Các yêu cầu pháp lý cho việc
phát triển thương mại điện tử
1. Sự cần thiết phải xây dựng khung pháp lý cho việc triển khai Thương mại điện
tử.
Sự phát triển của Thương mại điện tử trên thế giới đã làm thay đổi cách thức kinh doanh, giao
dịch truyền thống và đem lại những lợi ích to lớn cho xã hội. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng phải
thừa nhận rằng những rủi ro gặp phải trong quá trình giao dịch, kinh doanh trên mạng là hiện
thực và việc này đòi hỏi phải có các giải pháp không chỉ về mặt kỹ thuật mà còn cần phải hình
thành được một cơ sở pháp lý đầy đủ. Những kinh nghiệm thực tế trên thế giới cho thấy để thúc
đẩy thương mại điện tử phát triển thì vai trò của Nhà nước phải được thể hiện rõ nét trên hai lĩnh
vực: cung ứng dịch vụ điện tử và xây dựng một hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất và cụ thể
để điều chỉnh các quan hệ thương mại điện tử. Nếu như chúng ta thiếu đi một cơ sở pháp lý vững
chắc cho thương mại điện tử hoạt động thì các doanh nghiệp và người tiêu dùng sẽ rất lúng túng
trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan và về phía các cơ quan Nhà nước cũng sẽ rất khó có
cơ sở để kiểm soát được các hoạt động kinh doanh thương mại điện tử.
Hơn thế nữa thương mại điện tử là một lĩnh vực mới mẻ cho nên tạo được niềm tin cho các chủ
thể tham gia vào các quan hệ thương mại điện tử là một việc làm có tính cấp thiết mà một trong
những hạt nhân là phải tạo ra được một sân chơi chung với những quy tắc được thống nhất một
cách chặt chẽ.
Trong tiến trình hội nhập với thế giới với tư cách là thành viên của APEC, Việt nam đang tích cực
tham gia và ủng hộ "Chương trình hành động chung" mà khối này đã đưa ra về thực hiện
"Thương mại phi giấy tờ" vào năm 2005 đối với các nước phát triển và năm 2010 đối với các nước
đang phát triển. Việt nam cũng tích cực tham gia vào lộ trình tự do hoá của Hiệp định khung e-
ASEAN và thực hiện theo "Các nguyên tắc chỉ đạo Thương mại điện tử" mà các nước trong khối đã
thông qua. Chính vì thế những đòi hỏi của pháp lý quốc tế chúng ta phải đáp ứng để có thể hoà
nhập và theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới.
2. Các yêu cầu pháp lý cho việc phát triển thương mại điện tử
2.1. Giá trị pháp lý của các hình thức thông tin điện tử
2.2. Giá trị pháp lý của chữ ký điện tử
Từ trước đến nay chữ ký là phương thức phổ biến để ghi nhận tính xác thực của thông tin được
chứa đựng trong văn bản. Có một số đặc trưng cơ bản của chữ ký là:
- Chữ ký nhằm xác định tác giả của văn bản
- Chữ ký thể hiện sự chấp nhận của tác giả với nội dung thông tin chứa đựng trong văn bản.
Trong giao dịch thương mại thông qua các phương tiện điện tử, các yêu cầu về đặc trưng của chữ
ký tay có thể đáp ứng bằng hình thức chữ ký điện tử. Chữ ký điện tử trở thành một thành tố quan
trọng trong văn bản điện tử. Một trong những vấn đề cấp thiết đặt ra là về mặt công nghệ và
pháp lý thì chữ ký điện tử phải đáp ứng được sự an toàn và thể hiện ý chí rõ ràng của các bên về
thông tin chứa đựng trong văn bản điện tử. Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều công trình
nghiên cứu và đã được ứng dụng rộng rãi nhằm nhận dạng và chứng thực cá nhân. Những công
nghệ này bao gồm công nghệ số và mật lệnh nhận dạng, dấu hiệu hoặc thẻ thông minh, sinh trắc
học, dữ liệu điện tử đơn giản, chữ ký kỹ thuật số và các kết hợp của những công nghệ này. Luật
pháp điều chỉnh lĩnh vực này sẽ tập trung vào việc đặt ra các yêu cầu về nhận dạng chữ ký điện
tử cho phép các bên không liên quan hoặc có ít thông tin về nhau có thể xác định được chính xác
chữ ký điện tử của các bên đối tác. Và trong trường hợp này để xác định được độ tin cậy của chữ
ký điện tử người ta trù liệu hình thành một cơ quan trung gian nhằm chứng thực tính xác thực và
đảm bảo độ tin cậy của chữ ký điện tử. Cơ quan này hình thành nhằm cung cấp một dịch vụ
mang nhiều ý nghĩa về mặt pháp lý hơn là về mặt công nghệ.
Ðối với Việt nam vấn đề chữ ký điện tử vẫn còn là một vấn đề mà chúng ta mới có những bước đi
đầu tiên. Tháng 3/2002 Chính phủ đã có quyết định số 44/2002/QÐ-TTg về chấp nhận chữ ký
điện tử trong thanh toán liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt nam đề nghị. Có thể coi đây
là văn bản pháp lý cao nhất quy định về chữ ký điện tử hiện đang được áp dụng tại Việt nam.
