VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VĂN CHẾ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SỸ CỦA TỔNG CỤC
AN NINH – BỘ CÔNG AN TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - năm 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VĂN CHẾ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SỸ CỦA TỔNG CỤC
AN NINH – BỘ CÔNG AN TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 8 31 02 01
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS, TS. TRƯƠNG GIANG LONG
HÀ NỘI, năm 2019
Chương 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SỸ CỦA TỔNG
CỤC AN NINH .............................................................................................. 34
2.1. Những yếu tố tác động đến hiệu quả công tác giáo dục đạo đức
cách mạng cho cán bộ, chiến sỹ của Tổng cục An ninh ........................... 34
2.2. Thực trạng hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cách mạng .............. 43
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO
CÁN BỘ, CHIẾN SỸ CỦA TỔNG CỤC AN NINH ................................. 64
3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cách
mạng cho cán bộ, chiến sỹ của Tổng cục An ninh ................................... 64
3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức
cách mạng cho cán bộ, chiến sỹ của Tổng cục An ninh ........................... 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................. 1
PHỤ LỤC
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
An ninh, trật tự :
ANTT
An ninh nhân dân :
ANND
Ban Chấp hành Trung ương :
Xã hội chủ nghĩa :
XHCN
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đạo đức là một trong những yếu tố có tầm quan trọng hàng đầu đối với mỗi
người cán bộ, đảng viên nói chung, của CBCS CAND nói riêng. Theo Hồ Chí
Minh, đạo đức là cái gốc của người cách mạng, có tài mà không có đức là người vô
dụng. Đạo đức là một nhân tố mang tính quyết định đối với mục đích, diễn biến, kết
quả hành động của mỗi cá nhân nói riêng và của xã hội nói chung.
Đối với CBCS CAND, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn nhấn mạnh
đến tầm quan trọng của vấn đề giáo dục đạo đức cách mạng. Bởi vì CAND là thanh
bảo kiếm bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân nên mang bản chất chính trị sâu sắc;
phải thấm nhuần đạo đức cách mạng, có lối sống trong sạch, lành mạnh. Những
nhiệm vụ chính trị đặc biệt mà Đảng và nhân dân giao phó cho các CBCS CAND
có được thực hiện hay không và thực hiện ở mức độ nào, kết quả như thế nào chịu
ảnh hưởng rất lớn từ phẩm chất đạo đức của người đó. Giáo dục đạo đức cách mạng
cho người CBCS CAND giúp nâng cao ý thức đạo đức, bồi dưỡng niềm tin, tình
cảm đạo đức, hình thành lối sống chuẩn mực, thanh cao, trong sáng, tận tâm với
nghề, tận tuỵ với nhân dân. Do đó, công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho CBCS
CAND có tầm quan trọng đặc biệt.
Với sự nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức
cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng nhiều và đề ra nhiệm vụ xây dựng
Đảng, chính quyền về đạo đức, đặc biệt đối với lực lượng CAND. Tuy nhiên, trong
thời gian gần đây, ta đã phát hiện nhiều những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính
trị, đạo đức cách mạng của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên với những
diễn biến ngày càng phức tạp. Sự phai nhạt về niềm tin, lý tưởng, dao động lập
trường chính trị, quan điểm không đúng đắn về tiến trình xây dựng CNXH, về nền
khó khăn, hạn chế để khắc phục nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong công tác giáo
dục đạo đức cách mạng của CBCS TCAN.
Nhằm tiến hành nghiên cứu một cách khách quan, khoa học, nghiêm túc,
khảo sát bao quát từ lý luận đến thực tiễn để có thể nắm bắt, phân tích vấn đề một
cách toàn diện, mang lại hiệu quả tối ưu trong công tác giáo dục đạo đức cách mạng
của CBCS TCAN nói riêng, của CBCS CAND nói chung trong tình hình hiện nay,
chúng tôi chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cách mạng
2
cho cán bộ, chiến sỹ của Tổng cục An ninh – Bộ Công an trong tình hình hiện
nay” để nghiên cứu chuyên sâu, làm rõ vấn đề.
