp hạt hoặc mùa màng
thất thu thì rừng còn là một nguòn lơng thực cần kíp: các loại cây thân củ,
rễ, quả có thể giúp đồng bào chống đói. Hái lợm có ý nghĩa kinh tế nổi
bật trong các sinh hoạt kinh tế khai thác tự nhiên nơi đây. Công việc này
chủ yếu do phụ nữ và các em bé gái đảm trách. Trong khi đó, việc săn bắn
hầu nh thuộc riêng về nam giới. Săn bắn vừa đem lại thực phẩm, lại có tác
dụng rèn luyện tinh thần thợng võ nhng cũng vô cùng cần thiết vì lý do bảo
vệ mùa màng. Cùng với hái lợm, săn bắn, trong lĩnh vực kinh tế chiếm đoạt
tự nhiên thì đánh bắt cá cũng góp phần tăng thêm thực phẩm cho ngời dân.

trọng mà các giáo Công giáo Pháp, Mỹ rất chú ý lợi dụng, tranh thủ để nắm
dân, để tuyên truyền, phát triển đạo.
Trong vùng dân tộc thiểu số còn tồn tại nhiều phong tục, tập quán
lạc hậu Do đời sống kinh tế khó khăn, phơng tiện sản xuất thô sơ, sản
xuất phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên, do trình độ dân trí thấp, nên quần
chúng rất tin vào Giàng (Thần). Họ luôn luôn trông chờ vào sự giúp đỡ, che
chở của Giàng hay những lực lợng siêu nhiên khác. Cũng chính vì vậy, họ
chỉ quan tâm những vấn đề thiết thực đối với cuộc sống hàng ngày của họ,
mang lại lợi ích cụ thể, trớc mắt họ. Họ chỉ tin, nghe theo những gì họ có
thể nhìn thấy, sờ thấy. Mặt khác, do sống xen kẽ với ngời Kinh, một dân tộc
có đời sống và dân trí cao hơn, thì đồng bào dân tộc thiểu số lại luôn có t t-
ởng mặc cảm, tâm lý tự ti. Và nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số ở đây
sống chân thật, chất phác đơn giản và dễ hiểu. Đối với ngời dân tộc thiểu
số, tệ ăn cắp, lấy vợ lấy chồng cùng dòng họ sẽ bị già làng phạt nặng, nh
phạt trâu, bò, heo, gà, rợu, chiêng
Trong dân tộc Xơ Đăng, Ba Na và Gia Rai mỗi làng đều xây dựng
một nhà rông, biểu hiện sự mạnh mẽ, vững chắc, dùng cho thanh niên sinh
hoạt và nghỉ ngơi, hay là nơi tụ tập để già làng giải quyết các vấn đề nảy
sinh trong làng.
Đặc điểm về dân tộc
Theo dấu tích di chỉ khảo cổ học, những yếu tố văn hóa cổ xa còn
lại trong lòng đất và đời sống của c dân, các nhà khoa học đều xác định
rằng ở Tây Nguyên từ ngàn xa đã có ngời nguyên thủy sinh sống. Lớp c dân
bản địa đầu tiên giả định là giống ngời tóc quăn, vóc dáng lùn, da đen thuộc
chủng tộc Ôxtraoit, đến nay chỉ còn lại những vết tích nhân chủng ở cộng
đồng dân tộc thiểu số bản địa hiện đang sinh sống trên địa bàn tỉnh Kon
Tum, gồm: Xơ Đăng, Ba Na, Giẻ Triêng, Gia Rai, Brâu, Rơ Mâm
Dân tộc Xơ Đăng có các nhóm địa phơng gồm: Xơ teng (H'đang),
Tơdră, Rơ Mâm, Hà lăng, Cà dong, Châu, Ta trẻ; dân số trên 67.369 ngời
(chiếm 25,2% dân số toàn tỉnh), có mặt hầu hết khắp các huyện, thị trong

Mỹ. Kon Tum cũng là nơi có nhiều cán bộ, trí thức, anh hùng rất nổi tiếng
là ngời dân tộc thiểu số.
Đặc điểm về tín ngỡng - tôn giáo
Đối với ngời dân ở Kon Tum, tuy đời sống vật chất còn nghèo nàn,
lạc hậu, nhng đời sống tinh thần phong phú, đa dạng, luôn làm cho con ngời
sống tràn ngập trong bầu không khí lễ hội nh để tiếp thêm sức mạnh, giúp
họ tự tin, vững vàng hơn trong cuộc sống.