Chúng ta vẫn còn nhiều việc phải làm để hoàn thiện và nhân rộng để chữ ký điện tử trở thành
phổ biến trong các giao dịch thương mại điện tử.
2.3. Vấn đề bản gốc
tới việc phổ biến thông tin.
Web không được tổ chức một cách chính thức, có nghĩa là không một sự điều khiển trung tâm
nào hay cá nhân có thẩm quyền nào làm cho các thông tin trở nên có giá trị trên Web, hoặc làm
thế nào để nó xuất hiện . Tuy nhiên, mặc dù không một nơi nào đồng ý đăng ký các site, thông
tin trên Web vẫn có thể lấy ra bằng cách tìm kiếm nó và nó được lấy ra bằng cách được cung cấp
.
Về mặt nhu cầu mà nói, người ta tìm kiếm thông tin để làm phương tiện nghiên cứu, tìm chỉ dẫn,
quảng cáo, tiến cử cá nhân, các cổng chủ đề đặc trưng và đôi lúc là những e-mail tự nguyện để
tìm những site thích hợp.
Về mặt cung, để cung cấp những thông tin có giá trị cho mọi người bạn phải:
·
Ðảm bảo rằng những trang Web của mình được đăng ký với những phương tiện nghiên cứu
chỉ số như Alta Vista, Google và HotBot, và với những trang Web như Yahoo
·
Quảng cáo trên những tạp chí in ấn hoặc tạp chí chuyên môn trực tuyến.
·
Ðẩy mạnh việc đòi giá thấp hoặc miễn phí đối với những nhóm thông tin, hoặc bằng cách sử
dụng e-mail và những trang tin tức có lựa chọn và đáng tin cậy, hoặc bằng cách nhờ khách
hàng trên mạng giới thiệu bạn với bạn bè của họ (và cung cấp một số ưu đãi nhỏ cho những
giới thiệu này).
2. Các địa chỉ mà bạn có thể tìm những thông tin về các tiêu chuẩn kỹ thuật, các bản yêu cầu về kiểm dịch thực vật, các yêu
cầu về môi trường và bảo vệ người tiêu dùng đối với sản phẩm của bạn.Nếu bạn đang có kế hoạch bán sản phẩm cho nước ngoài, điều cần thiết là những sản phẩm đó
phải phù hợp với những tiêu chuẩn an toàn và sức khoẻ của quốc gia đó như câu hỏi ở đề mục đã
OrganisationWPO), địa chỉ: Packing Organisation -WPO),địa chỉ: kinfo-
world.org/wpo/index.html, cung cấp những thông tin về các chỉ tiêu và tiêu chuẩn đóng gói.
·
Mạng dịch vụ những tiêu chuẩn thế giới (World Standards Service Network), địa chỉ;
N/index.html, cung cấp những mạng liên lạc, những thông tin của
tổ chức tiêu chuẩn thế giới (ISO), Uỷ ban kỹ thuật điện thế giới (IEC), Hiệp hội truyền hình
thế giới (ITU), WSSN đồng thời cũng cung cấp các mạng liên lạc đến hầu hết các viện tiêu
chuẩn quốc gia.
Cơ sở dữ liệu trực tuyến chính như DIALOG () đã thiết lập những trang
web để xúc tiến các dịch vụ của họ và thiết lập các phần mềm thông tin truy cập dễ dàng hơn mà
không cần đến những sự kết nối của modem đặc biệt.
3. Các nguồn thông tin nghiên cứu thị trường điện tử trên Internet.ITC () vừa mới biên soạn một thư mục của các cổng thương mại điện tử,
chúng ta cũng có thể tìm thấy nó ở mục. Những bản tóm tắt đặc biệt (Special Compendiums) qua
các thông số dẫn đến các nguồn thông tin thương mại trên Internet .
Các cổng đó được liệt kê ra làm 3 loại:
·
Phục vụ cộng đồng (Service Communities), bao gồm các cổng như EI Engineering Village, có
thể dùng địa chỉ: , nó cung cấp cho chúng ta sự hỗ trợ và hướng dẫn tìm
kiếm trực tuyến, thông tin liên hệ về các chuyên gia kỹ sư, thông tin kỹ thuật và kinh doanh,
và các công trình nghiên cứu công nghiệp mới nhất.
·
Các cổng sản phẩm (Product Portals): bao gồm site của người Châu Á và cộng đồng Pacific
Coconut, địa chỉ: nó công bố những trang tin tức và các
4. Những nguồn thông tin mà bạn có thể tìm kiếm về những đối thủ cạnh tranhNhững nguồn sơ cấp:
Ðiều quan trọng nhất của những nguồn thông tin sơ cấp về những gì mà đối thủ cạnh tranh của
bạn đang thực hiện là những biên bản thương mại thuộc lĩnh vực bạn đang kinh doanh. Các biên
bản này cung cấp cập nhật thông tin về tình trạng thị trường (nội địa và/hoặc quốc tế) cho sản
phẩm và dịch vụ của bạn, cũng như tin tức, phân tích, mô tả sơ lược công ty.