2. Tình hình nghiên cứu
Nhận thức tầm quan trọng của đạo đức cách mạng trong việc xây dựng xã
hội mới tốt đẹp hơn, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội trong thời đại mới, từng
bước thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, những năm gần đây đã có nhiều
công trình nghiên cứu trong và ngoài nước bàn về vấn đề đạo đức cách mạng và
giáo dục đạo đức cách mạng nói chung, cụ thể như:
- Thành Duy (1996), Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề đạo đức cách mạng, Nxb. Thông tin lý
luận, Hà Nội, 1996.
- Nguyễn Chí Mỳ (1999), Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức trong nền
kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản lý ở nước ta hiện
nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Thanh Lê (2004), Giáo dục lối sống nếp sống mới, Nxb. Tổng hợp thành
phố Hồ Chí Minh.
- Trịnh Duy Huy (2009), Xây dựng đạo đức mới trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Hà Nội.
Các công trình trên, ở mức độ nhất định, đã đề cập những vấn đề lý luận và
thực tiễn cơ bản về đạo đức cách mạng, đặc biệt là việc xây dựng, hoàn thiện những
giá trị đạo đức mới trong điều kiện xã hội chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền
KTTT định hướng XHCN; những giá trị đạo đức mới - đạo đức XHCN, đạo đức
cách mạng, lối sống mới theo tư tưởng Hồ Chí Minh; những mặt tích cực và những
mặt tiêu cực, những biểu hiện tha hoá về đạo đức, “tự diễn biến, tự chuyển hóa”,
đặc biệt là đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên ta cùng những nguyên nhân khách
quan, chủ quan chủ yếu; bước đầu đưa ra những phương hướng, giải pháp để nâng
cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên nói riêng,
cho toàn thể nhân dân Việt Nam nói chung.
Bàn về nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho
CBCS CAND cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan, làm rõ được
4
một số mặt về lý luận và thực tiễn nhằm củng cố, nâng cao chất lượng công tác, cụ
thể như:
- Thiếu tướng, GS, TS. Trương Giang Long (2015), “Định hướng giá trị
trong giáo dục thanh niên, sinh viên Công an nhân dân hiện nay”, Tạp chí Lý luận
Chính trị, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 6/2015.
- Thiếu tướng, GS, TS. Trương Giang Long (2017), “Xây dựng đội ngũ cán
bộ, chiến sỹ Công an nhân dân vững vàng về bản lĩnh chính trị - Một số vấn đề lý
luận và thực tiễn”, Tạp chí Cộng sản, tháng 9/2017.
- Giáp Văn Thông (2004), Vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng cho cán bộ,
chiến sỹ CAND trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam hiện nay, Luận văn Thạc sỹ Triết học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền,
Hà Nội.
- Phạm Bá Lượng (2009), Giá trị đạo đức truyền thống trong việc giáo dục
tác giáo dục đạo đức cách mạng cho CBCS CAND nói chung: Các công trình đã
hướng tới xây dựng hệ giá trị đạo đức cách mạng mới của CBCS CAND; phân tích
những quan điểm Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục đạo
đức cách mạng cho CBCS CAND; phân tích những vấn đề về lý luận và khảo sát
thực tiễn xã hội Việt Nam những yếu tố tác động đến công tác giáo dục đạo đức
cách mạng cho CBCS CAND, đặc biệt trong điều kiện KTTT định hướng XHCN ở
Việt Nam hiện nay; những nguyên nhân dẫn đến hạn chế của công tác giáo dục đạo
đức cách mạng của CBCS CAND để khắc phục, nâng cao hiệu quả công tác. Tuy
nhiên, chưa có công trình nào khảo sát, đưa ra hệ các tiêu chí và đánh giá hiệu quả
công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho CBCS CAND nói chung, của CBCS
TCAN nói riêng. Do đó, đề tài mà học viên lựa chọn không trùng với các công trình
khoa học đã được công bố, có giá trị đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn sâu sắc.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở lý luận về chung về hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cách
mạng cho CBCS CAND, luận văn đi sâu phân tích, làm rõ thực trạng hiệu quả công
tác giáo dục đạo đức cách mạng cho CBCS TCAN, qua đó đề xuất những phương
hướng và một số giải pháp để nâng cao chất lượng mặt công tác trên trong thời gian
tới.
