MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xuất phát từ nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật về lịch sử:
tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời những tư tưởng tiên
tiến, lý luận cách mạng có vai trò rất to lớn đối với sự tồn tại và phát
triển xã hội, C.Mác chỉ ra: “lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất
một khi nó thâm nhập vào quần chúng” [33, tr. 25]. Lênin khẳng định:
“không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” [24,
tr. 30]. “chỉ có Đảng nào có được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì
mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [24, tr.32]. Để
làm tròn sứ mệnh của mình, Đảng cộng sản không chỉ nắm vững lý
luận tiên phong, mà còn phải trang bị cho quần chúng lý luận tiên
phong đó; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chỉ khi nào quần
chúng giác ngộ, tự giác chiến đấu với niềm tin khoa học vào sự thắng
lợi thì cách mạng mới thành công.
Với ý nghĩa đó trong mỗi giai đoạn cách mạng Đảng cộng sản
Việt Nam luôn coi trọng công tác tư tưởng, lý luận nói chung và công
tác tuyên truyền chính trị nói riêng. Công tác tuyên truyền là một trong
những lực lượng xung kích của Đảng góp phần cùng cả nước tạo nên
những thắng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất
nước, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH), thực hiện công nghiệp
hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) vì mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội
công bằng dân chủ và văn minh.
Đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, đã và đang xuất hiện nhiều
vấn đề phức tạp, to lớn và cấp bách cần được nhận thức đúng và giải
quyết kịp thời. Trên thế giới cũng đang diễn ra nhiều sự kiện có tính
“đảo lộn”, cực kì phức tạp, hàng ngày hàng giờ đang tác động vào tư
tưởng, tình cảm của hàng triệu đảng viên và quần chúng nhân dân;
cuộc đấu tranh chống lại “diễn biến hòa bình” của địch diễn ra vô cùng
gay gắt, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận và thông tin. Các thế
lực thù địch ra sức lợi dụng những khó khăn khủng hoảng của CNXH
- “Góp phần bàn thêm khái niệm chính trị”, của Hồ Tấn Sáng,
Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 5, 1995.
- “Vai trò của lý luận đối với quá trình đổi mới xã hội ở nước ta
hiện nay”, của Phạm Đình Đạt, Luận văn thạc sĩ triết học, 1993.
2
- “Nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ quản lý sản xuất
kinh doanh trong các doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam hiện nay”,
của Trần Thị Yến Ninh, Luận văn thạc sĩ triết học, 1998.
- “Nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý
cấp huyện ở tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn hiện nay”, của Nông Văn
Tiềm, Luận văn thạc sĩ triết học, 2001.
- “Nâng cao trình độ LLCT cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ
chốt cấp cơ sở ơ tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn hiện nay” của Nguyễn
Thị Hồng Lê, Luận văn thạc sĩ triết học, 2004.
Các tác giả trên đã đề cập ở những góc độ khác nhau về LLCT,
trình độ LLCT của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý nói chung hoặc
cán bộ quản lý sản xuất kinh doanh… Nhưng vấn đề nâng cao trình
độ LLCT cho đội ngũ BCV các cấp của Đảng, cụ thể là cấp huyện ở
ĐBSCL vẫn còn là mảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích thực trạng trình độ LLCT của đội ngũ BCV
Đảng bộ cấp huyện ở ĐBSCL (qua thực tế Long An), đề xuất một số
phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm từng bước nâng cao trình
độ LLCT cho đội ngũ này.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Chỉ rõ vai trò LLCT đối với hoạt động của người BCV.
- Phân tích thực trạng nâng cao trình độ LLCT của đội ngũ BCV
Đảng bộ cấp huyện ở ĐBSCL (qua thực tế Long An).
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm từng
Chương 1
LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA NGƯỜI BÁO CÁO VIÊN
1.1. BẢN CHẤT VÀ ĐẶC TRƯNG CỦA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
1.1.1 Bản chất của lý luận chính trị
Lịch sử xã hội loài người trước hết là lịch sử của thực tiễn cải
tạo tự nhiên, xã hội. Để làm được điều đó con người phải có tri thức.