Một số ví dụ về những biên bản thương mại công nghiệp đó là:
·
Metal Bulletin: quan hệ với công nghiệp kim khí, xuất bản 2 lần trong tuần, có trang web địa
chỉ là:
·
The Grocer: kiểm soát nền công nghiệp lương thực và đồ uống của United Kingdom, xuất
bản 2 tuần một lần. có địa chỉ website là : .
Tổ chức phát triển thương mại của bạn có thể cũng trở thành nguồn thông tin hữu dụng đặc biệt
là khi nó công bố các kinh nghiệm chuyên môn. Nó cũng có thể là nơi cất trữ các bản báo cáo
quan trọng được phổ biến hàng năm của các công ty tư nhân, và đó chính là nguồn thông tin
quan trọng về những gì một công ty đang thực hiện.
Những nguồn thứ cấp:
Các cơ sở dữ liệu được đề cập có thể thật sự có giá trị khi nó liệt kê các nguồn thông tin sơ cấp
đã được phân tích và chỉ dẫn, do vậy có thể dễ dàng hơn nhiều để tìm những thông tin đặc thù
thông qua sử dụng chìa khoá tìm kiếm.
Một số thí dụ về những cơ sở dữ liệu trực tuyến được đưa ra dưới đây được cung cấp bởi
DataStarWeb của công ty DIALOG, Communications Buiding, quảng trường Leicester 48, WC211
được bằng cách mua các trang in (65$) hoặc đĩa CD-ROM(17$). Người quản lý tài liệu, PO Box
371954, Pittsburgh, PA 15250-7954, USA. Ðiện thoại :+1 202 512 1800, Fax:+1 202 512
2250, E-mail: Cung cấp những thông tin về chính trị, địa lý và cơ sở hạ
tầng, cũng như những chỉ số kinh tế cho các quốc gia và cá nhân.
·
Country Commercial Guides, xuất bản hàng năm. Văn phòng chính phủ US, miễn phí tại địa
chỉ : US, miễn phí tại địa chỉ :
Quản lý bằng tài liệu, PO Box 371954, Pittsburgh, PA 15250-7954, USA. Ðiện thoại:+1 202
512 1800,Fax: +1 202 512 2250, E-mail: Những hướng dẫn này cung cấp
“cái nhìn toàn diện về các nước”, các môi trường thương mại, nền kinh tế thực dụng, những
phân tích chính trị và thị trường.
·
Economist Intelligence Unites Country Reports, xuất bản theo quý, 450$ một năm, mỗi năm
phát hành 04 lần. Phổ biến ở Châu Âu , vùng Trung Ðông và Châu phi, thông qua Charlie
Segal. The economist Intelligence Unit, 15 đường Regent, Luân Ðôn SW1Y4LR, UK, điện
thoại:+442078301007, Fax:+4420 7380 1023, E-mail: Phục vụ ở Châu Á và
Úc thông qua Amy Ha, Economist Intelligence Unit, trung tâm tài chính Dah Sing,108 đường
Gloucester, Wanchai, Hồng Kông, điện thoại :+852 2802 7288, Fax:+852 2802 7638, E-mail:
, ở Châu Mỹ thông qua Albert Capozelli, Economist Intelligence Unit, 111 W
đường số 57, NewYork, NY 10019, USA, điện thoại: +1 212 554 0600, Fax: +1 212 586 0248,
E-mail: Cung cấp các thông tin về sự phát triển kinh doanh, các hàng rào
kinh tế và chính trị của các quốc gia .
·
Exporters’ Encyclopaedia,xuất bản thường xuyên.Dun và Bradstreet, đường One Diamon Hill,
Muray hill, NJ 07974 1218, USA, điện thoại:+1 908 665 5000, Fax: +1 908 665 5000.Thuê bao
và bán hàng: điện thoại: 1 800 526 065, E-mail: Những yêu cầu
được cập nhật: điện thoại:+1 610 882 7000. Ðường dây nóng giải đáp những câu hỏi về xuất
/>AustraliaAustriaBalgium
BrazilCanadaEuropean Union
ChinaCzech Republic
FinlandFranceGermany
SwedenTurkeyUnited KingdomUnited State
ZimbabweVarious countries
6. Những nơi có thể tiếp cận thị trường phục vụ lĩnh vực hoạt động của bạn
Chỉ số dẫn đến nguồn thông tin trên mạng của ITC, lấy từ địa chỉ: ,
nhóm lại các nguồn thông tin để nghiên cứu từng lĩnh vực.
·
Mục Siêu thị thông tin của Index có một tiểu khu với những siêu liên kết với các nhà xuất bản,
bao gồm siêu thị học tập, ra đời bởi các tổ chức quốc gia như các phòng ban thương mại.
·
Tiểu khu của Special Compendiums (Những bản tóm tắt đặc biệt) thuộc các tổ chức xúc tiến
thương mại có những siêu liên kết với các cơ quan xúc tiến nhập khẩu (IPOs) trên cơ sở các
nước phát triển có chế độ thuế có lợi cho thương mại, nhập khẩu, các nước đang phát triển.
