LUẬN VĂN:
Các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ
quản lý trường trung học phổ thông tỉnh
Tuyên Quang Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Cơ sở lý luận
giáo dục trung học phổ thông. Quản lý giáo dục được xem là “khâu đột phá” mở đầu cho
việc triển khai những chủ trương và giải pháp được quyết định.
Tuyên Quang là tỉnh miền núi, trong đó có 5 huyện và 1 thị xã. Đảng và Nhà nước đã ban
hành chế độ chính sách ưu tiên phát triển các tỉnh miền núi, mặc dù vậy, là địa bàn miền
núi vùng cao, tỷ lệ dân tộc thiểu số chiếm 52,01% tập quán canh tác nhỏ lẻ, lạc hậu,
Tuyên Quang vẫn là tỉnh có điểm xuất phát thấp về kinh tế - xã hội và những điều kiện
khó khăn trong việc phát triển giáo dục, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng
giáo dục của tỉnh.
Sau hai mươi năm đổi mới, sự nghiệp giáo dục đã thu được những thành tựu nhất
định: phát triển mạnh quy mô, mạng lưới trường lớp; xoá xã trắng về giáo dục mầm non;
hoàn thành phổ cập về giáo dục tiểu học và chống mù chữ năm 1995, chất lượng giáo dục
của tỉnh từng bước được cải thiện. Hệ thống trường tiểu học, trung học cơ sở phủ kín 100%
số xã trong tỉnh. Cả tỉnh có 28 trường trung học phổ thông. Tuy vậy, sự nghiệp giáo dục nói
chung và giáo dục trung học phổ thông nói riêng ở Tuyên Quang còn nhiều nơi và nhiều
mặt yếu kém, phát triển chưa vững chắc, cần tiếp tục được củng cố.
Trước yêu cầu phát giáo dục và những thay đổi nhanh của môi trường kinh tế xã hội,
công tác quản lý của đội ngũ Hiệu trưởng các trường trung học tỉnh Tuyên Quang nói
chung, trường trung học phổ thông nói riêng bộc lộ nhiều yếu kém bất cập. Đội ngũ cán bộ
quản lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng) các trường trung học phổ thông còn yếu kém về
năng lực quản lý, mất cân đối về cơ cấu (độ tuổi, trình độ ), chất lượng quản lý chưa đáp
ứng yêu cầu. Điều này bắt nguồn từ các khâu tạo nguồn, quy hoạch, tuyển chọn, bổ nhiệm,
đào tạo, bồi dưỡng, chính sách đãi ngộ sử dụng, đối với cán bộ quản lý các trường trung
học phổ thông chưa được nghiên cứu và phát triển một cách có cơ sở và có tầm nhìn dài
hạn. Vấn đề phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
còn rất ít công trình nghiên cứu. Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Các biện pháp phát triển
đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang” với mong muốn
cần giải quyết những bức xúc trong giáo dục trung học phổ thông trong tỉnh, nhất là tình
hình đổi mới giáo dục hiện nay.
1.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất được các biện pháp phát triển đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ
thông tỉnh Tuyên Quang đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phù hợp với thực tiễn của
một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn về kinh tế - xã hội.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Phát triển đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang
trong bối cảnh và yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục về phát triển đội ngũ cán bộ
quản lý trường trung học phổ thông của tỉnh Tuyên Quang.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ
thông tỉnh Tuyên Quang;
- Đề xuất các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông
tỉnh Tuyên Quang nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
5. Phạm vi nghiên cứu
Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trung học phổ thông có thể tiếp cận trên nhiều góc
độ khác nhau (tâm lý học quản lý, giáo dục học, kinh tế học giáo dục, xã hội học ); song để
phù hợp với chuyên nghành đào tạo nên phạm vi nghiên cứu của luận văn xin được tiếp cận
dưới góc độ quản lý giáo dục. Điều này có nghĩa chỉ đi sâu nghiên cứu và đề xuất các biện
pháp quản lý để xây dựng và phát triển đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ thông
tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của tỉnh.
Đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ thông đề cập trong đề tài này chỉ xin giới
hạn: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trường trung học phổ thông.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, văn bản để phân tích, vận dụng các quan điểm lý luận
- Chương 3: Các biện pháp phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ
thông tỉnh Tuyên Quang.
