Bình đẳng đối với nữ giới ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp - Pdf 13

1 TRƯNG ĐI HC CN THƠ
VIN NGHIÊN CU PHT TRIN ĐBSCL

TIU LUẬN
BÌNH ĐẲNG ĐỐI VỚI NỮ GIỚI Ở VIT NAM
THỰC TRNG VÀ GIẢI PHÁP
GIẢNG VIÊN HC VIÊN
TS. Nguyễn Quang Tuyến Hồ Vũ Linh Đan
MSHV: M2413001
Phát triển nông thôn khóa
20
CN THƠ – 2013
i

DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Tỷ lệ nghề nghiệp của lao động nữ so với tổng số lao động 15

2.1. Giới thiệu sơ lược 3
2.1.1. Giới và bình đẳng giới 3
2.1.2. Bất bình đẳng giới 4
2.1.3. Nguồn gốc của bất bình đẳng giới 5
2.1.4. Rào cản trong việc nâng cao vị thế và vai trò của phụ nữ 8
2.2. Thực trạng 9
2.2.1. Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị 9
2.2.2. Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế 11
2.2.3. Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động 13
2.2.4. Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục vào đào tạo 14
2.2.5. Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ 16
2.2.6. Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao 17
2.2.7. Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế 19
2.2.8. Bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình 22
2.3. Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới 26
3. KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28

1

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trên toàn thế giới, nữ giới đóng vai trò then chốt trong gia đình về khả năng sản xuất
và tái sản xuất. Họ chiếm trên 50% trong tổng số lao động; số giờ lao động của họ
chiếm 2/3 tổng giờ lao động của xã hội và sản xuất ra 1/2 trong tổng sản lượng nông
nghiệp. Cùng với việc đảm nhiệm nhiều công việc khác nhau, lao động nữ chiếm tỷ lệ
ngày càng cao trong các ngành công nghiệp, dịch vụ với trình độ không ngừng được
nâng cao. Theo kết quả của nhiều công trình nghiên cứu: Phụ nữ là người tạo ra phần
lớn lương thực tiêu dùng cho gia đình, 1/4 số hộ gia đình trên thế giới do nữ làm chủ
hộ và nhiều hộ gia đình khác phải phụ thuộc vào thu nhập của lao động nữ (UNDP,
1996).

Trong thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp tích cực của các tầng lớp
phụ nữ Việt Nam. Là một lực lượng lao động xã hội đông đảo, phụ nữ Việt Nam
đã tỏ rõ vai trò, khả năng, sức sáng tạo của mình trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội, thích ứng với sự hội nhập và phát triển theo xu thế chung của nhân loại
(Lê Thi, 2000).
Tháng 11/2006, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua
Luật Bình đẳng giới. Sự ra đời của Luật này thể hiện rõ sự cam kết của Việt Nam
trong thúc đẩy bình đẳng giới và coi đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Các cơ quan của Đảng, Quốc hội,
các Bộ, ngành chủ chốt và các tổ chức đoàn thể, xã hội ở tất cả các cấp đều đóng vai
trò quan trọng trong thực hiện, giám sát, đánh giá, báo cáo về việc triển khai thực hiện
Luật này (Ban Quản lý Dự án Ô Chương trình chung về Bình đẳng giới giữa Chính
phủ Việt Nam và Liên hợp quốc, 2009).
Sau khi Luật Bình đẳng giới được triển khai thi hành, Việt Nam đã có rất nhiều nỗ lực
trong việc thực hiện chính sách, mục tiêu bình đẳng giới và phát triển quyền con
người. Kết quả của các nỗ lực này đã được cộng đồng quốc tế nhìn nhận Việt Nam
như một “điểm sáng” về việc thực hiện bình đẳng giới, nâng cao quyền con người,
xóa đói giảm nghèo (Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội khóa XII, 2009).
Theo Võ Văn Dũng (2013), chỉ số quyền năng giới (GEM) của Việt Nam đạt 0,554,
đứng thứ 62/109 nước, thuộc nhóm nước có sự phát triển trung bình về giới. Nói
chung, Việt Nam đạt được nhiều tiến bộ về bình đẳng giới. Việt Nam được xếp hạng
thứ 42/128 quốc gia về thực hiện bình đẳng giới, tuy nhiên lại đứng thứ 103 về cơ hội
học tập và thứ 91 về sức khỏe và an sinh.
Vấn đề giới nói chung và vấn đề giới trong gia đình ở Việt Nam vẫn cần nhiều sự quan
tâm cả ở khu vực thành thị và nông thôn. Ở khu vực nông thôn, nhận thức về giới còn
kém và bất bình đẳng về giới còn tồn tại nhiều hơn do ảnh hưởng của tư tưởng nho
giáo và những định kiến giới, những hủ tục lạc hậu, những tàn dư phong kiến, thể hiện
rất rõ đó là tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn rất nặng nề trong gia đình - tế bào
của xã hội và trong suy nghĩ của nhiều người. Bà Rose Marie Greve, Giám đốc Tổ
3