Nhiều cơ quan xúc tiến thương mại tiến hành và công bố nghiên cứu trị trường mang tính lĩnh
vực. Một ví dụ điển hình là trung tâm của Netherland khuyến khích nhập khẩu từ những nước
BarnesandNoble.com, 1-800-FLOWERS, Eddie Bauer, Tower Records và nhiều công ty thành công
khác trong lĩnh vực thương mại điện tử. Phần mềm này có mức giá 4,609 USD cho một máy chủ
với bản quyền truy nhập cho 25 người dùng hoặc 5,599 USD cho một máy chủ và bản quyền truy
nhập cho 50 người.
"Kinh doanh trực tuyến không đơn thuần chỉ là việc nhận các giao dịch trên WEB", Gytis
Barzdukas, giám đốc sản phẩm của bộ phận tiếp thị Internet tại Microsoft giải thích về chiến
lược thương mại điện tử của Microsoft, "cần phải tự động hoá toàn bộ qúa trình kinh doanh trong
thực tế từ bộ phận lãnh đạo, nghiên cứu thị trường và quảng cáo cho đến các đối tác kinh
doanh".
Microsoft WEB site Server 3.0 Commerce Edition bao gồm ba phần chính sau:
1. Tiến hành-Engage: Thành phần này giúp cho các doanh nghiệp tạo dựng các WEB site
thương mại điện tử, tiến hành các công việc tiếp thị và quảng cáo trên WEB site cũng như tạo các
trang WEB động phù hợp với sở thích của mỗi cá nhân khi truy nhập vào WEB site này. Các đặc
tính của phần này bao gồm:
§
Ad Server, công cụ thực hiện các quảng cáo trực tuyến.
§
Intelligent CrossSell, tự động thực hiện các chương trình khuyến mại riêng biệt hoặc
đan chéo.
§
Buy Now, công cụ tiếp thị trực tiếp cho phép các công ty trình bày thông tin sản
phẩm và các mẫu đơn đặt hàng trên WEB cũng như thu thập các thông tín của khách hàng
trong các pano quảng cáo hoặc dưới các khuôn dạng trực tuyến khác.
§
WEB site Server Personalization and Membership, công cụ cho phép tự động tạo ra
các kịch bản của Active Server Page (một dạng ngôn ngữ kịch bản lập trình của Microssoft sử
§
Commerce Server Software Development Kit (SDK), công cụ để xây dựng các thành
phần của một quá trình xử lý đơn đặt hàng.
§
Microsoft Wallet Software Development Kit (SDK), công cụ cho các nhà phát triển
thứ ba mở rộng hệ thống thanh toán của Microsoft với các kiểu thanh toán của họ.
§
Migration and Comptibility from Commerce Server 2.0, khả năng nâng cấp và tương
thích ngược với các ứng dụng từ phiên bản 2.0 trước đó.
2. Giao dịch-Transact: Cho phép người quản lý hệ thống kiểm soát các giao dịch tài chính trực
tuyến với các khả năng bảo mật, tiếp nhận các đơn đặt hàng nhiều mức, quản lý và định hướng
các giao dịch. Các đặc tính của thành phần này bao gồm:
§
Corporate Purchasing Support, gồm các tính năng kiểm tra quyền truy nhập hệ
thống của nhân viên, các lưu đồ và đánh dấu phê chuẩn một quá trình mua hàng của công ty,
sơ đồ lưu trữ thông tin về các sản phẩm cần mua, hỗ trợ các đơn mua hàng có nhiều khuôn
dạng đầu ra cần xử lý khác nhau.
§
Commerce Interchange Pipeline, một hệ thống cho phép trao đổi thông tin với các hệ
thống thông tin kinh doanh có cấu trúc sử dụng Internet hoặc các hệ thống EDI sẵn có.
§
Order Processing Pipeline, một hệ thống các bước xử lý đơn đặt hàng tương ứng
theo các quy tắc kinh doanh khác nhau.
WEB site Server Administrator, cung cấp một công cụ quản lý tập trung cho tất cả
các chức năng của hệ thống.
§
Promotion and Cross Sell Manager, hỗ trợ cho giám đốc tiếp thị thực hiện các chương
trình khuyến mại cho một sản phẩm hoặc đan chéo nhiều sản phẩm.
§
Order Manager, quản lý toàn bộ các dữ liệu bán hàng theo tháng, năm, sản phẩm,
chủng loại hoặc toàn bộ các sản phẩm.v.v..
"Thương mại điện tử không phải là một giải pháp đơn giản", Barzdukas nhấn mạnh, "Có rất nhiều
điều phức tạp xuất hiện, rất nhiều mối tương tác xảy ra với nhiều đối tác khác nhau, nhiều công
nghệ khác nhau. Hệ thống sẽ phải giải quyết hàng nghìn mối liên hệ khác nhau giữa rất nhiều
các công ty khác nhau và các hệ thống khác nhau". Ðiều mà Barzdukas muốn nói tới là các vấn
đề liên quan đến cơ sở dữ liệu sản phẩm, xử lý thanh toán, tính toán thuế, và cơ sở dữ liệu về
khách hàng. Ðiều mà Microsoft muốn làm theo Barzdukas nói là "Biến WEB site Server thành một
nền tảng cho các công việc kinh doanh, phát triển thương mại điện tử, mở rộng , tích hợp và cảI
tiến các công việc kinh doanh mà công ty đang thực hiện".
