DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCV : Báo cáo viên
CC : Cao cấp
CĐ : Cao đẳng
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
CSCN : Cộng sản chủ nghĩa
ĐBSCL : Đồng bằng sông Cửu long
ĐH : Đại học
LLCT : Lý luận chính trị
SC : Sơ cấp
TC : Trung cấp
THCS : Trung học cơ sở
THPT : Trung học phổ thông
TTBDCT : Trung tâm bồi dưỡng chính trị
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI BÁO CÁO VIÊN
5
1.1. Bản chất và đặc trưng của lý luận chính trị 5
1.2. Vai trò của lý luận chính trị đối với hoạt động của người báo cáo viên 18
Chương 2: NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ CHO ĐỘI
NGŨ BÁO CÁO VIÊN ĐẢNG BỘ CẤP HUYỆN ĐỒNG
BẰNG SÔNG CỬU LONG - THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU
31
2.1. Thực trạng trình độ lý luận chính trị của đội ngũ báo cáo viên
tr. 30]. “chỉ có Đảng nào có được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì
mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [24, tr.32]. Để
làm tròn sứ mệnh của mình, Đảng cộng sản không chỉ nắm vững lý
luận tiên phong, mà còn phải trang bị cho quần chúng lý luận tiên
phong đó; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chỉ khi nào quần
chúng giác ngộ, tự giác chiến đấu với niềm tin khoa học vào sự thắng
lợi thì cách mạng mới thành công.
Với ý nghĩa đó trong mỗi giai đoạn cách mạng Đảng cộng sản
Việt Nam luôn coi trọng công tác tư tưởng, lý luận nói chung và công
tác tuyên truyền chính trị nói riêng. Công tác tuyên truyền là một trong
những lực lượng xung kích của Đảng góp phần cùng cả nước tạo nên
những thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nước, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), thực hiện công nghiệp
hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội
công bằng dân chủ và văn minh.
Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đã và đang xuất hiện nhiều
vấn đề phức tạp, to lớn và cấp bách cần được nhận thức đúng và giải
quyết kịp thời. Trên thế giới cũng đang diễn ra nhiều sự kiện có tính
“đảo lộn”, cực kì phức tạp, hàng ngày hàng giờ đang tác động vào tư
tưởng, tình cảm của hàng triệu đảng viên và quần chúng nhân dân;
cuộc đấu tranh chống lại “diễn biến hòa bình” của địch diễn ra vô cùng
gay gắt, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và thông tin. Các thế
lực thù địch ra sức lợi dụng những khó khăn khủng hoảng của CNXH
để tấn công ráo riết vào học thuyết Mác - Lênin, con đường và chế độ
3
xã hội chủ nghĩa (XHCN), hòng làm lung lạc niềm tin của cán bộ, đảng
viên, quần chúng nhân dân.
Để giành thế chủ động trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta
phải coi trọng việc lãnh đạo và tổ chức phối hợp thật tốt các kênh
tuyên truyền; đặc biệt, phải coi trọng xây dựng đội ngũ báo cáo viên
của Trần Thị Yến Ninh, Luận văn thạc sĩ triết học, 1998.
- “Nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý
cấp huyện ở tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay”, của Nông Văn
Tiềm, Luận văn thạc sĩ triết học, 2001.
- “Nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ
chốt cấp cơ sở ơ tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn
Thị Hồng Lê, Luận văn thạc sĩ triết học, 2004.
Các tác giả trên đã đề cập ở những góc độ khác nhau về LLCT,
trình độ LLCT của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý nói chung hoặc
cán bộ quản lý sản xuất kinh doanh… Nhưng vấn đề nâng cao trình
độ LLCT cho đội ngũ BCV các cấp của Đảng, cụ thể là cấp huyện ở
ĐBSCL vẫn còn là mảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích thực trạng trình độ LLCT của đội ngũ BCV
Đảng bộ cấp huyện ở ĐBSCL (qua thực tế Long An), đề xuất một số
phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm từng bước nâng cao trình
độ LLCT cho đội ngũ này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Chỉ rõ vai trò LLCT đối với hoạt động của người BCV.