Chương 1
Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ
cán bộ quản lý trường Trung học phổ thông
1.1. Khái niệm quản lý
1.1.1. Khái niệm chung
Từ khi xã hội loài người xuất hiện thì nhu cầu quản lý cũng được hình thành như một tất
yếu khách quan. Quản lý đã xuất hiện từ lâu và ngày càng được hoàn thiện cùng với lịch sử
hình thành và phát triển của loài người.
Trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều
phải dựa vào các nỗ lực của cá nhân, của tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng hơn ở
tầm quốc gia, đều phải thừa nhận và chịu sự quản lý nào đó. C.Mác đã viết: “Một người độc
tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [7,
tr.1].
Quản lý là một trong những loại hình lao động hiệu quả nhất, quan trọng nhất trong các hoạt
động của con người, làm cho hoạt động tổ chức và xã hội ngày càng có hiệu quả cao. Quản
lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật và sẽ đạt được những thành công to
lớn.
Ngày nay, khái niệm quản lý đã trở nên phổ biến nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất.
Hoạt động quản lý thường được định nghĩa khác nhau, dưới đây sẽ đưa ra một vài quan
điểm có tính chất khái quát:
giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý.
1.1.4. Chức năng quản lý
Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên
đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến
hành trong quá trình quản lý. Thực chất của các chức năng quản lý chính là do sự tồn tại các
hoạt động quản lý. Nhiều người cho rằng quản lý có 4 chức năng cơ bản, đồng thời là 4
khâu liên quan mật thiết với nhau, đó là:
1.1.4.1. Lập kế hoạch
Bao gồm xác định được mục tiêu của tổ chức, thiết lập chiến lược tổng thể để đạt được mục
tiêu đó và phát triển một hệ thống thứ tự rõ ràng của kế họach để gắn kết và đan xen các
hoạt động. Cụ thể là:
- Xác định sứ mệnh, chức năng nhiệm vụ.
- Dự báo, đánh giá triển vọng.
- Xác định mục tiêu (xa và gần).
- Tính toán các nguồn lực, các giải pháp.
1.1.4.2. Tổ chức (công việc và các nguồn lực)
Là quá trình sắp xếp phân bổ công việc, quyền hành và nguồn lực cho các bộ phận, các
thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được mục tiêu của tổ chức một cách có
hiệu quả. Các nội dung của tổ chức là:
- Phân tích công việc bằng nhiệm vụ.
- Lựa chọn người vào việc.
- Phân bổ các nguồn lực khác.
- Xây dựng cơ chế làm việc.
1.1.4.3. Lãnh đạo (chỉ đạo)
Là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức, làm cho họ gắn kết, nhiệt tình, tự giác
và nỗ lực phấn đấu đạt được mục tiêu của tổ chức. Chức năng lãnh đạo gồm các nội dung
sau:
- Ra quyết định.
- Thông báo hướng dẫn.
và xã hội hoá để tái sản xuất sức lao động có kỹ thuật, phục vụ các yêu cầu phát triển kinh tế
- xã hội [2, tr.1].
Quản lý giáo dục có thể được hiểu rõ hơn, theo Phạm Minh Hạc quản lý nhà trường, quản lý
giáo dục nói chung là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của
mình, tức là đưa Nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục,
mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh [16, tr.34].
Chủ thể quản lý giáo dục (xét theo ngành dọc chuyên môn) là:
- Các cấp quản lý từ Bộ Giáo dục và Đào tạo (là cơ quan thay mặt Nhà nước quản
lý), Sở Giáo dục và Đào tạo, đến phòng Giáo dục và cuối cùng là Hiệu trưởng các Nhà
trường- Chủ thể quản lý trực tiếp sự vận hành trong hệ thống Giáo dục.
- Đối tượng của quản lý giáo dục là đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên trong hệ thống giáo
dục quốc dân.
Chủ thể quản lý giáo dục xét theo phân cấp quản lý theo địa bàn và lãnh thổ là:
- ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Sở Giáo dục và Đào tạo (là cơ
quan thay mặt ủy ban nhân dân các cấp quản lý Nhà nước về Giáo dục và Đào tạo tại địa
phương đến Phòng Giáo dục và Hiệu trưởng các Nhà trường.
- Đối tượng của quản lý giáo dục ở đây là đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh
trong hệ thống giáo dục của địa phương.
- Chủ thể quản lý giáo dục trong phạm vi Nhà trường là Hiệu trưởng. Đối tượng ở đây là
cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trong Nhà trường.