Giải pháp của Microsoft là một hệ thống mở và có khả năng mở rộng kết nối với các hệ thống
khác cung cấp các chức năng phức tạp hơn như xử lý thanh toán của CyberCash hoặc xử lý các
giao dịch nền của các công ty như Open Market Inc. .
1.2. Giải pháp thương mại điện tử của IBM
Chiến lược thương mại điện tử của IBM được gọi là e-business, nó bao gồm cả phần cứng và
phần mềm cho an toàn trên mạng thông qua xử lý giao dịch. Ðối với thương mại trên WEB, IBM
có sản phẩm được gọi là Net.Commerce một phần mềm chạy trên máy chủ cho cả hai ứng dụng
doanh nghiệp-tới-doanh nghiệp (B2B) và doanh nghiệp-tới-người dùng (B2C). Giá khởi đầu của
Net.Commerce là 4,999 USD, dành cho các doanh nghiệp hoặc chủ kinh doanh muốn thiết lập
cung cấp cho khách hàng các các ứng dụng như tính thuế, xử lý thanh toán và các chức năng
khác mà IBM không cung cấp. Ðiểm mạnh của Net.Commerce là khả năng tích hợp nền với các
hệ thống cơ sở dữ liệu như Oracle , Informix đồng thời cho phép tạo dựng một cách mềm dẻo các
gian hàng trên WEb với khả năng tìm kiếm thông minh cho một số lượng sản phẩm lên đến hàng
chục nghìn và hoàn toàn tương thích với SET.
2. Những vấn đề cần quan tâm đến nhà cung cấp dịch vụ mạng (ISP) và nhà thiết kế
mạng.
Trong thời buổi bùng nổ thông tin như ngày nay thì số lượng các nhà cung cấp các dịch vụ mạng
(ISP) và số các nhà thiết kế mạng tăng lên nhanh chóng khiến cho chúng ta có nhiều cơ hội để
lựa chọn. Có rất nhiều nhu cầu từ phía các khách hàng đối với các nhà cung cấp dịch vụ mạng
mà các nhà thiết kế mạng. Các ISP và các nhà thiết kế mạng thông thường đưa ra năm kiểu dịch
vụ: truy cập thông qua hệ thống điện thoại hoặc sử dụng các đường thuê riêng (leased line), các
dịch vụ web hosting, phát triển website và đặc biệt là các dịch vụ thiết kế web cho các cơ sở dữ
liệu và việc đào tạo qua mạng.
Một số vấn đề mà chúng ta cần lưu ý khi truy cập trên Internet:
·
Vấn đề giả cả của họ như thế nào?
·
Bao nhiêu người dùng chung một modem mà doanh nghiệp không phải trả thêm tiền?
·
Có hỗ trợ kỹ thuật 24/24 không? Chất lượng hỗ trợ kỹ thuật như thế nào?
·
Các dịch vụ cụ thể là gì, sử dụng chúng như thế nào?
·
·
Những địa chỉ website nào tốt nhất mà bạn đã từng thiết kế?
·
Những site với chi phí đắt nhất và rẻ nhất mà bạn đã tạo ra là gì?
·
Bạn mất thời gian bao lâu để tạo ra một website?
·
Bạn thực hiện việc đồ hoạ trong các website như thế nào?
·
Bạn sẽ giúp chúng tôi quảng bá website của chúng tôi như thế nào?
·
Ðăng ký với các nhà cung cấp dịch vụ tìm kiếm như thế nào?
3. Cách thức tạo ra một website
Ðể tạo ra một Website có chất lượng đòi hỏi bạn phải có một kỹ năng thành thực và một sự
nghiên cứu kỹ về Web. Bạn phải biết mình sẽ làm gì và không nên làm gì để đưa tất cả các ý
tưởng đó vào việc xây dựng một Website.
Ðể tạo ra một Website bạn cần phải theo làm theo những bước sau đây:
Bước 1: Ðây là giai đoạn định hướng. Bạn cần phải đề cập đến những vấn đề sau đây:
·
Những ý tưởng tổng quan của bạn
·
hợp.
Bước 4:
·
Khi bạn đã có bộ khung của mình thì bạn bắt đầu chuẩn bị tạo ra website bằng việc sử dụng
ngôn ngữ siêu văn bản (HTML). Tiến hành chuyển đổi các văn bản text của mình tới HTML mà
bạn có thể làm bằng World, Netscape, Homesite và một vài các gói thông tin được lựa chọn
khác. Chúng ta đã có một vài chương trình phần mềm rất thuận tiện cho người sử dụng mà có
thể chuyển đổi một cách tự động từ dạng text thành ngôn ngữ HTML mà thậm chí bạn không
cần biết một chút gì về HTML.
·
Bạn có thể lựa chọn khi bạn thiết kế website của bạn hoặc là bạn tham gia vào các khoá đào
tạo về thiết kế web ngay từ đầu hoặc bạn có thể thuê các chuyên gia bên ngoài về thiết kế web
để giúp cho bạn.