- Phân tích thực trạng nâng cao trình độ LLCT của đội ngũ BCV
Đảng bộ cấp huyện ở ĐBSCL (qua thực tế Long An).
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm từng
bước nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ BCV Đảng bộ cấp huyện ở
ĐBSCL
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu việc nâng cao trình độ LLCT
cho đội ngũ BCV Đảng bộ cấp huyện ở ĐBSCL trong giai đoạn hiện
nay (qua thực tế Long An).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu
Tri thức không phải là cái sẵn có trong đầu óc con người mà được
hình thành và bổ sung trong quá trình tác động cải tạo thế giới. Từ
những tri thức, kinh nghiệm thực tiễn, con người trừu tượng hóa, khái
quát hóa, để hình thành nên lý luận về một lĩnh vực hiện thực nhất
định của đời sống xã hội, định hướng cho thực tiễn.
Có thể chia tri thức đạt được thành: tri thức kinh nghiệm và tri
thức lý luận. Không nên đồng nhất kinh nghiệm với tri thức cảm tính,
hoặc đồng nhất lý luận với tri thức lý tính, vì trong kinh nghiệm ít nhiều
có tính khái quát hóa, có yếu tố lý tính, tri thức kinh nghiệm là cơ sở
để khái quát thành lý luận, lý luận là kết quả khái quát hóa kinh
nghiệm.
Tri thức kinh nghiệm là tri thức thu nhận được chủ yếu từ quan
sát trực tiếp đời sống hàng ngày, trong lao động sản xuất, chiến đấu và
thực nghiệm. Tri thức kinh nghiệm của con người bước đầu đã mang
tính trừu tượng hóa, khái quát hóa, song còn nhiều hạn chế. Nó mới
đem lại cho con người sự hiểu biết về các mặt riêng lẻ, bên ngoài của
sự vật. Tri thức kinh nghiệm còn rời rạc, chưa tạo thành chỉnh thể, phạm
vi áp dụng hẹp. Khi nhận xét về tri thức kinh nghiệm Ăngghen nói: “Sự
quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh
được đầy đủ tính tất yếu” [35, tr. 718].
Xét về bản chất, lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ
thực tiễn phản ánh những mối liên hệ tất nhiên, bản chất, mang tính
quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan; lý luận
không tự phát hình thành mà thông qua hoạt động tự giác của các nhà
lý luận. Không phải cứ có nhiều kinh nghiệm là có lý luận, lý luận
7
không phải là số cộng giản đơn của các kinh nghiệm; tri thức lý luận
có tính trừu tượng và khái quát cao, có thể đem lại cho con người
những hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính tất yếu, tính quy luật của
các sự vật hiện tượng.
quan trọng đối với hoạt động của con người.
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị muốn giữ vững địa vị
thống trị thì phải có lý luận của mình, nói đến Đảng chính trị, đồng thời
phải nói đến LLCT của Đảng ấy.
Để hiểu LLCT, chúng ta cần làm rõ thêm khái niệm chính trị:
chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt xuất hiện từ khi xã hội phân
chia thành giai cấp, nhà nước. Thuật ngữ chính trị xuất phát từ tiếng
Hy Lạp có nghĩa là công việc có liên quan đến nhà nước, nghệ thuật
cai trị nhà nước, là phương pháp nhất định để thực hiện các mục tiêu
của quốc gia.
Trong lịch sử nhân loại, chính trị đã từng được coi là lĩnh vực
hoạt động, là công cụ đặc quyền của nhóm người thống trị đối với
người bị trị, là đặc quyền của tầng lớp trên, thậm chí của một người
được coi là “thiên tử”. Tư tưởng dân chủ ra đời là một bước tiến của
lịch sử: chính trị trở thành công việc đông đảo của quần chúng nhân
dân, mọi người có quyền tham gia vào chính trị, vào công việc của
nhà nước… tuy nhiên, mức độ này phụ thuộc vào những điều kiện
kinh tế, văn hóa xã hội của mỗi công dân.