Tri thức không phải là cái sẵn có trong đầu óc con người mà được
hình thành và bổ sung trong quá trình tác động cải tạo thế giới. Từ
những tri thức, kinh nghiệm thực tiễn, con người trừu tượng hóa, khái
quát hóa, để hình thành nên lý luận về một lĩnh vực hiện thực nhất
định của đời sống xã hội, định hướng cho thực tiễn.
Có thể chia tri thức đạt được thành: tri thức kinh nghiệm và tri
thức lý luận. Không nên đồng nhất kinh nghiệm với tri thức cảm tính,
hoặc đồng nhất lý luận với tri thức lý tính, vì trong kinh nghiệm ít nhiều
có tính khái quát hóa, có yếu tố lý tính, tri thức kinh nghiệm là cơ sở
để khái quát thành lý luận, lý luận là kết quả khái quát hóa kinh
nghiệm.
Tri thức kinh nghiệm là tri thức thu nhận được chủ yếu từ quan sát
trực tiếp đời sống hàng ngày, trong lao động sản xuất, chiến đấu và thực
nghiệm. Tri thức kinh nghiệm của con người bước đầu đã mang tính
trừu tượng hóa, khái quát hóa, song còn nhiều hạn chế. Nó mới đem lại
cho con người sự hiểu biết về các mặt riêng lẻ, bên ngoài của sự vật. Tri
thức kinh nghiệm còn rời rạc, chưa tạo thành chỉnh thể, phạm vi áp dụng
hẹp. Khi nhận xét về tri thức kinh nghiệm Ăngghen nói: “Sự quan sát
dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy
đủ tính tất yếu” [35, tr. 718].
Xét về bản chất, lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ
thực tiễn phản ánh những mối liên hệ tất nhiên, bản chất, mang tính
quy luật của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan; lý luận
đều thống nhất ở chỗ: Lý luận là sự khái quát những kinh nghiệm thực
tiễn, là sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên, xã hội được tích lũy
trong quá trình hoạt động lịch sử của con người; phản ánh mối liên hệ
bản chất, mang tính quy luật của các sự vật hiện tượng trong một lĩnh
vực nào đó của hiện thực khách quan và có vai trò hướng dẫn hoạt
6
động thực tiễn. Trong điều kiện hiện nay, lý luận ngày càng có vai trò
quan trọng đối với hoạt động của con người.
Trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị muốn giữ vững địa vị
thống trị thì phải có lý luận của mình, nói đến Đảng chính trị, đồng thời
phải nói đến LLCT của Đảng ấy.
Để hiểu LLCT, chúng ta cần làm rõ thêm khái niệm chính trị:
chính trị là một hiện tượng xã hội đặc biệt xuất hiện từ khi xã hội phân
chia thành giai cấp, nhà nước. Thuật ngữ chính trị xuất phát từ tiếng
Hy Lạp có nghĩa là công việc có liên quan đến nhà nước, nghệ thuật
cai trị nhà nước, là phương pháp nhất định để thực hiện các mục tiêu
của quốc gia.
Trong lịch sử nhân loại, chính trị đã từng được coi là lĩnh vực
hoạt động, là công cụ đặc quyền của nhóm người thống trị đối với
người bị trị, là đặc quyền của tầng lớp trên, thậm chí của một người
được coi là “thiên tử”. Tư tưởng dân chủ ra đời là một bước tiến của
lịch sử: chính trị trở thành công việc đông đảo của quần chúng nhân
dân, mọi người có quyền tham gia vào chính trị, vào công việc của
nhà nước… tuy nhiên, mức độ này phụ thuộc vào những điều kiện
kinh tế, văn hóa xã hội của mỗi công dân.
Nhà Triết học Hy lạp cổ đại – Platon cho rằng, chính trị là nghệ
thuật cai trị, cai trị bằng sức mạnh là độc tài còn cai trị bằng thuyết
phục mới đích thực là chính trị.