Bước 5:
·
Lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ Internet để đưa website của bạn lên Internet
Bước 6:
·
Thiết lập tên miền của bạn
·
Ðăng ký tên website của bạn với các nhà tìm kiếm
·
Quảng cáo và khuyếch trương website của bạn đối với các khách hàng mục tiêu. Có thể thực
hiện được điều này thông qua các phương pháp truyền thống như gửi thư, truyền thanh, truyền
tên miền quốc gia khác nhau. Dưới mỗi tên miền quốc gia có tên miền cấp 2 và cấp 3 (ví dụ
COM.VN, EDU.VN,...).
Hiện nay vấn đề đăng ký và bảo vệ tên miền là một trong những vấn đề nổi cộm. Về phía các
doanh nghiệp họ cần phải có những hiểu biết cơ bản về bản quyền và về sở hữu trí tuệ để có tìm
cách bảo vệ tên miền và nội dung mà mình đưa lên trang Web.
Ðể bảo vệ tên miền Internet một điều cần thiết và tương đối đơn giản là đăng ký tên miền đó với
các tổ chức quốc tế có các chức năng lưu trữ và quản lý tên miền. Nói chung, khi doanh nghiệp
thiết kế trang Web nên giao việc đăng ký tên miền cho nhà thiết kế hoặc cho nơi đặt nội dung
trang Web (Web hosting).
Nếu doanh nghiệp tự đăng ký, trước hết chúng ta nên xem tại trang Web có địa chỉ
() hoặc xem tên mình định đăng lý có trùng
với một tên nào đó đã đăng ký trước hay không, nếu không chỉ việc gửi tên miền của mình tới
InterNIC theo mẫu được hướng dẫn ngay trên trang Web của InterNIC.
(Theo Sàn Giao dịch Thương mại điện tử VNemart. Chi tiết truy cập tại:
http:// www.vnemart.com.vn)
Một số văn bản pháp lý về
thương mại điện tử
Ðạo luật mẫu về Thương mại điện tử của Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)
Phần một: Thương mại điện tử nói chung
Chương I: Các quy định chung
Ðiều 1. Phạm vi điều chỉnh
Ðạo luật này có hiệu lực áp dụng đối với mọi loại thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu trong khuôn khổ các hoạt động
thương mại
(2) Ðoạn (1) không ảnh hưởng tới bất kỳ quyền nào mà có thể đã có về việc sửa đổi theo thoả thuận, bất kỳ quy tắc pháp lý
nào được đề cập tại chương III
Chương II: Các điều kiện luật định đối với các thông điệp dữ liệuÐiều 5. Công nhận pháp lý các thông điệp dữ liệu
Hiệu lực pháp lý, tính giá trị hoặc hiệu lực thi hành của thông tin không thể bị phủ nhận chỉ vì lý do thông tin ấy được thể
hiện dưới dạng một thông điệp dữ liệu.Ðiều 6. Văn bản viết
(1) Trong trường hợp pháp luật đòi hỏi thông tin phải thể hiện bằng văn bản viết, thì một thông điệp dữ liệu được coi là
thoả mãn đòi hỏi ấy nếu thông tin hàm chứa trong đó là có thể truy cập được để sử dụng cho mục đích tham chiếu sau này; và
(2) Ðoạn (1) được áp dụng dù đòi hỏi hàm chứa trong nó là dưới dạng một nghĩa vụ bắt buộc hay chỉ đơn thuần vì luật pháp
có quy định các hệ qủa pháp lý đối với thông tin không thể hiện dưới dạng văn viết.
(3) Các quy định tại điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (...(.
Ðiều 7. Chữ ký
(1) Trong trường hợp pháp luật đòi hỏi phải có chữ ký của một trong người nào đó, thì một thông điệp dữ liệu được coi là đáp
ứng đòi hỏi ấy nếu:
(a) có sử dụng một phương pháp nào đó để xác minh được người ấy và chứng tỏ được sự phê chuẩn của người ấy đối thông
tin hàm chứa trong thông điệp dữ liệu đó; và
(b) phương pháp ấy là đủ tin cậy với nghĩa là thích hợp cho mục đích mà theo đó thông điệp dữ liệu ấy đã được tạo ra và
(b) lấy lý do nó không ở dạng bản gốc mà không chấp nhận nó là chứng cứ có giá trị nhất mà người viện dẫn nó có thể có
được.
(2) Thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu phải được hưởng giá trị bằng chứng xứng đáng. Khi thẩm định giá trị
chứng cứ của một thông điệp dữ liệu, phải tham chiếu tới tính đáng tin cậy của cách thức mà thông điệp dữ liệu ấy được
tạo ra, lưu trữ hoặc truyền gửi, tới tính đáng tin cậy của cách thức mà tính toàn vẹn của thông tin được duy trì, tới cách thức
minh xác người khởi phát nó, và tới bất kỳ nhân tố có liên quan nào khác.