Nhà Triết học Hy lạp cổ đại – Platon cho rằng, chính trị là nghệ
thuật cai trị, cai trị bằng sức mạnh là độc tài còn cai trị bằng thuyết
phục mới đích thực là chính trị.
Nhà xã hội học Đức đầu thế kỷ XX – Max Weber quan niệm,
chính trị là khát vọng tham gia quyền lực hay ảnh hưởng đến sự phân
chia quyền lực giữa các quốc gia, bên trong quốc gia, hay giữa các
tập đoàn người bên trong quốc gia. Chính trị là những mong muốn và
những tương tác khách quan của cộng đồng người đối với quyền lực
v.v…
Các quan niệm trên tuy có những nhân tố hợp lý, nhưng chưa
đề cập đến nội dung cơ bản của phạm trù chính trị như là thực thể tồn
tại bên trong đời sống xã hội với những cấp độ khác nhau, liên quan
của giai cấp vô sản đang đấu tranh tự giải phóng mình chống giai cấp
tư sản toàn thế giới … chính trị của chúng ta lúc này là xây dựng nhà
nước về mặt kinh tế “. Lênin còn chỉ rõ:
10
Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp – là cái quyết định
vận mệnh của các nước Cộng hòa. Bộ máy là công cụ bổ trợ,
nó càng vững mạnh chừng nào thì càng tốt và càng có ích
hơn cho sự biến đổi. Nhưng nếu không có năng lực chấp
hành sứ mệnh đó, thì nó cũng chẳng còn có tác dụng gì nữa
[30, tr. 482-483].
Như vậy, vấn đề mà Lênin quan tâm là: “năng lực chấp hành sứ
mệnh” của giai cấp. Năng lực này không chỉ phụ thuộc vào ý chí,
nguyện vọng của giai cấp mà còn phụ thuộc trình độ dân trí, trình độ
văn hóa của quần chúng nhân dân: “một người không biết chữ là
người đứng ngoài chính trị; trước hết phải dạy a, b, c, d… cho họ đã.
Không thế thì không thể có chính trị; không thế thì chỉ có những tin
đồn đại, những chuyện nhảm nhí, những chuyện hoang đường,
những thiên kiến chứ không phải chính trị”. [31, tr. 87-88]
“Quần chúng có hàng triệu, và chính trị thì bắt đầu ở nơi nào
có hàng triệu người, không phải ở nơi có hàng nghìn người mà ở đâu
có hàng triệu người thì ở đó có một chính trị nghiêm túc” [29, tr. 20].
Như vậy theo Lênin, phạm trù chính trị được hiểu:
* Chính trị là lợi ích, là đấu tranh giai cấp.
* Cái căn bản nhất của chính trị là việc tổ chức chính quyền,
quyền lực nhà nước.
* Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, đồng thời chính trị
không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế.
* Văn hóa là cơ sở để xây dựng nền chính trị tiến bộ.
* Chính trị là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm nhất, liên quan đến vận
mệnh hàng triệu người, giải quyết vấn đề chính trị vừa khoa học, vừa
của chủ nghĩa Mác- Lênin, vận dụng một cách đúng đắn thích
hợp với điều kiện nước ta, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-
Lênin một cách sáng tạo và cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho
hành động của Đảng [10, tr. 127].
Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 20 năm
đổi mới, Đảng ta khẳng định, từ đại hội VII một bước tiến mới trong tư
duy lý luận của Đảng ta là nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn vai trò,
12
vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định chủ nghĩa Mác- Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam
cho hành động cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống
quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách
mạng Việt Nam, là kết quả vận dụng sáng tạo, phát triển sáng tạo của
chủ nghĩa Mác- Lênin vào thực tiễn cụ thể nước ta, kế thừa và phát
triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng ta khẳng
định:
Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập
dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải từ bỏ mục tiêu CNXH
mà là làm cho CNXH được nhận thức đúng đắn hơn và xây
dựng có hiệu quả hơn. Đổi mới không phải là xa rời mà là
nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa
Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư
tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng
[18, tr. 70].
Trong những năm đổi mới, Đảng ta có sự nhận thức đúng hơn,
tư duy lý luận của Đảng ta ngày càng sâu sắc hơn, bổ sung, phát triển
chủ nghĩa Mác- Lênin trên một loạt các vấn đề. Chẳng hạn, mục tiêu
chính các ông đã phác họa trước những thay đổi của thực tiễn.
Sức sống và sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh vẫn còn nguyên giá trị định hướng cho công cuộc cách mạng
hiện nay, những giá trị ấy không chỉ ảnh hưởng trước mắt mà còn lâu
dài đối với sự phát triển của nước ta và các nước trên thế giới. Hình
thành tư duy mới đối với chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
là trở về cội nguồn sáng tạo với tư duy khoa học của Mác, Ăngghen,
Lênin, Hồ Chí Minh. Ngọn đuốc tinh thần sáng tạo không ngừng dẫn
dắt chúng ta bước vào thế kỷ XXI với một quyết tâm không gì lay
chuyển nổi xây dựng thành công CNXH ở nước ta.
1.1.2. Đặc trưng của lý luận chính trị
Một là, như tất cả mọi lý luận khác, LLCT cũng có tính trừu
tượng và khái quát cao.
LLCT là kết quả khái quát hoá những tri thức về chính trị xã hội,
trên cở hoạt động thực tiễn chính trị xã hội của quần chúng. Do đó, nó
14
có tính trừu tượng và khái quát cao. Nó giúp nhận thức đi sâu vào bản
chất và phát hiện ra những quy luật vận động, phát triển của xã hội.
Quá trình trừu tượng hoá, khái quát hóa không tách rời nhau mà liên
hệ, bổ sung, xâm nhập nhau. Mục đích của hoạt động lý luận đặc biệt
LLCT là đi vào bản chất của đời sống xã hội, quan hệ giai cấp, vạch ra
bản chất ấy thông qua quy luật lịch sử và hoạt động lý luận – thực tiễn
của con người. Với LLCT khoa học, các khái niệm, phạm trù, quy luật
của nó có tính chính xác, chặt chẽ và lôgic, có độ tin cậy cao, tạo
thành một chỉnh thể thống nhất; tuy diễn đạt sự vật hiện tượng ở
những khía cạnh, yếu tố khác nhau nhưng lại có quan hệ chặt chẽ
nhau. Do đó, LLCT khoa học không thể là sự hùng biện áp đặt, chấp
vá, cắt xén những tri thức rời rạc, trái lại phản ánh đúng sự vật, dự
báo, định hướng sự vận động phát triển của lịch sử, xã hội.
Chủ nghĩa Mác- Lênin, một hệ thống lý luận khoa học điển hình,
thực tiễn, mà phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn trong nhận thức khoa học và hành động cách mạng. “Thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ
nghĩa Mác- Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành
thực tiễn mù quáng. Lý luận không có thực tiễn là lý luận suông” [42,
tr.496].
Chính chủ nghĩa Mác- Lênin là hiện thân tiêu biểu cho sự gắn
bó mật thiết giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình hình thành và
phát triển, là sự khái quát thực tiễn cách mạng và lịch sử xã hội, là sự
đúc kết những tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận trên các lĩnh vực
khác nhau. Sức mạnh của nó là ở chỗ nó gắn bó hữu cơ với thực tiễn
xã hội, được kiểm nghiệm, bổ sung, phát triển trong thực tiễn chính trị
– xã hội.
Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một
cách sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi to lớn.
Vì vậy, sinh thời Hồ Chủ tịch luôn coi trọng việc bồi dưỡng, giáo dục lý
luận cho cán bộ Đảng viên, nhất là bồi dưỡng giáo dục LLCT – yêu
cầu cơ bản không thể thiếu trong công tác xây dựng Đảng.
Việc học tập của các đồng chí không phải nhằm biến
các đồng chí thành những người lý luận suông, mà nhằm làm
16
thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn, nghĩa là các
đồng chí phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác- Lênin; học lập
trường, quan điểm, phương pháp của chủ nghĩa Mác- Lênin,
để áp dụng lập trường, quan điểm, phương pháp ấy mà giải
quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng
của chúng ta. Như thế chúng ta học lý luận là cốt để áp dụng
vào thực tế. Học lý luận là nhằm mục đích học để vận dụng
chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc vì tạo cho mình
phù hợp nguyện vọng giai cấp công nhân, nhân dân lao động nữa.
Do vậy, sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong LLCT
của Đảng ta là một đặc trưng quan trọng, không thể thiếu.
Nhiệm vụ của LLCT không phải chỉ dừng lại mô tả, ngắm nhìn,
giải thích những hiện tượng xã hội mà còn ở sức mạnh cải tạo xã hội
phục vụ nhân dân lao động. Tính khoa học của LLCT càng cao sẽ làm
cơ sở, tiền đề cho tính cách mạng trong LLCT càng vững chắc; đồng
thời tính cách mạng càng triệt để, sâu sắc thì làm cho tính khoa học
của LLCT càng phát triển. Lênin viết:
Sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những
người XHCN của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là
ở chỗ nó kết hợp tính khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh
cao nhất của khoa học xã hội ) với tinh thần cách mạng và kết
hợp không phải một cách ngẫu nhiên, không phải chỉ vì người
sáng lập ra học thuyết ấy đã kết hợp trong bản thân mình
những phẩm chất của nhà bác học và của nhà cách mạng,
mà là sự kết hợp trong chính bản thân lý luận ấy một sự kết
hợp nội tại và khắng khít. Thật thế, nhiệm vụ của lý luận, mục
đích của khoa học được nêu ra ở đây là giúp đỡ giai cấp,
những người bị áp bức trong cuộc đấu tranh kinh tế đang
thực sự diễn ra [22, tr. 421].
Để làm vai trò của người chiến sĩ tiên phong thì trước hết phải
có được một lý luận tiên phong hướng dẫn, để thực hiện vai trò lãnh
đạo của mình, Đảng phải thực sự tiêu biểu cho trí tuệ của dân tộc,
thời đại. LLCT phải xuất phát từ thực tiễn chính trị và đời sống của
nhân dân, đồng thời đưa ra những kiến giải dự báo khoa học về sự
18
phát triển cho các vấn đề mới nảy sinh và những kết luận mới nhằm
bổ sung phát triển chính bản thân LLCT. Tính đảng giữ vai trò định
hướng cho sự nghiên cứu LLCT đạt hiệu quả cao trong thực tiễn
chức xã hội nghề nghiệp… tổ chức. Do vậy, BCV không chỉ có trong
các tổ chức Đảng, Nhà nước, Đoàn thể mà còn trong các tổ chức
quần chúng tự nguyện khác.
Chức danh BCV được Đảng ta qui định trong nhiều văn bản và
Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương hướng dẫn thực hiện, trừ một số
BCV ở các cơ quan chức năng và một số cán bộ, đảng viên đã nghỉ
hưu được các cấp ủy Đảng lựa chọn làm BCV chuyên trách. Phần lớn
BCV hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm và hưởng chế độ theo qui
định của Bộ Tài chính.