Tất cả dân tộc đều thống nhất một điểm bao trùm và chi phối quan
trọng trong nhiều hoạt động của cá nhân cũng nh cộng đồng, đó là tín ng-
ỡng vạn vật hữu linh. Hiểu theo đó, thế giới có nhiều siêu nhiên ẩn tàng vô
hình trong các khách thể vật chất ở khắp nơi xung quanh con ngời và cả
trong bản thân của mỗi ngời. Xuất phát từ những tín niệm đó, các thần linh
lại chi phối một cách sâu sắc, huyền bí đối với cuộc sống của họ. Những lễ
thức tôn giáo gắn liền với hầu hết các lĩnh vực hoạt động nhằm ngăn ngừa
tai họa, rủi ro, cầu xin sự tốt lành may mắn. Điểm chung nhất của ngời dân
là trong cúng bái bao giờ cũng có việc hiến sinh, dân đồ ăn thức uống tế
thần và lời khấn cầu mong sự tốt đẹp cho cuộc sống trần thế, nhờ trời phù
hộ cho con cháu khỏe mạnh, sinh sôi.
Xã hội thần thánh của ngời Tây Nguyên rất phong phú, đa dạng.
Theo tác giả Đỗ Hữu Nghiêm thì có hai loại: Thợng đẳng thần và Hạ đẳng
thần
(1)
. Trong linh giới, ngoài các thần còn có ma quỷ, trong các loài ma
quỷ thì ngời ta sợ nhất là Ma Lai. Mai Lai đợc hình dung giống ngời quỷ
sống chung lẫn với ngời, đêm đêm lần mò đi tìm ăn xác chết, hút máu, hút
ruột ngời. Xa kia Ma Lai cũng là ngời nhng ăn phải thịt ngời nên trở thành
ma. Ngời ta xa lánh những ngời bị tình nghi là Ma Lai. Khi phát hiện ai là
Ma Lai ngời ta sẽ giết luôn ngời đó hoặc cả gia đình họ để trừ tuyệt căn.
Ngời dân ở đây có nhiều kiêng cữ, họ tin rằng trong mối liên hệ bí
ẩn với các thần linh, một thành viên dân làng có thể ảnh hởng tới cả cộng

chờ chung sự linh nghiệm ở những gì sẽ đến trong cuộc sống của buôn làng
mình.
Việc cúng bái theo truyền thống đến nay vẫn là gánh nặng đối với
đồng bào dân tộc thiểu số, vốn đời sống đã hết sức khó khăn, thiếu thốn;
nhng nó cũng không giải quyết đợc vấn đề họ mong muốn. Cùng với những
tác động của thời đại, khi giao lu đợc mở rộng, trình độ dân trí đợc nâng
lên, các tín ngỡng tôn giáo cổ truyền bắt đầu lung lay, mất dần sự thuyết
phục, và tất nhiên nó phải nhờng chỗ cho những tín ngỡng tôn giáo hợp thời
hơn.
Tín ngỡng cổ truyền hình thành và duy trì trong cộng đồng các dân
tộc thiểu số một cách giải thích về thế giới bên ngoài, đồng thời là một chỗ
dựa về tinh thần trong cuộc sống có nhiều bất trắc và trở lực từ thiên nhiên
và con ngời. Thông qua các lễ hội tôn giáo cổ truyền mà liên kết cộng
đồng, gắn bó cá nhân với gia đình và cộng đồng. Bên cạnh đó, các lễ nghi
nh tục chia của cho ngời chết, lễ tạ thần linh giúp cho mùa màng bội thu
xét về mặt đạo đức, nó giáo dục cho các thành viên trong cộng đồng ý thức
về quan hệ tơng thân tơng ái, ăn quả nhớ ngời trồng cây
Giữa thế kỷ 19, Công giáo đợc truyền lên Tây Nguyên, trong đó có
Kon Tum. Tuy nhiên, Công giáo đã gặp những trở lực và xung đột từ phía
tín ngỡng cổ truyền, vì nó cấm việc thờ cúng Giàng, cúng ma; bắt phải bỏ
thờ đa thần, chỉ đợc thờ một mình Chúa Giêsu. Tuy nhiên trải qua năm
tháng, Công giáo đã đứng vững, ăn sâu, bám rễ chắc chắn ở Tây Nguyên và
Kon Tum. Một bộ phận khá đông đồng bào dân tộc thiểu số đã từ bỏ thờ
cúng đa thần chuyển sang Công giáo, thờ cúng một thần.