Ðiều 10. Lưu giữ các thông điệp dữ liệu
(1) Trong trường hợp luật pháp đòi hỏi rằng các chứng từ, hồ sơ hoặc thông tin nào đó phải được lưu giữ, thì việc lưu giữ
các thông điệp dữ liệu được coi là đáp ứng đòi hỏi ấy, miễn là thoả mãn các điều kiện sau đây:
(a) thông tin hàm chứa trong đó là có thể truy cập được để sử dụng cho mục đích tham chiếu sau này; và
(b) thông điệp dữ liệu ấy được lưu giữ trong khuôn dạng mà nó đã được tạo ra, gửi đi, hoặc tiếp nhận, hoặc trong khuôn
dạng mà nó có thể phô diễn để thể hiện chính xác thông tin đã được tạo ra, gửi đi hoặc tiếp nhận; và
(c) thông tin như thế, nếu có, được lưu giữ sao cho có thể xác minh được xuất xứ và đích đến của một thông điệp dữ liệu
và ngày giờ gửi đi hoặc đích tiếp nhân.
(2) Nghĩa vụ lưu giữ chứng từ, hồ sơ hoặc thông tin phù hợp với đoạn (1) không mở rộng tới bất kỳ thông tin nào mà mục
đích duy nhất chỉ là tạo điều kiện cho thông điệp gửi đi hoặc được tiếp nhận.
(3) Một người có thể thoả mãn đòi hỏi đã nêu tại đoạn (1) bằng cách sử dụng các dịch vụ của một người khác, miễn là các điều
kiện nêu ra tại các phân đoạn (a), (b) và (c) được đáp ứng.
Chương III: Truyền gửi các thông điệp dữ liệu
Ðiều 11. Sự hình thành và giá trị của các hợp đồng
(1) Trong khuôn khổ hình thành hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, một chào hàng và chấp nhận một chào
hàng được phép thể hiện bằng phương tiện các thông điệp dữ liệu. Khi một thông điệp dữ liệu được sử dụng trong việc
hình thành một hợp đồng, thì giá trị và hiệu lực thi hành của hợp đồng đó không thể bị phủ nhận chỉ với lý do rằng một
thông điệp dữ liệu đã được dùng vào mục đích ấy.
thận đúng mức hoặc đã sử dụng bất lỳ thủ tục đã thoả thuận nào, rằng thông điệp dữ liệu đó không phải là thông điệp dữ liệu
của người khởi phát
(5) Trong trường hợp một thông điệp dữ liệu là thông điệp dữ liệu của người khỏi phát hoặc được suy đoán là của người
khởi phát, hoặc người tiếp thụ có quyền hành động trên cơ sở đoán định ấy, thì, người tiếp thụ được quyền coi thông điệp
dữ liệu nhận được chính là cái mà người khởi phát chủ định gửi, và hành động trên cơ sở đoán định đó. Người tiếp thụ không
được quyền đó khi người ấy biết, hoặc lẽ ra đã phải biết nếu như người đó đã cẩn thận đúng mức hoặc đã sử dụng bất kỳ
thủ tục đã thoả thuận nào, rằng việc truyền gửi đã gây ra sai lệch bất kỳ nào đó trong thông điệp dữ liệu nhận được.
(6) Người tiếp thụ được quyền coi mỗi thông điệp dữ liệu nhận được như một thông điệp dữ liệu riêng rẽ và hành động trên
cơ sở đoán định ấy, ngoại trừ trường hợp thông điệp ấy là sự lặp lại một thông điệp dữ liệu khác mà người biết hoặc lẽ ra đã
phải biết nếu như người đó đã cẩn thận đúng mức hoặc đã sử dụng bất kỳ thủ tục đã thoả thuận nào, rằng thông điệp dữ liệu
ấy chỉ là một thông điệp lặp lại.
Ðiều 14. Xác nhận đã nhận được
(1) Các đoạn (2) và (4) của điều này được áp dụng trong trường hợp vào lúc hoặc trước lúc gửi một thông điệp dữ liệu đi,
hoặc bằng chính thông điệp dữ liệu ấy, người khởi phát đã yêu cầu hoặc đã thoả thuận với người tiếp thụ rằng cần có xác
nhận đã nhận được thông điệp.
(2) Trong trường hợp người khởi phát chưa thoả thuận với người tiếp thụ rằng xác nhận phải được thể hiện ở một khuôn
dạng đặc thù nào đó, hoặc bằng một phương pháp đặc thù nào đó, thì xác nhận có thể thể hiện bằng
(a) bất kỳ liên lạc nào do người tiếp thụ mà đủ để chứng tỏ với người khởi phát rằng đã nhận được thông điệp dữ liệu đó.
(3) Trong trường hợp người khởi phát đã tuyên bố rằng thông điệp dữ liệu ấy chỉ có giá trị khi nhận được xác nhận đã nhận
được, và người khởi phát chưa nhận được xác nhận trong thời gian đã ấn định hoặc đã thoả thuận hoặc, nếu chưa có ấn định
hay thoả thuận về thời gian, thì trong phạm vi một thời gian hợp lý, thì:
(a) người khởi phát có thể thông báo với người tiếp thụ rằng chưa nhận được xác nhận đồng thời ấn định một thời gian
hợp lý mà xác nhận phải tới người khởi phát; và
(b) nếu xác nhận không tới trong phạm vi thời gian đã ấn định tại phân đoạn (a), thì, cho tới lúc thông báo cho người tiếp
thụ, người khởi phát có thể coi thông điệp dữ liệu ấy như chưa hề được gửi đi, hoặc thực hiện bất cứ quyền nào khác mà
mình có thể có được.