Nhà xã hội học Đức đầu thế kỷ XX – Max Weber quan niệm,
chính trị là khát vọng tham gia quyền lực hay ảnh hưởng đến sự phân
phụ vào những dự tính cá nhân này hay cá nhân khác, của đảng này
hay đảng khác” [25, tr.246]. Chính trị luôn tồn tại và gắn liền những
điều kiện lịch sử cụ thể, không phụ thuộc ý chí chủ quan của một ai,
hay giai cấp, chính Đảng nào. “Chính trị là sự tham gia vào những
công việc của nhà nước, là vạch hướng đi cho nhà nước, việc xác
định những hình thức nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước”
[28, tr.404]. Chính trị là cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, là thái độ của
giai cấp vô sản đang đấu tranh tự giải phóng mình chống giai cấp tư
sản toàn thế giới … chính trị của chúng ta lúc này là xây dựng nhà
nước về mặt kinh tế “. Lênin còn chỉ rõ:
8
Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp – là cái quyết định
vận mệnh của các nước Cộng hòa. Bộ máy là công cụ bổ trợ,
nó càng vững mạnh chừng nào thì càng tốt và càng có ích
hơn cho sự biến đổi. Nhưng nếu không có năng lực chấp
hành sứ mệnh đó, thì nó cũng chẳng còn có tác dụng gì nữa
[30, tr. 482-483].
Như vậy, vấn đề mà Lênin quan tâm là: “năng lực chấp hành sứ
mệnh” của giai cấp. Năng lực này không chỉ phụ thuộc vào ý chí,
nguyện vọng của giai cấp mà còn phụ thuộc trình độ dân trí, trình độ
văn hóa của quần chúng nhân dân: “một người không biết chữ là
người đứng ngoài chính trị; trước hết phải dạy a, b, c, d… cho họ đã.
Không thế thì không thể có chính trị; không thế thì chỉ có những tin
đồn đại, những chuyện nhảm nhí, những chuyện hoang đường,
những thiên kiến chứ không phải chính trị”. [31, tr. 87-88]
“Quần chúng có hàng triệu, và chính trị thì bắt đầu ở nơi nào
có hàng triệu người, không phải ở nơi có hàng nghìn người mà ở đâu
có hàng triệu người thì ở đó có một chính trị nghiêm túc” [29, tr. 20].
Như vậy theo Lênin, phạm trù chính trị được hiểu:
* Chính trị là lợi ích, là đấu tranh giai cấp.
Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta khẳng định, đổi mới phải nắm
vững bản chất cách mạng và khoa học chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng
Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ đã chỉ rõ:
Kiên trì chủ nghĩa Mác- Lênin là vấn đề có tính nguyên
tắc số một của Đảng ta. Trung thành với chủ nghĩa Mác-
Lênin có nghĩa là nắm vững bản chất cách mạng, khoa học
của chủ nghĩa Mác- Lênin, vận dụng một cách đúng đắn thích
hợp với điều kiện nước ta, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác-
Lênin một cách sáng tạo và cùng với chủ nghĩa Mác- Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho
hành động của Đảng [10, tr. 127].
Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 20 năm
đổi mới, Đảng ta khẳng định, từ đại hội VII một bước tiến mới trong tư
duy lý luận của Đảng ta là nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn vai trò,
10
vị trí của tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định chủ nghĩa Mác- Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam
cho hành động cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống
quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách
mạng Việt Nam, là kết quả vận dụng sáng tạo, phát triển sáng tạo của
chủ nghĩa Mác- Lênin vào thực tiễn cụ thể nước ta, kế thừa và phát
triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn
hóa nhân loại. Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X Đảng ta khẳng
định:
Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập
dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải từ bỏ mục tiêu CNXH
mà là làm cho CNXH được nhận thức đúng đắn hơn và xây
dựng có hiệu quả hơn. Đổi mới không phải là xa rời mà là
XHCN, xây dựng Đảng… trong điều kiện nước ta hiện nay. Bản chất
LLCT của Đảng ta hiện nay là lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh.
Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu sâu sắc toàn diện, có hệ thống
những di sản tư tưởng lý luận mác xít. Phải đổi mới tư duy để trở về
với chính luận điểm của các ông, kể cả những bổ sung phát triển mà
chính các ông đã phác họa trước những thay đổi của thực tiễn.
Sức sống và sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh vẫn còn nguyên giá trị định hướng cho công cuộc cách mạng
hiện nay, những giá trị ấy không chỉ ảnh hưởng trước mắt mà còn lâu
dài đối với sự phát triển của nước ta và các nước trên thế giới. Hình
thành tư duy mới đối với chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
là trở về cội nguồn sáng tạo với tư duy khoa học của Mác, Ăngghen,
Lênin, Hồ Chí Minh. Ngọn đuốc tinh thần sáng tạo không ngừng dẫn
dắt chúng ta bước vào thế kỷ XXI với một quyết tâm không gì lay
chuyển nổi xây dựng thành công CNXH ở nước ta.