vị trí, vai trò và năng lực của nam hoặc nữ.
4

 Phân biệt đối xử về giới: là việc hạn chế, loại trừ, không công nhận hoặc không
coi trọng vai trò, vị trí của nam và nữ, gây bất bình đẳng giữa nam và nữ trong các lĩnh
vực của đời sống xã hội và gia đình.
Các nguyên tắc cơ bản về bình đẳng giới:
 Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
 Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.
 Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
 Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
 Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật.
 Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân.
Từ Điều 11 đến Điều 18 trong Chương II của Luật quy định chi tiết về bình đẳng giới
trong các lĩnh vực của đời sống xã hội (chính trị; kinh tế; lao động; giáo dục và đào
tạo; khoa học và công nghệ; văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế) và trong gia
đình.
2.1.2. Bất bình đẳng giới
Điều 10 Chương I của Luật Bình đẳng giới quy định các hành vị bị nghiêm cấm:
 Cản trở nam, nữ thực hiện bình đẳng giới.
 Phân biệt đối xử về giới dưới mọi hình thức.
 Bạo lực trên cơ sở giới.
Điều 40 Chương V của Luật này cũng quy định rõ các hành vi vi phạm pháp luật về
bình đẳng giới thuộc các lĩnh vực được nêu từ Điều 11 – 18 trong Chương II.
Bất bình đẳng giới mang nhiều dạng thức khác nhau tùy thuộc vào cấu trúc kinh tế và
sự tổ chức của một xã hội đặc thù cũng như văn hóa của bất kỳ nhóm đặc thù nào bên
trong xã hội đó. Mặc dù chúng ta thường nói về bất bình đẳng giới nhưng thường là nữ
giới bị kém thế hơn so với nam giới (Hồ Liễu 2013, tài liệu dịch từ Judith Lorber,
2005).
 Nữ giới thường nhận được tiền lương thấp hơn và thường bị ngăn chặn cơ may

Đinh Hồng Phúc (2013) trích dịch từ sách Lý thuyết nhân loại học của R.John McGee,
Richard L.Warms, xuất bản năm 2010. Theo đó, nguồn gốc của bất bình đẳng giới
được trình bày rõ trong quan điểm Macxit nữ quyền của Eleannor Leacock (1922 –
1987). Có thể giải thích nguồn gốc của điều này dựa trên Chủ nghĩa cộng sản nguyên
thủy, gạt bỏ các luận điểm máy móc cho rằng tình trạng phụ thuộc của nữ giới là một
hiện tượng tự nhiên chứ không phải là một hiện tượng lịch sử.
6


Về lịch sự: quan hệ giới chịu sự tác động của lịch sử đặc thù trong quá trình thực
dân hóa
+ Trong gia đình, nữ giới dần trở nên lệ thuộc vào kinh tế nên uy thế của nam
giới được mở rộng. Nhà nghiên cứu lịch sử pháp quyền Reid khi tổng hợp tư liệu về sự
bình đẳng toàn xã hội của người phụ nữ Cherokee qua các bản báo cáo thuộc địa đã
viết:
Sự suy giảm hoạt động săn bắt và thừa nhận lối sống Mỹ trong thế kỷ 19,
cùng với sự thay thế các hàng hóa sản xuất tại nhà máy bằng các hàng hóa
sản xuất tại nhà đã giải phóng phụ nữ Cherokee khỏi lao động ngoài trời,
họ đảm đương công việc trong nhà còn các ông chồng thì làm việc ngoài
trời, nhưng nó cũng tước mất ở họ sự độc lập về kinh tế, khiến họ ngày càng
giống với những chị em da trắng của mình hơn.
+ Khi trình bày về thị tộc Iroquois, mặc dù có xét đến các quyền ra quyết định
của nữ giới nhưng Morgan nói rằng: những người đàn ông coi phụ nữ là những người
“thấp kém, phụ thuộc và tôi tớ của đàn ông” và phụ nữ thực sự phải xem mình là như
thế.
+ Sự thay đổi trong quan hệ giữa vai trò kinh tế và quyền ra quyết định của
những người phụ nữ ở thị tộc Iroquois và thị tộc Huron được bàn một cách cụ thể hơn
trong công trình khảo về tộc người Wyandot của Powell. Theo đó, chiến tranh là trách
nhiệm của nam giới, họ thành lập “hội đồng quân sự”. Các điều khoản đàm phán quân
sự không thể hiện cơ cấu hình thức quyền lực của nữ giới; hiểm họa xâm lăng tăng lên