6
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Một số vấn đề lý luận về hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cách mạng
cho CBCS CAND.
- Thực trạng hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho CBCS
TCAN.
- Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương, 6 tiết.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cách
mạng cho cán bộ, chiến sỹ Công an nhân dân.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho
cán bộ, chiến sỹ của Tổng cục An ninh.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục
đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sỹ của Tổng cục An ninh.
8
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SỸ CÔNG AN NHÂN DÂN
1.1. Nhận thức chung về công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho cán
bộ, chiến sỹ Công an nhân dân
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm đạo đức cách mạng
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội. Ý thức về đạo đức xuất hiện tương
đối sớm trong các hình thái kinh tế - xã hội khác nhau kể từ khi có sự xuất hiện của
loài người. Đạo đức đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội; sự phát
triển về trình độ nhận thức về đạo đức là một trong những thước đo cho sự phát
triển của loài người. Trong công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho CBCS
CAND, đạo đức ở đây là đạo đức cộng sản, đạo đức Mác – Lênin hình thành nên cơ
sở lý luận về đạo đức cách mạng. Các nhà sáng lập, phát triển CNXHKH từ C. Mác,
Ph. Ăngghen, Lênin đến Hồ Chí Minh luôn chú ý đến vấn đề đạo đức.
Các nhà triết học, nhà tư tưởng trước C. Mác và Ph. Ăngghen, do những hạn
chế về mặt lịch sử, hệ tư tưởng về cơ bản đã không đưa ra được một quan niệm
đúng đắn về đạo đức, họ thường quy bản chất đạo đức về một bản nguyên, cội
phản động không phải là đại diện cho sự tiến bộ, văn minh của xã hội con người
tương lai, thậm chí là trở lực cho sự phát triển; đạo đức của xã hội tương lai phải là
đạo đức cộng sản. V.I.Lênin đã luận giải một cách sâu sắc về lĩnh vực đạo đức mới
của những người cộng sản và có vai trò quan trọng trong việc cụ thể hóa tư tưởng
về đạo đức mới - đạo đức cộng sản - trên thực tiễn xây dựng nhà nước XHCN Liên
Xô. Theo V.I.Lênin: “Đạo đức đó là những gì góp phần phá hủy xã hội cũ của bọn
bóc lột và góp phần đoàn kết tất cả những người lao động chung quanh giai cấp vô
sản đang sáng tạo ra xã hội mới của những người cộng sản” [106, tr.369].
Với việc học tập, nghiên cứu, tiếp thu một cách sâu sắc những quan điểm
mang tính chất phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin vận dụng vào điều
kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam, đạo đức truyền thống của dân tộc Việt
Nam, Hồ Chí Minh cùng Đảng ta đã chủ trương xây dựng nền đạo đức mới, đạo
đức của những người cộng sản, đạo đức cách mạng ở nước ta. Cụm từ “đạo đức
10
cách mạng” do Chủ tịch Hồ Chí Minh lần đầu tiên nêu ra chính là nền đạo đức của
những người cộng sản, đạo đức của CNXH, chủ nghĩa cộng sản mà C. Mác, Ph.
Ăngghen, V.I.Lênin đã phát triển trong quá trình đấu tranh cho nhân loại tiến bộ
toàn thế giới. Tiếp nối các nhà sáng lập CNXHKH, Hồ Chí Minh nhận định: “Đạo
đức cũ như người đầu ngược xuống đất chân chổng lên trời. Đạo đức mới như
người hai chân đứng vững được dưới đất, đầu ngửng lên trời” [43, tr. 220]. Như
vậy, Hồ Chí Minh cho rằng đạo đức mới hay đạo đức cách mạng, đạo đức cộng sản
nó vượt qua trình độ của đạo đức phong kiến lạc hậu, cũ kỹ và cũng khác biệt, thậm
chí trái ngược hẳn với đạo đức tư sản vốn nhấn mạnh nhiều đến chủ nghĩa cá nhân,
chủ nghĩa vụ lợi... Đồng thời, Hồ Chí Minh khẳng định đạo đức cách mạng chính là
cái gốc, cái nền của người làm cách mạng, “Cũng như sông thì có nguồn mới có
nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo.
Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng
thông qua giáo dục.