1.1.2. Đặc trưng của lý luận chính trị
Một là, như tất cả mọi lý luận khác, LLCT cũng có tính trừu
tượng và khái quát cao.
LLCT là kết quả khái quát hoá những tri thức về chính trị xã hội,
trên cở hoạt động thực tiễn chính trị xã hội của quần chúng. Do đó, nó
12
có tính trừu tượng và khái quát cao. Nó giúp nhận thức đi sâu vào bản
chất và phát hiện ra những quy luật vận động, phát triển của xã hội.
Quá trình trừu tượng hoá, khái quát hóa không tách rời nhau mà liên
hệ, bổ sung, xâm nhập nhau. Mục đích của hoạt động lý luận đặc biệt
LLCT là đi vào bản chất của đời sống xã hội, quan hệ giai cấp, vạch ra
bản chất ấy thông qua quy luật lịch sử và hoạt động lý luận – thực tiễn
của con người. Với LLCT khoa học, các khái niệm, phạm trù, quy luật
chế tình trạng mò mẫm, tự phát. Vì vậy, Hồ Chí Minh nói: “Không có lý
luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [39, tr. 234].
Tuy nhiên, do tính trừu tượng, khái quát trong phản ánh hiện
thực nên đôi lúc LLCT có khả năng xa rời thực tiễn, trở nên ảo tưởng;
khả năng ấy càng lớn nếu LLCT đó bị chi phối bởi những tư tưởng
không khoa học hoặc phản động. Vì vậy, LLCT là quan trọng, nhưng
không nên tuyệt đối hóa nó, tách LLCT khỏi thực tiễn, xem thường
thực tiễn, mà phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn trong nhận thức khoa học và hành động cách mạng. “Thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ
nghĩa Mác- Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành
thực tiễn mù quáng. Lý luận không có thực tiễn là lý luận suông” [42,
tr.496].
Chính chủ nghĩa Mác- Lênin là hiện thân tiêu biểu cho sự gắn
bó mật thiết giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình hình thành và
phát triển, là sự khái quát thực tiễn cách mạng và lịch sử xã hội, là sự
đúc kết những tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận trên các lĩnh vực
khác nhau. Sức mạnh của nó là ở chỗ nó gắn bó hữu cơ với thực tiễn
xã hội, được kiểm nghiệm, bổ sung, phát triển trong thực tiễn chính trị
– xã hội.
Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng một
cách sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể
Việt Nam, lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành nhiều thắng lợi to lớn.
Vì vậy, sinh thời Hồ Chủ tịch luôn coi trọng việc bồi dưỡng, giáo dục lý
luận cho cán bộ Đảng viên, nhất là bồi dưỡng giáo dục LLCT – yêu
cầu cơ bản không thể thiếu trong công tác xây dựng Đảng.
Việc học tập của các đồng chí không phải nhằm biến
các đồng chí thành những người lý luận suông, mà nhằm làm
14
thế nào cho công tác của các đồng chí tốt hơn, nghĩa là các
tính khoa học.
15
Tính đảng, tính khoa học của LLCT của Đảng ta thể hiện lợi
ích của giai cấp công nhân, toàn thể nhân dân lao động; là sự phản
ánh đúng quy luật khách quan của tiến trình cách mạng Việt Nam.
Chủ nghĩa Mác- Lênin không chỉ xuất phát, phản ánh khách quan
nhu cầu lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động mà còn
phù hợp nguyện vọng giai cấp công nhân, nhân dân lao động nữa.
Do vậy, sự thống nhất giữa tính đảng và tính khoa học trong LLCT
của Đảng ta là một đặc trưng quan trọng, không thể thiếu.