nơi khác trên thế giới vào lúc người châu Âu tiến hành khai khác và chinh phục thuộc
địa và nó cũng phát triển ở những nơi còn lại trong bối cảnh chủ nghĩa thực dân và chủ
nghĩa đế quốc phương Tây.
+ Các trách nhiệm đối với việc tiếp thị và trao đổi của giới thay đổi tùy theo
những hoàn cảnh khác nhau và lịch sử khác nhau đã thực hiện sự phân công lao động
theo giới, vị trí trong cơ cấu ra quyết định của phụ nữ. Ngoài những lập luận khác
nhau về tính ưu việt của nam giới thì còn những hạn chế tự nhiên của sự sinh nở và
cho con bú.
+ Ở một số nơi trên thế giới, sự kiểm soát giới tính phụ nữ được đặc biệt coi
trọng quyết định trong nội bộ giai cấp mặc dù nó đã phổ biến trong xã hội. Sự thật là
công việc nội trợ có thể tách khỏi khu vực công và có thể phụ nữ phải gánh vác công
việc đó mà không được trả công, nói cách khác là lao động nô lệ. Nữ giới chuyển dần
sang vị trí người phục dịch trong gia đình nhà chồng hay trong các nhóm thân tộc của
họ. Của hồi môn của cô dâu bắt đầu mang hình thức mua con cái do người phụ nữ ấy
đẻ ra chứ không phải hình thức trao đổi quà tặng.
 Thay đổi về địa vị nữ giới không phải là hiện tượng thứ yếu như một số người
hiểu nhầm, cũng không phải là các có trước so với hệ thống cấp bậc kinh tế như một
số người quan niệm mà chúng là phần cốt lõi, không thể tách rời của những chuyển
biến sâu sắc đang diễn ra cùng với sự phát triển trao đổi và phân công lao động.
8

2.1.4. Rào cản trong việc nâng cao vị thế và vai trò của nữ giới
Theo Trung tâm Nghiên cứu khoa học về phụ nữ (1991), phụ nữ có vai trò đặc biệt
quan trọng trong sự phát triển của nhân loại. Song, có nhiều nguyên nhân gây cản trở
sự tiến bộ của họ trong cuộc sống. Các yếu tố khách quan và chủ quan đã tác động
không tốt khiến cho nữ giới đặc biệt là nữ giới ở nông thôn bị lâm vào vòng luẩn quẩn
của sự nghèo đói và bất bình đẳng.
Quan niệm về giới, những phong tục tập quán ở Việt Nam và một số nước Á Đông:
nữ giới trước hết phải lo việc gia đình, con cái, dù làm bất kỳ công việc gì, việc nội trợ
vẫn là trách nhiệm của họ. Sự tồn tại những hủ tục lạc hậu, trọng nam khinh nữ đã