Chỉ thị số 14 ngày 03/08/1977 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
nêu rõ “BCV, tuyên truyền viên là lực lượng tuyên truyền miệng có
nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn tư tưởng và hành động
cho cán bộ Đảng viên và nhân dân theo đường lối, quan điểm của
Đảng” [9]. Theo chỉ thị này, BCV là một chức danh để chỉ đội ngũ
những người tuyên truyền trực tiếp bằng lời nói đến các đối tượng là
cán bộ, đảng viên và nhân dân dưới sự lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp của
các cấp ủy Đảng, cơ quan Nhà nước. Đội ngũ BCV được tổ chức chặt
chẽ từ Trung ương đến cơ sở, các ngành, các tổ chức đoàn thể, lực
lượng vũ trang, được tổ chức theo hệ thống dọc, dưới sự lãnh đạo
của cấp ủy và sự quản lý của cơ quan Tư tưởng - Văn hóa, cơ quan
Tuyên huấn các cấp.
BCV của Trung ương: do Ban Bí thư ủy nhiệm cho Ban Tư
tưởng - Văn hóa Trung ương chọn một số cán bộ cao cấp, Ủy viên
Trung ương, lãnh đạo các bộ, ban, ngành, chuyên gia giỏi có phẩm
chất và năng lực tuyên truyền làm BCV.
Ở địa phương, BCV được lựa chọn theo những tiêu chuẩn nhất
định do cấp ủy xây dựng. BCV ở cấp nào do cấp ủy cấp đó trực tiếp ra
quyết định công nhận, Ban Tuyên giáo quản lý điều hành, số lượng
BCV phụ thuộc vào yêu cầu nhiệm vụ của từng cấp. Thông thường,
BCV ở cấp tỉnh có từ 35 – 50 người, cấp huyện có từ 15-30 người,
cung cấp thông tin, BCV giúp cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân
hiểu được nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước, địa phương, cơ
quan và đơn vị.
Hai là, BCV không chỉ dừng lại cung cấp thông tin cho đối tượng
mà quan trọng hơn phân tích, bình luận, làm rõ ý nghĩa nội dung chính
trị của các sự kiện, các nhiệm vụ. Trên cơ sở lý luận, thực tiễn khoa
21
học, xác đáng, có tính thuyết phục, BCV phân tích, bình luận, làm rõ
bản chất các sự kiện chính trị, từ đó chỉ ra các nguyên nhân, dự báo
chiều hướng, khả năng và triển vọng của tình hình, định hướng thông
tin, nhất là thông tin có tính chính trị cao; góp phần hình thành dư luận
xã hội tích cực, đúng đắn nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của cán
bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân.
Ba là, động viên cổ vũ mọi người, mọi tầng lớp nhân dân tích
cực tham gia vào các hoạt động xã hội, nâng cao chất lượng hiệu quả
sản xuất. Chức năng hiệu triệu, cổ vũ sẽ tăng lên nếu như lời nói của
BCV có sức truyền cảm mạnh mẽ, có khả năng làm xúc động lòng
người, tác động sâu sắc đến tình cảm của quần chúng nhân dân.
Bốn là, hoạt động BCV là hoạt động thông tin hai chiều, một mặt
thông tin tác động đến đối tượng, mặt khác nhận thông tin phản hồi từ
phía đối tượng. Qua đó BCV nắm tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu, cũng
như tâm trạng, thái độ nhận thức, tư tưởng của họ đối với chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để phản
ánh lên cấp trên. Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước kịp thời điều
chỉnh, bổ sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối của mình cho phù
hợp quy luật phát triển, với thực tiễn cách mạng, hợp lòng dân, trong
đó BCV đóng vai trò là kênh thông tin huyết mạch, là cầu nối giữa
Đảng với quần chúng nhân dân. BCV không chỉ thực hiện nhiệm vụ
bằng trí tuệ, năng lực, bản lĩnh chính trị, kinh nghiệm mà còn bằng cả
lòng nhiệt tình, tâm huyết, phong cách gần gũi gắn bó với quần chúng,
suy nghĩ… cũng như tâm lý: nhu cầu, tâm trạng, lợi ích. Vì vậy, sự đa
dạng về đối tượng đòi hỏi người BCV phải có trình độ tri thức về các
lĩnh vực chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa, con người, cũng như
phương pháp truyền đạt, sự hiểu biết đối tượng sâu sắc.