Nhiệm vụ của LLCT không phải chỉ dừng lại mô tả, ngắm nhìn,
giải thích những hiện tượng xã hội mà còn ở sức mạnh cải tạo xã hội
phục vụ nhân dân lao động. Tính khoa học của LLCT càng cao sẽ làm
cơ sở, tiền đề cho tính cách mạng trong LLCT càng vững chắc; đồng
thời tính cách mạng càng triệt để, sâu sắc thì làm cho tính khoa học
của LLCT càng phát triển. Lênin viết:
Sức hấp dẫn không gì cưỡng nổi đã lôi cuốn những
người XHCN của tất cả các nước đi theo lý luận đó, chính là
ở chỗ nó kết hợp tính khoa học chặt chẽ và cao độ (đó là đỉnh
cao nhất của khoa học xã hội ) với tinh thần cách mạng và kết
hợp không phải một cách ngẫu nhiên, không phải chỉ vì người
sáng lập ra học thuyết ấy đã kết hợp trong bản thân mình
những phẩm chất của nhà bác học và của nhà cách mạng,
mà là sự kết hợp trong chính bản thân lý luận ấy một sự kết
hợp nội tại và khắng khít. Thật thế, nhiệm vụ của lý luận, mục
đích của khoa học được nêu ra ở đây là giúp đỡ giai cấp,
những người bị áp bức trong cuộc đấu tranh kinh tế đang
thực sự diễn ra [22, tr. 421].
Để làm vai trò của người chiến sĩ tiên phong thì trước hết phải
có được một lý luận tiên phong hướng dẫn, để thực hiện vai trò lãnh
với rất nhiều nghĩa khác nhau, qua các giai đoạn và trong từng lĩnh
vực cụ thể.
Theo từ điển tiếng Việt, BCV là người trình bày báo cáo trước
một hội nghị đông người [48, tr. 54] .Theo cách hiểu này, BCV chỉ tất
cả những người trình bày báo cáo trước hội nghị đông người do cơ
17
quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức kinh tế và tổ
chức xã hội nghề nghiệp… tổ chức. Do vậy, BCV không chỉ có trong
các tổ chức Đảng, Nhà nước, Đoàn thể mà còn trong các tổ chức
quần chúng tự nguyện khác.
Chức danh BCV được Đảng ta qui định trong nhiều văn bản và
Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương hướng dẫn thực hiện, trừ một số
BCV ở các cơ quan chức năng và một số cán bộ, đảng viên đã nghỉ
hưu được các cấp ủy Đảng lựa chọn làm BCV chuyên trách. Phần lớn
BCV hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm và hưởng chế độ theo qui
định của Bộ Tài chính.
Chỉ thị số 14 ngày 03/08/1977 của Ban Bí thư Trung ương Đảng
nêu rõ “BCV, tuyên truyền viên là lực lượng tuyên truyền miệng có
nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, hướng dẫn tư tưởng và hành động
cho cán bộ Đảng viên và nhân dân theo đường lối, quan điểm của
Đảng” [9]. Theo chỉ thị này, BCV là một chức danh để chỉ đội ngũ
những người tuyên truyền trực tiếp bằng lời nói đến các đối tượng là
cán bộ, đảng viên và nhân dân dưới sự lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp của
các cấp ủy Đảng, cơ quan Nhà nước. Đội ngũ BCV được tổ chức chặt
chẽ từ Trung ương đến cơ sở, các ngành, các tổ chức đoàn thể, lực
lượng vũ trang, được tổ chức theo hệ thống dọc, dưới sự lãnh đạo
của cấp ủy và sự quản lý của cơ quan Tư tưởng - Văn hóa, cơ quan
Tuyên huấn các cấp.
BCV của Trung ương: do Ban Bí thư ủy nhiệm cho Ban Tư
tưởng - Văn hóa Trung ương chọn một số cán bộ cao cấp, Ủy viên
quả.
Chức năng chủ yếu của BCV:
Một là, cung cấp thông tin, đặc biệt là những thông tin mới có
giá trị, những thông tin có tính nội bộ về tình hình trong nước và quốc
tế; phổ biến, giải thích các quan điểm, đường lối, chủ trương, chính
sách lớn, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước trên các lĩnh vực
chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại. Thông qua
cung cấp thông tin, BCV giúp cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân
hiểu được nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước, địa phương, cơ
quan và đơn vị.
Hai là, BCV không chỉ dừng lại cung cấp thông tin cho đối tượng
mà quan trọng hơn phân tích, bình luận, làm rõ ý nghĩa nội dung chính
trị của các sự kiện, các nhiệm vụ. Trên cơ sở lý luận, thực tiễn khoa
19
học, xác đáng, có tính thuyết phục, BCV phân tích, bình luận, làm rõ
bản chất các sự kiện chính trị, từ đó chỉ ra các nguyên nhân, dự báo
chiều hướng, khả năng và triển vọng của tình hình, định hướng thông
tin, nhất là thông tin có tính chính trị cao; góp phần hình thành dư luận
xã hội tích cực, đúng đắn nâng cao trình độ giác ngộ chính trị của cán
bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân.