Cho đến nay, Kon Tum có 94.075 tín đồ Công giáo, trong đó 73.566
tín đồ Công giáo là đồng bào dân tộc thiểu số, 2 Giám mục, 19 Linh mục,
88 nữ tu, 519 giáo phu, câu biện.
Đạo Tin Lành truyền lên Kon Tum năm 1960. Đến nay có 9.430 tín
đồ, chủ yếu là đồng bào dân tộc, chức sắc tự phong có 72 ngời, 24 hội
thánh, 25 ban chấp sự.

nhiệm địa phận Đàng Trong ở Quy Nhơn - tỉnh Bình Định, đã cử hai linh
mục ngời Pháp tìm đờng lên vùng thợng Tây Nguyên truyền giáo nhng việc
cha thành thì đã bị nhóm lái buôn ngời Việt bắt nộp cho triều đình Huế, sau
đó vài ba chuyến xâm nhập khác lên Tây Nguyên cũng bất thành.
Sau nhiều lần thất bại, Cuénot đã nhận ra rằng trong giai đoạn mà
nhà Nguyễn đang truy bắt những ngời theo đạo Kitô, thì một Thừa sai ngời
Âu tìm đờng xâm nhập lên vùng cao nguyên là liều lĩnh và khó thành công.
Vì vậy cần phải có một ngời Việt nào đó đi thám thính trớc, xem xét các
nơi thờng có các thơng gia qua lại và thu thập các tin tức về các bộ lạc ngời
thợng, ngoài tầm lui tới của các thơng nhân ngời Kinh, chính ở đó mới có
thể thiết lập đợc cơ sở truyền giáo đầu tiên. Với những ý đồ đó, năm 1848,
Giám mục Cuénot đã tìm đợc một tu sĩ là Nguyễn Do ngời Hoài Ân - tỉnh
Bình Định (thờng gọi là thấy Sáu Do) và giao nhiệm vụ lên Tây Nguyên tìm
đờng truyền giáo. Nguyễn Do với một vài lái buôn ngời Kinh đã tìm đợc
một con đờng độc đạo, bí mật lên vùng cao nguyên và nghiên cứu đợc
phong tục tập quán, ngôn ngữ của ngời thợng, ở Kon Tum đã đáp ứng đợc ý
đồ của linh mục Pháp ở Đàng Trong chỉ đạo.
Năm 1850 đã đánh dấu những bớc chân đầu tiên của các nhà truyền
giáo Pháp trên đất Tây Nguyên. Đó là hai linh mục Combé và Fontaine. Với
sự dẫn dắt của Nguyễn Do, các cha cố dòng Thừa sai Paris đã trụ lại đợc
gần một làng dân tộc ngời Ba Na, nơi đây là một thung lũng rộng mênh
mông có một con sống lớn chạy qua, với nhiều hồ lớn nhỏ và đợc gọi theo
tiếng dân tộc là Kon Tum.
Để thực hiện đợc ý đồ đen tối, mặc dù sống trong một môi trờng hết
sức khó khăn, phức tạp, họ vừa đấu tranh với đói rét, bệnh tật, vừa tìm mọi
cách để tạo thiện cảm với dân chúng tại chỗ, các nhà truyền giáo Pháp đã
bằng các thủ đoạn gian ngoan, khôn khéo của mình, từng bớc đẩy lùi tín
ngỡng cổ truyền đa thần, để xây dựng miền Kitô giáo trong từng ngời, từng
bộ phận dân tộc. Ngày 01/01/852 một đứa trẻ ngời dân tộc thiểu số Kon
Tum đầu tiên đợc làm phép rửa tội một cách vội vã, không chính thức trong

quản lý hành chính để họ trở thành những "cha đạo - thực dân" đầy quyền
lực và giàu có trên Tây Nguyên. Đây là giai đoạn quan trọng trong quá trình
truyền đạo đến Kon Tum, không những đã ổn định đợc các cơ sở truyền bá
đức tin mà còn có cơ hội để các vị thừa sai đúc rút ra những kinh nghiệm,
thủ đoạn truyền giáo, đồng thời là giai đoạn khai phá, phát triển đồn điền
tạo cơ sở vật chất cho Giáo hội.