chủ quan do chính nữ giới gây ra. Đó chính là quan niệm lệch lạc về giới, ngay cả nữ
giới cũng có cái nhìn không đúng về những vấn đề đó. Họ cũng cho rằng, những công
việc nội trợ, chăm sóc gia đình, con cái…là việc của họ. Họ tỏ ra không hài lòng về
người đàn ông thạo việc bếp núc, nội trợ. Trong khi họ lên tiếng đòi quyền bình đẳng
thì họ vô tình ràng buộc thêm trách nhiệm cho mình. Vậy nên, toàn bộ công việc gia
đình, sản xuất càng đè nặng lên đôi vai phụ nữ khiến họ mệt mỏi cả về thể xác lẫn tinh
thần.
Phụ nữ Việt Nam với truyền thống “giỏi việc nước, đảm việc nhà” tiếp tục vượt qua
mọi thành kiến và thử thách, vươn lên đóng góp tích cực vào các hoạt động xã hội, duy
trì ảnh hưởng rộng rãi vai trò của mình trên nhiều lĩnh vực như: tham gia quản lý nhà
nước; tham gia xóa đói giảm nghèo; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh
phúc; tham gia phòng chống tệ nạn xã hội; thúc đẩy hoạt động đối ngoại nhân dân…
Có thể nói, vai trò của phụ nữ Việt Nam được thể hiện ngày càng sâu sắc và có những
đóng góp quan trọng trong thành tựu của cách mạng Việt Nam (Đào Duy Anh, 1992).
2.2. Thực trạng
Bình đẳng giới là vấn đề được Đảng, Nhà nước và toàn dân quan tâm sâu sát trong
suốt thời gian qua. Do đó, kết quả thi hành Luật cũng như thực trạng về bình đẳng giới
phần nào đã được đánh giá và đề cập trước đây như: Báo cáo Kết quả giám sát tình
hình thực hiện bình đẳng giới và việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới của Ủy
ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội khóa XII (2009), Tài liệu tập huấn về thực hiện
bình đẳng giới của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành năm 2009, Dự
thảo Báo cáo việc thực hiện các mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2011 của
Chính phủ, các số liệu từ Tổng cục Thống kê qua các năm, Có thể khái quát thực
trạng bình đẳng giới trong thời gian qua như sau:
2.2.1. Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị
Bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực chính trị, đặc biệt trong quá trình ra quyết
định và hoạch định chính sách có ý nghĩa lớn lao đối với việc thúc đẩy bình đẳng giới
trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Việc tăng cường tiếng nói của phụ nữ trên
chính trường và trong đời sống xã hội có thể làm tăng ảnh hưởng của các chính sách,
10

11

Sự gia tăng của tỷ lệ đại biểu nữ
trong Hội đồng Nhân dân ở cấp xã,
cũng như trong tỷ lệ nữ ở các cương
vị Chủ tịch và Phó Chủ tịch xã cho
thấy đã có những cải thiện trong việc
tham gia của phụ nữ “trong xây dựng
và thực hiện hương ước, quy ước của
cộng đồng”. Song cũng cần đặc biệt
quan tâm đến những yếu tố khiến sự
có mặt của phụ nữ trong các vị trí
lãnh đạo còn thấp liên quan đến trình
độ văn hóa và chuyên môn của họ.
Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII (2007-2011), trình độ của nữ đại biểu Quốc hội
ngày càng được nâng lên: tỷ lệ nữ đại biểu có trình độ đại học và trên đại học chiếm
91,4%, số nữ đại biểu trẻ dưới 40 tuổi chiếm 38,6% và nữ đại biểu là người dân tộc
thiểu số chiếm một phần không nhỏ (32,3%) trong tổng số nữ đại biểu Quốc hội. Vai
trò của phụ nữ ngày càng được phát huy, trong điều kiện đa số là đại biểu mới (77,2%
tham gia lần đầu) và kiêm nhiệm, mặc dù vừa phải đảm nhiệm vai trò là người đại biểu
của nhân dân, vừa gánh vác công việc chuyên môn trong các cơ quan, tổ chức của
mình nhưng các nữ đại biểu đã có nhiều nỗ lực trong việc tham gia vào các hoạt động
lập pháp, giám sát, cũng như tham gia các hoạt động khác của Quốc hội một cách có
hiệu quả.
 Để tăng cường sự tham gia của phụ nữ trong bộ máy lãnh đạo và ra quyết định
cần có sự thay đổi thái độ, chuẩn mực và hành vi, cải cách thể chế và có sự hậu thuẫn
mạnh mẽ của cả hệ thống chính trị.
2.2.2. Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nữ tham gia hoạt động kinh tế ở mức cao
(83% so với nam giới 85%). Phụ nữ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong toàn bộ