Ba là, động viên cổ vũ mọi người, mọi tầng lớp nhân dân tích
cực tham gia vào các hoạt động xã hội, nâng cao chất lượng hiệu quả
sản xuất. Chức năng hiệu triệu, cổ vũ sẽ tăng lên nếu như lời nói của
BCV có sức truyền cảm mạnh mẽ, có khả năng làm xúc động lòng
người, tác động sâu sắc đến tình cảm của quần chúng nhân dân.
Bốn là, hoạt động BCV là hoạt động thông tin hai chiều, một mặt
thông tin tác động đến đối tượng, mặt khác nhận thông tin phản hồi từ
phía đối tượng. Qua đó BCV nắm tâm tư, nguyện vọng, nhu cầu, cũng
như tâm trạng, thái độ nhận thức, tư tưởng của họ đối với chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để phản
nhưng giảng viên là người được đào tạo chuyên ngành về nội dung và
phương pháp sư phạm; nội dung chương trình đã được đào tạo theo
quy chuẩn như: giáo khoa, giáo trình; giảng dạy nhiều lần về nội dung
chương trình cho đối tượng nhất định, tương đối đồng đều về trình độ.
Đối tượng thuyết trình của BCV là những cộng đồng người vừa không
ổn định vừa không đồng đều về đặc điểm xã hội: giai cấp, nghề
nghiệp, tuổi, giới tính, khả năng nhận thức, trình độ, kinh nghiệm, cách
suy nghĩ… cũng như tâm lý: nhu cầu, tâm trạng, lợi ích. Vì vậy, sự đa
dạng về đối tượng đòi hỏi người BCV phải có trình độ tri thức về các
lĩnh vực chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa, con người, cũng như
phương pháp truyền đạt, sự hiểu biết đối tượng sâu sắc.
Hai là, công cụ chủ yếu của BCV là ngôn ngữ. Quá trình diễn
giảng, thuyết phục, sự cảm hóa mà BCV thực hiện với đối tượng đều
qua ngôn ngữ; bằng ngôn ngữ BCV thực hiện quá trình chuyển thông
tin đến đối tượng như mục đích đã đặt ra. Vì vậy, người BCV phải tích
lũy vốn từ, nắm vững quy luật của ngôn ngữ và đặc điểm văn phong
trình bày.
Ba là, tính chất hoạt động tuyên truyền miệng của BCV vừa là
một khoa học vừa là một nghệ thuật. Trong quá trình tuyên truyền: Một
21
mặt, dựa trên những luận cứ khoa học và thực tiễn để nhìn nhận,
phân tích sự việc, hiện tượng, từ đó thuyết phục cảm hóa đối tượng;
mặt khác, công tác tuyên truyền phải gắn với thực tiễn, trên cơ sở
tổng kết thực tiễn, tổng kết công tác tuyên truyền trong từng thời kỳ
cách mạng để giải đáp những vấn đề cuộc sống đặt ra. Muốn đạt hiệu
quả thì phương pháp và hình thức tuyên truyền phải phù hợp với từng
đối tượng và tình hình thực tiễn. Điều đó cho thấy, hoạt động BCV là
hoạt động nghệ thuật- nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, nghệ thuật giao
tiếp, nói chung nghệ thuật diễn thuyết. Hoạt động BCV còn có đặc
trưng sáng tạo - sáng tạo ra bài giảng của mình (với những nội dung
trình độ tương đối thấp, đa phần nông dân, địa bàn nông thôn nên lựa
chọn BCV cấp ủy ở cở thường là những người cao tuổi, có uy tín, kinh
nghiệm; đa phần những cán bộ đã về hưu tham gia BCV, không nhất
thiết là đảng viên trong cấp ủy. Đối với BCV Đảng bộ cấp huyện hầu
hết là những người đang tham gia cấp ủy, tham gia báo cáo chuyên
đề trên tất cả các lĩnh vực do cấp ủy phân công. Khác với BCV Tỉnh
uỷ, người BCV Đảng bộ cấp huyện không chỉ hoạt động trên địa bàn
cấp huyện mà còn tăng cường hoạt động ở cơ sở khi cấp ủy cơ sở
yêu cầu. BCV Đảng bộ cấp huyện phải không ngừng thay đổi nội dung
báo cáo và lựa chọn phương pháp thuyết trình phù hợp với từng đối
tượng. Có thể nói, đội ngũ BCV này phải rất năng động, sáng tạo, linh
hoạt và nhạy bén … Nhưng do đặc thù vậy, nên ở họ có sự hạn chế
tính chuyên môn và chuyên sâu khi báo cáo các chuyên đề, nhất là
những chuyên đề không thuộc lĩnh vực mình công tác.