Hai là, công cụ chủ yếu của BCV là ngôn ngữ. Quá trình diễn
giảng, thuyết phục, sự cảm hóa mà BCV thực hiện với đối tượng đều
qua ngôn ngữ; bằng ngôn ngữ BCV thực hiện quá trình chuyển thông
tin đến đối tượng như mục đích đã đặt ra. Vì vậy, người BCV phải tích
lũy vốn từ, nắm vững quy luật của ngôn ngữ và đặc điểm văn phong
trình bày.
Ba là, tính chất hoạt động tuyên truyền miệng của BCV vừa là
một khoa học vừa là một nghệ thuật. Trong quá trình tuyên truyền:
23
Một mặt, dựa trên những luận cứ khoa học và thực tiễn để nhìn nhận,
phân tích sự việc, hiện tượng, từ đó thuyết phục cảm hóa đối tượng;
mặt khác, công tác tuyên truyền phải gắn với thực tiễn, trên cơ sở
tổng kết thực tiễn, tổng kết công tác tuyên truyền trong từng thời kỳ
cách mạng để giải đáp những vấn đề cuộc sống đặt ra. Muốn đạt hiệu
quả thì phương pháp và hình thức tuyên truyền phải phù hợp với từng
đối tượng và tình hình thực tiễn. Điều đó cho thấy, hoạt động BCV là
hoạt động nghệ thuật- nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, nghệ thuật giao
tiếp, nói chung nghệ thuật diễn thuyết. Hoạt động BCV còn có đặc
trưng sáng tạo - sáng tạo ra bài giảng của mình (với những nội dung
khác nhau chưa sẵn có, biên soạn đề cương nội dung chương trình
theo yêu cầu nhiệm vụ chính trị hoặc yêu cầu người tổ chức). Nhiều
khi những nội dung trong trình bày bài giảng là những vấn đề mới,
chưa diễn ra nhưng người BCV cần sáng tạo, cần phân tích, dự báo
những khả năng sắp xảy ra, đây là một yếu tố khách quan quy định
đặc trưng hoạt động BCV - thực hiện hai lần sáng tạo trong một hoạt
động.
cấp huyện mà còn tăng cường hoạt động ở cơ sở khi cấp ủy cơ sở
yêu cầu. BCV Đảng bộ cấp huyện phải không ngừng thay đổi nội dung
báo cáo và lựa chọn phương pháp thuyết trình phù hợp với từng đối
tượng. Có thể nói, đội ngũ BCV này phải rất năng động, sáng tạo, linh
hoạt và nhạy bén … Nhưng do đặc thù vậy, nên ở họ có sự hạn chế
tính chuyên môn và chuyên sâu khi báo cáo các chuyên đề, nhất là
những chuyên đề không thuộc lĩnh vực mình công tác.
Biểu hiện trình độ lý luận chính trị của người BCV:
Trong từ điển tiếng Việt, trình độ là “mức độ về sự hiểu biết về
kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào
đó; là “ trình độ khá cao trong một lĩnh vực nào đó”[48, tr. 1018]. Với
nghĩa như vậy, có thể hiểu, trình độ LLCT là sự hiểu biết sâu sắc,
nhận thức đúng về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và được thể
hiện qua hiệu quả hoạt động thực tiễn. Như vậy, trình độ LLCT của
người BCV được hiểu là mức độ hiểu biết, mức độ nhận thức, khả
năng vận dụng LLCT vào thực tiễn công tác tuyên truyền của họ.
Đối với hoạt động BCV, trình độ LLCT được biểu hiện:
25