(5) Trong trường hợp người khởi phát nhận được xác nhận đã nhận được của người tiếp thụ, thì thông điệp dữ liệu có liên
(b) nếu người khởi phát hoặc người tiếp nhận không có trụ sở kinh doanh, thì phải tham chiếu vào nơi thường trú của
người đó.
(5) Các quy định của điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (...(.
Phần Hai: Thương mại điện tử trong các lĩnh vực cụ thể
Chương I: Vận chuyển hàng
Ðiều 16. Các hành vi liên quan tới các hợp đồng vận chuyển hàng
Không trái với các quy định tại Phần Một của Ðạo luật này, chương này áp dụng cho mọi hành vi liên quan tới, hoặc nhằm thực
hiện, một hợp đồng vận chuyển hàng, bao gồm cả, nhưng không chỉ bao gồm:
(a) (i) thông báo ký mã hiệu, số lượng, khối lượng hoặc trọng lượng hàng;
(ii) nói rõ hoặc khai báo chủng loại hoặc giá trị hàng;
(iii) xuất biên lai hàng;
(iv) xác nhận hàng đã được xếp;
(b) (i) thông báo cho một người nào đó về các điều kiện của hợp đồng đó;
(ii) ra chỉ thị cho một người vận chuyển;
(c) (i) yêu cầu giao hàng;
(ii) cho phép xuất hàng;
(iii) thông báo tổn thất hàng, hoặc hư hại hàng;
(d) bất cứ thông báo hoặc tuyên bố nào khác liên quan tới việc thực hiện hợp đồng;
(e) đảm nhận giao hàng tới một người đã được định danh hoặc một người đã được uỷ quyền yêu cầu giao hàng;
(f) trao, thụ đắc, từ bỏ, khước từ, chuyển nhượng hoặc thương lượng các quyền đối với khách hàng;
(g) thụ đắc hoặc chuyển nhượng các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng đó.
Ðiều 17. Chứng từ vận tải
Các nguyên tắc chỉ đạo đối với việc phát triển thương mại điện tử trong các nước ASEAN sẽ thể hiện quan điểm chung của
chúng ta đối với thị trường số hoá đang trỗi dậy, và phác hoạ các nguyên tắc chỉ đạo các hành động tập thể của chúng ta trong
quá trình bước vào ký nguyên thương mại điện tử. Trong các cân nhắc của mình, các nước thành viên ASEAN sẽ tính tới xu
hướng toàn cầu về tự do hoá thương mại và nguyện vọng muốn thương mại điện tử trong khu vực phát triển không bị cản
trở.
Tập hợp các nguyên tắc này làm sáng tỏ vai trò của các quốc gia thành viên ASEAN đối với khu vực doanh nghiệp; thừa nhận
bản chất không biên giới của thương mại điện tử và sự cần thiết phải thiết lập và hài hoà các quy tắc, các tiêu chuẩn và các hệ
thống trên quan điểm toàn khu vực nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại điện tử giữa các nước thành viên ASEAN.
Những nguyên tắc này sẽ trở thành khuôn khổ cho việc đặc định và thiết kế việc hợp tác kỹ thuật và các sáng kiến tạo dựng
năng lực nhằm xúc tiến và tạo thuận lợi cho buôn bán nội bộ ASEAN tiến hành buôn bán điện tử với các nước khác trên thế
giới.
1. Vai trò của Chính phủTạo dựng một môi trường có tính hỗ trợ giúp cho thương mại điện tử mở rộng và phát triển.
Kích hoạt thương mại điện tử thông qua các dự án thí điểm, các trung tâm thí điểm và các thực nghiệm.
Xây dựng một quan điểm phối hợp, đổi mới và có mục tiêu đối với việc lập chính sách.
Các quốc gia thành viên ASEAN sẽ ban hành các luật cần thiết đảm bảo tính chắc chắn, khả kiến, và sáng tỏ của các quyền và
nghĩa vụ của các bên hữu quan, có tính tới các phương thức đang hình thành của hoạt động kinh doanh số hoá. Khuôn khổ
pháp lý mới phải có khả năng thích ứng và đủ linh hoạt để thích nghi được với các biến đổi công nghệ và với tình hình môi
trường toàn cầu và khu vực biến hoá không ngừng. Ðể nâng cao hơn nữa tác dụng hỗ trợ của môi trường nhằm xúc tiến
thương mại điện tử, các quốc gia thành viên ASEAN có thể cần phải có các chính sách kinh tế thuận lợi, các chương trình kích
thích cả gói và một cơ chế hỗ trợ.
Tuy nhiên, cần phải có nhiều thử nghiệm trong giai đoạn khởi đầu này của việc phát triển thương mại điện tử trong ASEAN.
Trong nhiều lĩnh vực của ngành tài chính, và trong các khu vực chủ chốt của công nghiệp, rất có thể sẽ không có một doanh
nghiệp chuyên hoá thương mại điện tử.
Các nước thành viên ASEAN sẽ kích hoạt thương mại điện tử qua các dự án thí điểm, các trung tâm thí điểm, sẽ bao gồm: các
điểm tạo mầm mống, các khuyến khích trong các chương trình làm quen với môi trường mới, và các định hướng mang tính