Đến năm 1929 vùng truyền giáo Kon Tum đã hình thành đợc hệ
thống đạo ở vùng đông dân, dọc các trục lộ giao thông, đồn bót địch đóng
khắp ba tỉnh Kon Tum, Pleiku, Đăklăk và có khoảng 17.700 tín đồ và một
số lợng dự tòng, mà trung tâm điểm là Kon Tum. Có 23 cơ sở, 146 họ đạo
thợng, 23 linh mục và một trờng nội trú đào tạo giảng viên giáo lý cho ngời
dân tộc, mang tên trờng Giáo phu Cuénot (số liệu trên của cả ba tỉnh). Có
thể các nhà truyền giáo đã thành công trong công cuộc truyền đạo bằng
biện pháp "vết dầu loang", nh trong báo cáo của đạo Công giáo Kon Tum
gửi về Hội Thừa sai Paris viết: "Tinh thần dân chúng thuận lợi, và một cuộc
tiến lên với tài lực và nhân lực đầy đủ, đã đem lại kết quả mỹ mãn. Hãy cầu
xin chủ nhân mùa thu hoạch gởi công nhân đến vờn nho cao nguyên của
ngời".
Thời kỳ thành lập địa phận và phát triển đạo:
Trớc sự phát triển nhanh chóng của cộng đồng Kitô giáo trong ngời
dân tộc miền cao nguyên, và công nhận sự thành công trong công cuộc
truyền giáo, ngày 18/01/1932, Tòa thánh Vatican đã có sắc chỉ thành lập
Giáo phận Kon Tum (tách khỏi địa phận Quy Nhơn), bao gồm các miền:
Kon Tum, Pleiku (Gia Lai), Đăklăk và Atap (Lào), do Giám mục Martial,
ngời Pháp cai quản. Thời kỳ này nhiều trờng đào tạo, tổ chức tôn giáo đợc
thành lập nh: Trờng Tiểu chủng viện, trờng dòng, bệnh viện, cô nhi viện,
các dòng tu v.v
Năm 1942, Tòa thánh tiến hành tách vùng Atap (Lào) ra khỏi giáo
phận Kon Tum, do vùng này thuộc nớc Lào và điều kiện truyền giáo gặp
khó khăn.

một thất bại lớn của đạo Công giáo ở Kon Tum. Sau thời kỳ khủng hoảng,
hoạt động tôn giáo của giáo phận Kon Tum dần dần đi vào xu hớng chấp
nhận và thích nghi với sự quản lý của chính quyền cách mạng. Một thời
gian rất dài trớc thế chiến thắng áp đảo của cách mạng và đối sách của ta
đối với Công giáo trong thời gian đó, trên địa bàn Kon Tum, Công giáo
không phát triển, thậm chí nhiều vùng trớc đây, với số lợng đông giáo dân
là đồng bào dân tộc thiểu số nay đã bỏ và "khô, nhạt" đạo, nh huyện Đăk
Tô, Ngọc Hồi, Kon Plong
Đất nớc bớc vào thời kỳ cách mạng mới, thực hiện công cuộc đổi
mới dới sự lãnh đạo của Đảng, hoạt động của Giáo hội Kon Tum đã có
những chuyển biến đáng khích lệ. Nhiều giáo sĩ, chức sắc Công giáo tham
gia vào các hoạt động phong trào hành động cách mạng của địa phơng, tích
cực vận động quần chúng giáo dân xây dựng cuộc sống mới, xây dựng
chính quyền cơ sở, thực hiện sống "tốt đời, đẹp đạo".
Bên cạnh đó, hoạt động của Giáo hội Kon Tum dới sự lãnh đạo của
Vatican đã và đang có những nội dung, hình thức, phơng pháp hoạt động
đáng quan tâm. Hớng chiến lợc của Giáo hội Công giáo Việt Nam hiện nay
do Vatican chỉ đạo là không nên manh động, đối đầu với nhà nớc mà phải
tập trung vào các hoạt động để phát triển thế lực của Giáo hội, làm cho
Giáo hội có đủ lực lợng để làm đối trọng với Nhà nớc ta. Nh vậy, ý đồ của
Vatican là củng cố thế và lực cho Giáo hội Công giáo Việt Nam đủ mạnh
để có thể sử dụng Giáo hội nh một công cụ, phơng tiện chống phá ta lâu
dài; dùng Giáo hội Công giáo Việt Nam để làm xói mòn cơ sở quần chúng
và các cơ sở của ta trong các vùng giáo, biến các địa phận Công giáo thành
lãnh địa riêng
(1)
.