Theo C. Mác, con người chính là một thực thể có sự thống nhất của mặt sinh
học và mặt xã hội. Đó là sự đúc kết khoa học của C. Mác thông qua một quá trình
nghiên cứu sự hình thành, phát triển của con người. Mác cho rằng đứa trẻ khi vừa
được sinh ra chính là một “con người dự bị”; “con người dự bị” sẽ không thể thực
sự trở thành con người nếu bị cô lập, bị tách biệt khỏi đời sống xã hội (chỉ có mặt tự
nhiên mà không có mặt xã hội). Khi trình bày trong tác phẩm Bản thảo kinh tế triết học năm 1844, C.Mác đã khẳng định: “Cá nhân là thực thể xã hội, cho nên
mọi biểu hiện sinh hoạt của nó, ngay cả nếu nó không biểu hiện sinh hoạt tập thể,
được biểu hiện cùng với những người khác - là biểu hiện và khẳng định của sinh
hoạt tập thể” [69, tr. 171]. Hay nói cách khác, Mác khẳng định một con người thực
sự là con người đầy đủ khi “con người dự bị” được tham gia vào môi trường xã hội,
được đắm mình trong các hoạt động xã hội trong quá trình tồn tại, phát triển của
mình. Khi tham gia vào các hoạt động xã hội, thông qua những thiết chế xã hội (đặc
biệt là thông qua quá trình được giáo dục), con người hòa nhập vào xã hội, phát
triển mặt xã hội của mình để trở thành một con người toàn vẹn. Giáo dục chính là
một hoạt động cần thiết để con người truyền thụ lại những kinh nghiệm cần thiết
cho các thế hệ tiếp nối, nhằm phục vụ cho quá trình sống, thích ứng và phát triển
trong môi trường xã hội. Đặc biệt, quá trình giáo dục truyền thụ lại trong các thế hệ
12
con người những giá trị tri thức và văn hóa. Các nhà sáng lập CNXHKH đã nhấn
mạnh mối quan hệ biện chứng giữa môi trường xã hội và hoạt động giáo dục – nhân
tố xã hội có tác dụng quy định những yếu tố của hoạt động giáo dục, có tác dụng
định hướng cho sự phát triển của giáo dục, còn giáo dục lại đóng vai trò tích cực,
quan trọng đối với sự phát triển của môi trường xã hội và sự tồn tại của con người.
Khi tìm tòi, đúc kết những quy luật của sự phát triển xã hội loài người, các
nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: Lịch sử, khi nhìn nhận ở
góc độ khoa học, khách quan, chính là sự phát triển và thay thế lẫn nhau của các
thân những tác nhân, đến lượt chúng (hiệu quả to lớn của chúng), tuyệt đối không
tương ứng với thời gian lao động trực tiếp cần thiết để sản xuất ra chúng, mà đúng
ra, chúng phụ thuộc vào trình độ chung của khoa học và vào sự tiến bộ của kỹ thuật,
hay là phụ thuộc vào việc ứng dụng khoa học ấy vào sản xuất… Thiên nhiên không
chế tạo ra máy móc, đầu máy xe lửa, đường sắt, điện báo, máy sợi con dọc di động,
v.v.. Tất cả những cái đó đều là sản phẩm lao động của con người, là vật liệu tự
nhiên được chuyển hoá thành những cơ quan của ý chí con người chế ngự giới tự
nhiên, hoặc của hoạt động của con người trong giới tự nhiên. Tất cả những cái đó
đều là những cơ quan của bộ óc con người do bàn tay con người tạo ra, đều là sức
mạnh đã được vật hoá của tri thức. Sự phát triển của tư bản cố định là chỉ số cho
thấy tri thức xã hội phổ biến đã chuyển hoá đến mức độ nào thành lực lượng sản
xuất trực tiếp, do đó nó cũng là chỉ số cho thấy những điều kiện của chính quá trình
sống của xã hội đã phục tùng đến mức độ nào sự kiểm soát của trí tuệ phổ biến và
đã được cải tạo đến mức độ nào cho phù hợp với quá trình ấy; những lực lượng sản
xuất xã hội đã được tạo ra đến mức độ nào không những dưới hình thức tri thức, mà
cả như là những cơ quan thực hành xã hội trực tiếp, những cơ quan trực tiếp của quá
trình sống hiện thực” [70, tr. 368-369, 372-373]. Chính vì vậy, các nhà lý luận kinh
điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin đã kết luận: “bộ phận giác ngộ nhất của giai cấp công
nhân hiểu rất rõ rằng, tương lai của giai cấp công nhân tức là tương lai của loài người,
hoàn toàn phụ thuộc vào việc giáo dục thế hệ công nhân đang lớn lên” [71, tr. 7].