để tăng cường tính hiệu quả của quản lý giáo dục, hiện nay Nhà nước đang đẩy mạnh phân
cấp quản lý trong giáo dục và đào tạo. Luật Giáo dục năm 2005 thể hiện rõ các nội dung
này, nhất là đẩy mạnh phân cấp quản lý giáo dục phổ thông cho ủy ban nhân dân các tỉnh
thành phố quản lý. Phân cấp quản lý giáo dục là cần thiết nhưng công tác quản lý giáo dục ở
tất cả các cấp đều nhằm mục đích tạo điều kiện tối ưu cho sự vận hành thuận lợi của các cơ
sở giáo dục để đạt đến chất lượng và hiệu quả cao.
1.2.2. Quản lý nhà trường
Trường học là một tổ chức giáo dục cơ sở, trực tiếp làm công tác đào tạo thực hiện việc
giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ. Thành tích tập trung nhất của trường học là chất lượng
Có thể tóm lại hoạt động quản lý ở trường trung học phổ thông có mục tiêu kép là:
- Hoàn thiện kiến thức phổ thông cho học sinh để các em có đủ năng lực tiếp tục học
lên (đại học, cao đẳng hoặc học nghề), trong đó chú trọng trang bị cho học sinh năng lực
thích ứng với sự biến đổi xã hội.
- Chuẩn bị điều kiện cho một bộ phận không nhỏ học sinh có thể hoà nhập vào thị trường
lao động để mưu sinh và tiếp tục chuẩn bị để học lên và học tập suốt đời.
1.2.3. Vị trí, nhiệm vụ, chức năng của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông
1.2.3.1. Vị trí, nhiệm vụ
Về mặt pháp lý, Hiệu trưởng trung học phổ thông là người được Nhà nước bổ nhiệm,
có trách nhiệm và thẩm quyền cao nhất về hành chính và chuyên môn trong nhà trường;
chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên về tổ chức chỉ đạo, điều hành toàn bộ các
hoạt động của nhà trường để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu giáo dục đặt ra.
QL
DH
Điều 17 của Điều lệ trường trung học (Ban hành theo Quyết định số 22/ 2000/QĐ- BGD&
ĐT ngày 11/7/2000 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã ghi: Hiệu trưởng trường
trung học có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Tổ chức bộ máy nhà trường.
2. Xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện nhiệm vụ năm học.
3. Quản lý giáo viên, nhân viên, học sinh; quản lý chuyên môn, phân công công tác; kiểm
tra đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của giáo viên, nhân viên.
4. Quản lý và tổ chức giáo dục học sinh.
5. Quản lý hành chính, tài chính, tài sản nhà trường.
6. Thực hiện các chế độ chính sách của Nhà nước đối với giáo viên, nhân viên, học
sinh; tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động của nhà trường.
7. Được theo học các lớp chuyên môn, nghiệp vụ và hưởng các chế độ hiện hành.
Theo Đặng Quốc Bảo: "Hiệu trưởng Nhà trường và giáo viên- phương pháp viên là một
quả tổng hợp của những tác động đó. Yếu tố con người (thầy, trò) phải được nhận thức là
những thành tố quyết định nhất đến kết quả giáo dục.
Công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục về số lượng, chất lượng và cơ cấu là tác
động đến nguồn lực con người, lực lượng trực tiếp vận hành (quản lý). Hệ thống các thành tố trên
sao cho đạt kết quả giáo dục mong muốn.
1.3. Đổi mới Giáo dục và những yêu cầu về nhân cách nghề nghiệp đối với cán bộ quản
lý trường trung học phổ thông
1.3.1. Vị trí. vai trò, mục tiêu của giáo dục trung học phổ thông
1.3.1.1. Vị trí, vai trò của giáo dục trung học phổ thông
Theo luật giáo dục năm 2005, hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:
- Giáo dục mầm non.
- Giáo dục phổ thông.
- Giáo dục nghề nghiệp.
- Giáo dục đại học.
- Giáo dục thường xuyên.