Khoa học và Xã hội Việt Nam, 2005), khi phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào sản
xuất kinh doanh thì sự tham gia của nam giới vào công việc nội trợ lại không tăng lên
một cách tương xứng. Nói cách khác, sự chia sẻ từ phía phụ nữ trong công việc sản
xuất kinh doanh không đi liền với sự chia sẻ từ phía nam giới trong công việc nội trợ
gia đình. Một phát hiện nữa là tiếng nói còn có phần hạn chế của phụ nữ trong việc ra
quyết định đối với công việc sản xuất kinh doanh. Trong gia đình phụ nữ thường quyết
định nhiều hơn về những vấn đề thai sản, còn nam giới nhiều hơn về các vấn đề sản
xuất kinh doanh. Do là những người đảm nhận chủ yếu công việc nội trợ nên phụ nữ
khó có thể được đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực, tiếp cận thông tin, nâng cao khả
năng cạnh tranh với tư cách là người lao động, đặc biệt với tư cách là người sản xuất,
kinh doanh. Hiện nay, so với nam giới, phụ nữ đang được đầu tư quá thấp về thời gian
13

để nâng cao trình độ, để học hỏi, giao tiếp và tích luỹ kinh nghiệm (Trần Thị Vân Anh
và ctg, 2008).
 Việc tạo ra một khung pháp lý toàn diện về chính sách trợ giúp đối với các
doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ hoặc điều hành vô cùng cần thiết để đạt được bình
đẳng giới thực chất trong lĩnh vực kinh tế.
2.2.3. Bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động
Khoản 1 Điều 5 của Bộ luật Lao động quy định “mọi người đều có quyền làm việc, tự
do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp,
không bị phân biệt đối xử về giới tính”. Việc làm là một trong những nhu cầu quan
trọng của con người và là quá trình phát triển toàn diện của mỗi cá nhân. Đồng thời,
việc làm là điều kiện để mỗi người tự nuôi sống bản thân và góp phần tạo ra của cải
vật chất và tinh thần cho xã hội. Cùng với tiến trình đổi mới và phát triển kinh tế, cơ
hội việc làm đã ngày càng mở rộng đối với người lao động. Tuy nhiên, cơ hội việc làm
không phải như nhau đối với nam giới và phụ nữ.
Bảng 1. Tỷ lệ nghề nghiệp của lao động nữ so với tổng số lao động (%)
Tỷ lệ nghề nghiệp lao động nữ
Lao động nữ


14 Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009 đã cho thấy nam giới và nữ giới tập
trung ở những nhóm công việc khác nhau. Nữ giới tập trung nhiều trong những nhóm
ngành dịch vụ, công nghiệp nhẹ và công việc làm thuê cho các hộ gia đình không đòi
hỏi nhiều về trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, trong khi nam giới tập trung nhiều hơn
trong các nhóm ngành công nghiệp nặng, quản lý lãnh đạo, lực lượng vũ trang và
những công việc đòi hỏi có trình độ chuyên môn kỹ thuật. Những số liệu thống kê cho
thấy tỷ lệ phụ nữ có việc làm mang lại thu nhập ổn định thấp hơn nam giới và sẽ phải
phụ thuộc vào thu nhập của người khác. Cơ cấu lao động của nữ và nam theo các
nhóm ngành nghề nêu ở trên cũng tạo ra nhiều ưu thế hơn đối với nam giới và nhiều
thách thức hơn đối với nữ giới. Tập trung đông hơn ở những nhóm ngành nghề được
đảm bảo ở mức độ cao hơn do không bị cạnh tranh (quản lý Nhà nước, an ninh quốc
phòng) hoặc năng lực cạnh tranh cao hơn (công nghiệp so với dịch vụ và hộ gia đình),
nam giới ít gặp nguy cơ mất việc làm hoặc việc làm bấp bênh so với phụ nữ.
 Cần triển khai việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ vì việc làm phụ
thuộc rất lớn vào học vấn và trình độ chuyên môn nghề nghiệp. Bên cạnh đó, cần đảm
bảo không có phân biệt đối xử trong công tác tuyển dụng lao động, đặc biệt vì những
nguyên cớ hôn nhân, trách nhiệm gia đình hoặc thai sản chống lại nữ giới.
2.2.4. Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục vào đào tạo
Giáo dục và đào tạo là những chính sách được ưu tiên đặc biệt ở Việt Nam. Chính phủ
đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục, đặc biệt
trong phân bổ ngân sách dành cho giáo dục.
15

Điều này thể hiện qua chi tiêu cho giáo dục tăng nhanh qua các năm: 16,6% năm 2002,
18% năm 2005 và 20% năm 2008 so với tổng ngân sách Nhà nước. Kết quả của những
ưu tiên này đã thu hẹp khoảng cách giới và việc đầu tư vào con người đã góp phần làm