Biểu hiện trình độ lý luận chính trị của người BCV:
Trong từ điển tiếng Việt, trình độ là “mức độ về sự hiểu biết về
kỹ năng được xác định hoặc đánh giá theo tiêu chuẩn nhất định nào
đó; là “ trình độ khá cao trong một lĩnh vực nào đó”[48, tr. 1018]. Với
nghĩa như vậy, có thể hiểu, trình độ LLCT là sự hiểu biết sâu sắc,
nhận thức đúng về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và được thể
hiện qua hiệu quả hoạt động thực tiễn. Như vậy, trình độ LLCT của
người BCV được hiểu là mức độ hiểu biết, mức độ nhận thức, khả
năng vận dụng LLCT vào thực tiễn công tác tuyên truyền của họ.
Đối với hoạt động BCV, trình độ LLCT được biểu hiện:
23
Một là, có thế giới quan khoa học Mác- Lênin, phương pháp
biện chứng duy vật, được trang bị một cách cơ bản về lý luận chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về xây dựng Đảng,
Nhà nước và nghiệp vụ đoàn thể.
chúng là nhằm xây dựng con người mới, nền văn hóa mới, đấu tranh
chống các trào lưu tư tưởng lạc hậu, các quan điểm chống đối sai trái
và phản động, góp phần hạn chế, đẩy lùi tiêu cực trong xã hội. Vì vậy,
để hoàn thành nhiệm vụ chính trị của mình, đòi hỏi người BCV phải có
trình độ LLCT nhất định.
Có trình độ LLCT thì BCV mới có thể nhận thức vấn đề một
cách có hệ thống, hiểu rõ bản chất khoa học và cách mạng của chủ
nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó hình thành
năng lực định hướng đúng đắn, thế giới quan khoa học, nhân sinh
quan cách mạng, phương pháp luận đúng đắn, có nhãn quan chính trị
rộng để nhận thức các vấn đề một cách toàn diện; có ý thức tự giác và
tích cực trong quá trình tổ chức thực hiện các nhiệm vụ do Đảng đề
ra. Thực tế cho thấy, nếu BCV không có trình độ LLCT, thì không
những không tiếp thu được chuẩn xác những tinh thần cơ bản của lý
luận khi truyền thụ, mà trong quá trình tuyên truyền sẽ chỉ đơn thuần
đọc lại tài liệu sẵn có, thậm chí còn làm mất đi tính hệ thống, không
làm rõ được bản chất, trọng tâm của vấn đề trình bày. Từ đó, việc triển
khai chủ trương, đường lối các vấn đề kinh tế - xã hội của địa phương
gặp không ít những khó khăn, thậm chí còn phản tác dụng khi quần
chúng nhân dân tiếp nhận làm ảnh hưởng đến việc chấp hành và thực
thi nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Tuyên truyền miệng – không phải là thuộc lòng câu chữ mà là
hiểu thực chất nội dung của nó; nắm bắt được bản chất linh hồn sống
của chủ nghĩa Mác - Lênin, biến tri thức cần tuyên truyền của Đảng –
chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối
của Đảng, các vấn đề về thời sự chính trị khác… thành tri thức của
chính mình, trên cơ sở đó tuyên truyền cho quần chúng. Một tất yếu
nếu không có trình độ LLCT thì sẽ không hiểu được bản chất của
LLCT, chứ chưa nói gì đến một trình độ lý luận cao, để hiểu nền tảng
tư tưởng của Đảng cơ sở lý luận trực tiếp trong việc xây dựng các chủ