Trung học phổ thông là cấp học cuối cùng của giáo dục phổ thông là cầu nối giữa
giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học. Trường trung
học phổ thông có vai trò rất quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Ngày nay, với sự ưu
việt của chế độ xã hội chủ nghĩa với yêu cầu chuẩn bị nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, giáo dục quản lý giáo dục không phải chỉ giành cho các học sinh giỏi, xuất sắc
theo mô hình giáo dục tinh hoa, mà là một nền giáo dục đại chúng. Giáo dục quản lý giáo dục
tạo học vấn cơ bản cho học sinh lứa tuổi trưởng thành và góp phần nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
1.3.1.2. Mục tiêu của giáo dục phổ thông
Luật Giáo dục nêu rõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển
toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực
cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên
hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vể Tổ quốc” [28, tr.17].
và Ban Khoa học xã hội và nhân văn, Ban Cơ bản.
- Triển khai Nghị quyết 40/2000/QH10, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị số 14/ 2001/CT-
TTg ngày 11/06/2001:
+ Khẩn trương thực hiện việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông, coi đây là
một trong những nhiệm vụ trọng tâm về giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục phổ
thông nói riêng và hệ thống giáo dục và đào tạo nói chung.
+ Thực hiện đồng bộ đổi mới chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy và học với
việc đổi mới về cơ bản phương pháp đánh giá, thi cử, đổi mới đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ
giáo viên; đổi mới công tác quản lý giáo dục, nâng cấp cơ sở vật chất của Nhà trường theo
hướng chuẩn hoá đảm bảo đủ trang thiết bị vầ đồ dùng học tập.
- Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 đề ra mục tiêu chung: “Đổi mới mục tiêu, nội
dung, phương pháp, chương trình giáo dục các cấp học và trình độ đào tạo; phát triển đội
ngũ nhà giáo đáp ứng nhu cầu về tăng quy mô về nâng cao chất lượng, hiệu quả đổi mới
phương pháp dạy-học; đổi mới quản lý giáo dục tạo cơ sở pháp lý và phát huy nội lực phát
triển giáo dục.
- Trong giải pháp “Đổi mới quản lý giáo dục của Chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010,
đổi mới quản lý giáo dục được xem là khâu đột phá. Nội dung đổi mới quản lý giáo dục bao
gồm: Đổi mới cơ bản tư duy và phương thức quản lý giáo dục theo hướng nâng cao hiệu lực
quản lý nhà nước, phân cấp mạnh mẽ, phát huy tính chủ động và tự chịu trách nhiệm của
các địa phương, của các cơ sở giáo dục xây dựng và thực hiện chuẩn hoá đội ngũ cán bộ
quản lý giáo dục. Đào tạo và bồi dưỡng thường xuyên đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục các
cấp về kiến thức, kỹ năng quản lý và rèn luyện phẩm chất đạo đức; đồng thời điều chỉnh,
sắp xếp lại cán bộ theo yêu cầu mới phù hợp với năng lực và phẩm chất từng người [6,
tr.33-34].
- Xác định vai trò quyết định của Nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, ngày 15 /6/2004 Ban Bí
thư Trung ương Đảng ban hành Chỉ thị số 40-CT/TW về “Xây dựng, nâng cao chất lượng, đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”.
- Sau khi Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ sáu Ban hành Nghị quyết số 37/2004/QH11 ngày
03/12/2004: Nghị quyết về Giáo dục. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Xây dựng,
học sinh noi theo.
- Có nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách nghề nghiệp. Theo Mạc Văn Trang: Nhân
cách nghề nghiệp là một con người với tư cách một thành viên của xã hội, là chủ thể có ý
thức, có những phẩm chất và năng lực hoạt động trong một nghề nghiệp nào đó, đem lại
những sản phẩm (vật chất, tinh thần) có giá trị xã hội nhất định [36, tr.42].
Mỗi nghề đòi hỏi những đặc điểm nhân cách phù hợp với nó.
Mỗi cấp trình độ đào tạo hoặc ở các vị trí lao động với các chức năng, nhiệm vụ khác nhau
cũng đòi hỏi những đặc điểm nhân cách, những mức độ khác nhau của các yếu tố thuộc mỗi
phẩm chất và năng lực.
- Trong phạm vi nhà trường, chủ thể quản lý là Hiệu trưởng. Đối tượng quản lý là
cán bộ, giáo viên, công nhân viên và học sinh của trường. Muốn quản lý tốt nhà trường, một
trong những điều kiện chủ thể quản lý là phải có phẩm chất và năng lực phù hợp thường gọi
nhân cách. Nghề quản lý giáo dục đòi hỏi nhà quản lý có nhân cách nghề nghiệp tương ứng.