Nhìn nhận xuyên suốt quá trình phát triển các quan niệm về giáo dục, tư
tưởng giáo dục, triết lý giáo dục, các nhà tư tưởng đều nhìn nhận giáo dục chính là
14
một cách thức để truyền thụ những tri thức của nhân loại, giá trị của xã hội đến
người học; thông qua quá trình giáo dục, con người được truyền thụ về các giá trị xã
hội, học cách để gia nhập vào xã hội và phục vụ cho một chế độ xã hội thể hiện
trong một giai đoạn xác định. Giáo dục ở đây được hiểu là có mục đích lấy xã hội
hiện cùng với sự xuất hiện của loài người, khi con người có quan hệ với tự nhiên
bằng công cụ và phương tiện lao động thì nhu cầu về sự truyền đạt và lĩnh hội kinh
nghiệm của thế hệ trước cho thế hệ sau mới xuất hiện. Giáo dục như là một phương
thức của xã hội đảm bảo việc kế thừa văn hoá, phát triển nhân cách” [35, tr. 14]...
Tóm lại, có thể hiểu giáo dục là một trong những loại hình hoạt động của
các tổ chức và cá nhân nhằm tác động vào đối tượng dưới các phương pháp, cách
thức khác nhau nhằm làm thay đổi sự phát triển của đối tượng tác động theo chiều
hướng tốt hơn, tích cực hơn theo mong muốn của chủ thể giáo dục.
Giáo dục mà công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho CBCS CAND đề cập
là nền giáo dục của những người cộng sản, hướng tới xây dựng những con người
mới XHCN nói chung, người CBCS CAND nói riêng.
1.1.1.3. Khái niệm giáo dục đạo đức cách mạng
Qua việc tìm hiểu về khái niệm đạo đức, ta có thể hiểu giáo dục đạo đức
chính là quá trình chủ thể giáo dục tạo nên sự tác động vào đối tượng giáo dục, cốt
yếu nhằm hình thành ở đối tượng giáo dục những nội dung về ý thức, tình cảm,
niềm tin, lý tưởng, hành vi đạo đức hay những phẩm chất đạo đức cần thiết trong
từng giai đoạn lịch sử nhất định, phù hợp với yêu cầu của xã hội.
Thông qua giáo dục đạo đức cách mạng, những phẩm chất đạo đức cần thiết,
phù hợp với chuẩn mực của xã hội - được xem là yêu cầu của xã hội - sẽ được
chuyển hóa trở thành sự thúc đẩy của nội tâm trong đối tượng giáo dục. Đó chính là
con đường, cách thức cơ bản để góp phần điều chỉnh nhận thức và hành vi của đối
tượng giáo dục một cách đầy đủ, đúng đắn, chủ động, phù hợp với yêu cầu mà xã
hội đặt ra.
Bên cạnh mục đích nâng cao trình độ nhận thức của đối tượng giáo dục về
những chuẩn mực, giá trị đạo đức của xã hội, công tác giáo dục đạo đức cách mạng
còn là một phương thức để xây dựng được những quan điểm, phẩm chất đạo đức
mới, quan niệm và lẽ sống tích cực ở đối tượng nhận tác động. Giáo dục đạo đức
cách mạng giúp cho đối tượng giáo dục hiểu biết và nhận diện một cách rõ ràng
16
Bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ của toàn
17
Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị; trong đó, lực lượng CAND là
lực lượng làm nòng cốt. Đó là công tác liên quan đến một lĩnh vực đặc biệt, có tầm
quan trọng hàng đầu đến sự tồn vong và phát triển của một đất nước, đến cuộc sống
bình yên của nhân dân. Trách nhiệm mà lực lượng CAND được giao là bảo vệ an
ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; thực hiện những biện pháp nhằm
thống nhất quản lý về bảo vệ ANTT; kiên quyết đấu tranh để phòng, chống mọi âm
mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm và các hành vi
vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Về phạm vi
hoạt động, địa bàn công tác của lực lượng CAND được trải khắp các lĩnh vực, các
mối quan hệ của đời sống xã hội; lực lượng CAND trực tiếp tiếp xúc với các đối
tượng là con người hiện thực, con người cụ thể đang sinh sống, làm việc, hoạt động
trong xã hội hiện thực.