Cùng với Vatican, các thế lực phản động quốc tế đứng đầu là Mỹ
coi việc lợi dụng Giáo hội Công giáo nớc ta nh một công cụ để thực hiện
chiến lợc "diễn biến hòa bình" ở Việt Nam. Theo Giáo s, tiến sĩ Chu

nới Tòa giám mục, tu viện và xây dựng lại nhà thờ ở những nơi đã bị h
hỏng, đòi lại đất nớc đã bàn giao cho Nhà nớc và các tổ chức xã hội hiện
nay đang sử dụng (phụ lục 1 về đất đai, trang 85, 86, 87). Giáo hội tìm mọi
cách khôi phục mở mang cơ sở tôn giáo ở những nơi "khô", "nhạt đạo",
vùng dân tộc ít ngời, khôi phục và tổ chức lại cấp hành chính đạo (nh tách
họ đạo, tổ chức hoạt động ở địa phận giáo hạt). Tăng cờng, củng cố, trẻ hóa
ban hành giáo cả số lợng và chất lợng, chủ yếu tín đồ hoạt động tôn giáo
tích cực; có nơi tranh thủ đảng viên gốc giáo để bầu vào ban hành giáo.
Các chức sắc Giáo hội tăng cờng quan hệ với Chính quyền, lợi dụng
sự lơi lỏng trong quản lý để hoạt động vợt khỏi khuân khổ luật pháp trong
một số việc, nh: Hoạt động tôn giáo trái phép che đậy bằng hình thức hoạt
động từ thiện, giáo dục, văn hóa, Các sinh hoạt trong đời sống tôn giáo
của tín đồ đợc Giáo hội quan tâm tổ chức chặt chẽ, hành lễ trang trọng, có
dịp là tổ chức ở quy mô lớn để biểu dơng lực lợng; quan tâm đầu t cho tín
đồ (nh làm giếng nớc, nhà vệ sinh, đờng giao thông nông thôn, cho vay vốn
phát triển kinh tế).
Đáng chú ý là trong hoạt động của Giáo hội hiện nay là tìm cách lôi
kéo cán bộ, đảng viên là tín đồ Công giáo tham gia sinh hoạt tôn giáo, bầu
vào các ban hành giáo; cô lập những gia đình cán bộ, đảng viên tích cực là
ngời Công giáo - nhất là cán bộ, đảng viên giữ các cơng vị lãnh đạo của
Đảng, Chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng ở địa phơng.
Đồng thời, Giáo hội tìm mọi biện pháp lôi kéo thanh - thiều niên thông qua
các hoạt động hội đoàn theo giới tính, sở thích rất linh hoạt và tổ chức chặt
chẽ.
Có thể nói, hoạt động của Giáo hội Kon Tum những năm gần đây
thực sự đa dạng, nhiều hình thức mới, cuốn hút đông đảo giáo dân (nhất là
giáo dân ngời dân tộc thiểu số) và lực lợng thanh niên. Điều đó đang tác
động không ít tới t tởng, tâm lý quấn chúng tín đồ, ảnh hởng tới đời sống,
sinh hoạt và sự phát triển chung của xã hội. Hiện nay, ở Kon tum vừa qua
đã xuất hiện những vấn đề chính trị phức tạp, do bọn phản động kính động

Hiện nay, Kon Tum có 7 huyện, thị xã có tín đồ theo đạo Công giáo
sinh sống, phân bố trên tất cả từ khu vực thị xã đến vùng sâu, vùng xa, vùng
đồng bào dần tộc, vùng kinh tế mới, đặc biệt ở một số địa bàn chiến lợc
quan trọng nh: Đăk glu (vùng cao Ngọc Linh, Mờng Hon); Măng Bút,
Măng Đen (Kon plông); Ngọc Hồi (ngã ba Đông Dơng). Đặc biệt, có xã và
điểm kinh tế mới toàn tòng (chiếm 75% đến 80% giáo dân so với dân số
trong xã) nh ở Đăk tơ re - huyện Kon plông, xã Ya Chim - thị xã Kon Tum,
xã Diên Bình - huyện Đăk Tô nhiều làng dân tộc trớc đây bị địch dồn dân
lập ấp chiến lợc khi trở về 100% giáo dân theo đạo Công giáo. Trong các cơ
quan nhà nớc nh ngành giáo dục, y tế, các doanh nghiệp và lâm trờng, trạm,
trại số giáo dân cũng chiếm tỉ lệ đáng kể (trên 2347 ngời, trong đó có 10%
lợi dụng để dạy giáo lý cho học sinh). Tổng số giáo dân là 94.075 tín đồ
trong đó có 73.566 tín đồ là đồng bào dân tộc ít ngời * (Báo cáo công toác
tôn giáo của Ban tôn giáo ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum, số 35/BC - TG
ngày 15 tháng 1 năm 2000). Tập trung đông nhất là ở thị xã Kon tum:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status