Nhân cách như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: Mỗi thầy giáo, cô giáo là một
tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Người cán bộ quản lý giáo dục không dừng ở vai trò
một giáo viên mà họ là “con chim đầu đàn” của tập thể sư phạm. Nhân cách người quản lý
giáo dục sao cho phải “vừa hồng, vừa chuyên” như Bác Hồ đã dạy.
1.3.2.2. Tiêu chuẩn nhân cách “nghề quản lý”
Theo ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, đối với chuyên gia, nhà quản lý, yêu cầu nhân cách
nghề nghiệp như sau:
a) Về mặt phẩm chất
- Có tình cảm công dân, trách nhiệm xã hội cao.
- Có ý thức hành vi pháp luật cao (nhất là những luật liên quan tới lĩnh vực hoạt động của
mình).
- Gắn bó, say mê, có trách nhiệm với nghề nghiệp, với nhiệm vụ, lĩnh vực phụ trách.
- Tôn trọng và hợp tác với nhân viên, với công sự, đồng nghiệp, với các cấp quản lý.
- Hiểu biết, tôn trọng, hợp tác được với khách hàng, với các đối tác.
- Có tính trung thực, tự phê bình, trách nhiệm cao.
- Say mê học tập, sáng tạo để phát triển và thích ứng với sự thay đổi của nghề nghiệp, hoàn
cần thiết giúp người cán bộ quản lý trường trung học phổ thông có cơ sở nhận thức thế giới
khách quan, phân tích thực tiễn, hiểu biết con người, hiểu biết về lịch sử, các vấn đề về văn
hoá - xã hội. Hệ thống kiến thức này không chỉ là kiến thức triết học, kiến thức pháp luật, là
đường lối, quan điểm của Đảng mà còn là những hiểu biết về các giá trị đạo đức nhân văn,
giá trị nghệ thuật, các quan niệm thẩm mỹ hiện đại, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc…một
lượng kiến thức phổ thông về chính trị - xã hội tương đối mới ở nước ta hiện nay mà cán bộ
quản lý giáo dục cần nắm chắc là:
* Chủ trương đổi mới của Đảng. Nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp
sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
* Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
* Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ thông tin;
* Chính sách mở cửa, hội nhập với khu vực và thế giới, xu thế toàn cầu hoá, việc Việt Nam
gia nhập tổ chức thương mại thế giới.
Nắm vững các đặc điểm trên là yêu cầu của sự phát triển đội ngũ. Do nhiều nguyên nhân
khác nhau, lượng kiến thức mang tính chuyển đổi và cập nhật trên chưa thấm nhuần trong
đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục.
+ Kiến thức nghiệp vụ sư phạm: là kiến thức tâm lý học, giáo dục học, phương pháp
giảng dạy bộ môn, phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh…
Người Hiệu trưởng phải có những hiểu biết sâu về nghiệp vụ sư phạm, thể hiện là
nhà giáo, nhà sư phạm mẫu mực.
+ Kiến thức về nghiệp vụ quản lý giáo dục, quản lý nhà nước. Bao gồm kiến thức lý
luận đại cương về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý hành chính nhà nước, đặc biệt là những
hiểu biết về mục tiêu, chức năng, phương pháp quản lý giáo dục Vốn kiến thức có tính
chất cẩm nang nghề nghiệp về quản lý, giúp cho họ tổ chức điều hành bộ máy một cách
khoa học, đúng pháp luật và có hiệu quả theo chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Mặc dù kiến thức là cơ sở cho hoạt động quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý, song
bản thân kiến thức cũng không thể mang lại kết quả mong muốn nếu như người cán bộ quản
lý không nắm được các kỹ năng cần thiết.
- Về kỹ năng:
Kỹ năng thông tin để đáp ứng yêu cầu đổi mới GD nhà trường ngày càng được trang bị các
phương tiện kỹ thuật hiện đại. Việc sử dụng thành thạo máy tính điện tử, các phương tiện
đèn chiếu là yêu cầu gần như bắt buộc đối với người quản lý. Kỹ năng thông tin thành thạo
giúp cho hoạt động quản lý mang tính khoa học, chính xác, kịp thời.