Với những nhiệm vụ ấy, lực lượng CAND phải nêu cao vai trò của mình
trong việc bám sát địa bàn, bám sát các đối tượng, phát hiện và ngăn chặn kịp thời
những mặt trái, những tiêu cực tồn tại trong xã hội; lực lượng CAND phải sử dụng
các biện pháp, sức mạnh từ pháp luật và nghiệp vụ, sự vững vàng về chính trị, bản
lĩnh chính trị, sự kiên quyết, khôn khéo qua quá trình đào tạo và kinh nghiệm đúc
kết được để đấu tranh với những mặt tiêu cực, mặt xấu của xã hội;... Chính vì vậy,
nghề nghiệp của lực lượng CAND quy định sự hy sinh thầm lặng, bí mật do yêu cầu
nghiệp vụ đặt ra, sự tuân thủ một cách chặt chẽ và vận dụng linh hoạt các biện pháp
nghiệp vụ theo pháp luật, đảm bảo những định hướng phát triển đất nước mà Đảng,
Nhà nước và nhân dân ta lựa chọn.
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng cơ sở vật chất của
CNXH, công tác bảo vệ ANTT đặt ra ngày càng nặng nề hơn, phức tạp hơn; các loại tội
phạm và thế lực thù địch, phản động ngày càng tinh vi hơn trong phương thức, thủ đoạn
chủ nghĩa cá nhân vị kỷ.... Về chủ quan, đó là những nguyên nhân sâu xa gây nên
tình trạng suy thoái về đạo đức của cán bộ, đảng viên mà Đảng ta đã chỉ ra. Tuy
nhiên, Đảng ta nhấn mạnh nguyên nhân trực tiếp hàng đầu dẫn đến tình trạng suy
thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên lại chính là do sự thiếu tự giác tu dưỡng, rèn
luyện, ham hưởng thụ của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; do những yếu
tố chủ quan như lập trường không vững vàng, tư tưởng còn hoang mang, dao động
trước những yếu tố tác động của môi trường bên ngoài; cán bộ, đảng viên sa vào
19
những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, hẹp hòi, ham hưởng thụ vật chất,
không xem trọng nhiệm vụ trước Đảng và nhân dân, Một nguyên nhân khác cần
nhận diện là về công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên
có lúc, có nơi còn chưa được thực hiện tốt; các nội dung cơ bản về Chủ nghĩa Mác –
Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, các Nghị quyết của Đảng đôi khi còn được giảng
dạy và học tập dưới hình thức kém hiệu quả, phương pháp kém sức thuyết phục,
chậm đổi mới cho phù hợp với điều kiện mới; chưa tạo được sự thống nhất cao độ
về nhận thức của toàn thể cán bộ, đảng viên về tình trạng suy thoái, những biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và những hậu quả do nó gây ra; trong quá trình tổ
chức sinh hoạt đảng ở một số chi bộ ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, đơn điệu;
công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa có chiều sâu, không theo kịp
tình hình thực tế; công tác xây dựng, tuyên truyền, nhân rộng những mô hình mới,
những tấm gương điển hình tiên tiến còn có lúc chưa được thực hiện hiệu quả,
nghiêm túc. Một số nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nội dung chưa sát
thực tiễn, thiếu tính khả thi và thiếu chế tài xử lý. Không ít cấp ủy, tổ chức đảng,
người đứng đầu các cấp chưa có quyết tâm chính trị cao; các chủ trương, đường lối
của Đảng (đặc biệt là những nội dung thể hiện trong Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận
của BCHTW, BCT, Ban Bí thư) chưa được cụ thể hóa một cách nghiêm túc, bám
sát tình hình thực tiễn ở một số địa phương, đơn vị, nội dung còn mang tính chung