- Về thái độ:
Hiệu quả hoạt động quản lý không chỉ phụ thuộc vào kiến thức kỹ năng mà còn phụ
thuộc vào giá trị niềm tin, sự trung thành, sự tận tuỵ, ý thức tự giác của người cán bộ quản
lý với công việc, với mọi người thái độ là sự thể hiện của đức độ và tài năng. Thái độ phải
có một thời gian dài mới được hình thành và củng cố.
Thái độ còn thể hiện ở khả năng thích ứng, khả năng hoà đồng, khả năng tập hợp
quần chúng và ý thức tôn trọng đồng nghiệp, học sinh. Thái độ đòi hỏi ở người quản lý ý
thức tự điều chỉnh tự bồi dưỡng rất nhiều. Bởi vì, theo từng giai đoạn phát triển xã hội, các
kiến thức, kỹ năng và giá trị cũng thay đổi, cập nhật theo năm tháng. Cũng giống như kiến
thức và kỹ năng, thái độ phải được trau dồi và bồi dưỡng thường xuyên góp phần tạo tiềm
năng và uy tín cán bộ quản lý.
Kiến thức, kỹ năng, thái độ - các thành tố tạo nên năng lực, phẩm chất người cán bộ
quản lý, đồng thời cũng là điều kiện đem lại hiệu quả cho quản lý. Các yếu tố trên cần được
quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và rèn luyện, đó là xu thế phát triển về chất lượng cho từng cán
bộ quản lý.
1.3.3. Vấn đề phát triển đội ngũ quản lý giáo dục trường trung học phổ thông
1.3.3.1. Quan niệm về đội ngũ cán bộ quản lý
Có nhiều quan niệm và cách hiểu khác nhau về đội ngũ, theo Từ điển Tiếng việt xuất
bản năm 2004, đội ngũ là tập hợp một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp,
thành một lực lượng, ví dụ như: Đội ngũ nhà giáo, đội ngũ những người viết văn trẻ…[40,
tr.339].
Theo yêu cầu của sự phát triển xã hội thì “Quản ký là một nghề” [17, tr.4]. Những người
đảm nhiệm công tác: quản lý giáo dục được tập hợp thành “ đội ngũ quản lý giáo dục giáo
dục”.
Đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông bao gồm: Hiệu trưởng và Phó
Dưới góc độ đổi mới quản lý giáo dục có thể hiểu một cách cụ thể hơn: phát triển
đội ngũ cán bộ quản lý là các chính sách, chương trình và biện pháp của các cấp quản lý
giáo dục và cá nhân cán bộ quản lý nhằm tăng cường về số lượng, chất lượng và cơ cấu để
họ có thể đáp ứng tốt hơn các yêu cầu quản lý trong tiến trình đổi mới giáo dục hiện nay.
b) Nội dung phát triển đội ngũ cán bộ quản lý
Thời đại ngày nay là thời đại khoa học kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông
tin với nền kinh tế tri thức, đã dẫn đến xu hướng toàn cầu hoá. Xu hướng này đòi hỏi phải
thay đổi nhiều lĩnhc vực. Đối với giáo dục đổi mới và phát triển đội ngũ nhà giáo và đội ngũ
cán bộ quản lý giáo dục là một yếu tố cần thiết cho việc đảm bảo chất lượng giáo dục trong
thời gian tới.
Chiến lược phát triển giáo dục năm 2001-2010 chỉ rõ: “phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo
đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng nhu cầu vừa tăng cao quy
mô vừa tăng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục " [6, tr.30].
Đề án xây dựng và nâng cao chất lượng phát triển đội ngũ ngà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
giai đoạn 2005- 2010 của Chính phủ khẳng định: "Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ cán bộ
quản lý theo hướng chuẩn hoá, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ
cấu", đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức lối sống, lương tâm
nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự
nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Như vậy, nội dung công tác phát triển đội ngũ cán bộ quản lý liên quan đến quy mô, cơ cấu
chất lượng của độ ngũ cán bộ quản lý [8, tr.1].
- Quy mô:
Quy mô thể hiện bằng số lượng. Mục tiêu phát triển của đội ngũ quản lý về quy mô là đảm bảo
đủ số lượng cán bộ quản lý theo định biên của Nhà nước.
- Cơ cấu:
Thể hiện độ tuổi giới tính, dân tộc, bộ môn chuyên môn, thâm niên quản lý, vùng miền…
mục tiêu của phát triển cơ cấu đội ngũ quản lý là tạo ra sự hợp lý.