0,687
89/146
2001
0,687
109/175
0,697
89/144
2002
0,691
112/177
0,689
87/144
2003
0,704
108/177
0,702
83/
2004
0,709
109/177
0,708
80/136
2005/2006
0,733
105/177
0,732
91/177
2007
0,725
116/182


16 Vấn đề đặt ra là khi so sánh với nam giới, trở ngại lớn nhất đối với nữ giới trong việc
nâng cao trình độ chuyên môn và nắm bắt cơ hội đào tạo lại chính ở việc thực hiện vai
trò giới truyền thống. Nếu chăm lo việc nhà và chăm sóc con cái không ảnh hưởng
đáng kể đến nam giới thì lại là vấn đề không nhỏ đối với nữ giới. Những trở ngại đối
với nữ giới trong việc tiếp cận các cơ hội đào tạo cũng sẽ hạn chế việc sử dụng hiệu
quả nguồn nhân lực ở tất cả các ngành, đặc biệt là ngành có đông lao động nữ.
 Cần thiết thực hiện những biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực
giáo dục và đào tạo, nhất làhỗ trợ dạy nghề cho lao động nữ khu vực nông thôn.
2.2.5. Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, khoa học và công nghệ là lĩnh vực mà sự tham gia
của nữ giới gặp nhiều khó khăn và thách thức nhất. Mặc dù, nữ giới tham gia các hoạt
động khoa học và công nghệ tương đối cao, chiếm tới 42%, song số nữ có trình độ cao
chỉ bằng 1/3 số lượng nam. Số nữ trí thức có trình độ đại học và trên đại học, học vị và
uy tín khoa học rất ít.
Bảng 3. Tỷ lệ nam, nữ giữ các chức danh, học vị khoa học
Chức danh
1999
2004
2006
Nữ
Nam
Nữ
Nam
Nữ
Nam
Thạc sĩ

từ 15 tuổi trở lên có trình
độ từ đại học trở lên cao
hơn nhiều so với khu vực
nông thôn. Đặc biệt, dân
số nam ở thành thị có
trình độ chuyên môn kỹ
thuật cao hơn nhiều so
với dân số nữ ở cả thành
thị và nông thôn. Phụ nữ
ở nông thôn là nhóm dân
số thua thiệt hơn so với các nhóm khác cả về trình độ học vấn và trình độ chuyên môn
kỹ thuật cao nhất đạt được. Chỉ có 1,2% dân số nữ ở nông thôn có trình độ đại học và
1,4% có trình độ cao đẳng.
Có thể thấy sự tham gia của nữ giới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ phụ thuộc
rất nhiều vào trình độ học vấn của họ. Bên cạnh đó, do vai trò giới, nữ giới còn có
nhiều khó khăn hơn nam giới, vì ở độ tuổi từ 22-35 là độ thực hiện chức năng sinh đẻ,
chăm sóc con cái. Vai trò giới này, nếu không được hỗ trợ của chính sách sẽ hạn chế
rất nhiều đến khả năng học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn của nữ giới.
 Cần thay đổi nhận thức sai lệch về vai trò giới trong nghề nghiệp; có chính sách
thoả đáng để huy động sự tham gia của nữ giới vào các lĩnh vực khoa học - công
nghệ; tạo điều kiện cần thiết, bình đẳng giới trong nghiên cứu khoa học.
2.2.6. Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao
Trong cuộc sống, con người cần và có khả năng kết hợp hài hòa giữa công việc và
nghỉ ngơi, giữa hoạt động kinh tế với hoạt động văn hóa – tinh thần trong thời gian rỗi.
Ngày nay, các phương tiện và điều kiện giải trí về văn hóa – tinh thần phát triển mạnh
mẽ đã tạo điều kiện cho việc đáp ứng nhu cầu của mỗi thành viên xã hội ngày một tốt
hơn. Thông qua quá trình tiếp cận các phương tiện và hình thức giải trí, đặc biệt là qua
các thông điệp truyền thông, các khuôn mẫu và giá trị giới cũng được phổ biến và tác
động đến nhận thức, hành vi của người tham gia, dù là nữ giới hay nam giới.
Sự tham gia của nữ giới và nam giới trong các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục,

thiểu số qua các chương trình hỗ trợ, đầu tư kinh phí để xây dựng nhà văn hoá để nhân
dân tiện sinh hoạt cộng đồng. Các chương trình phát thanh và truyền hình về bình đẳng
giới đã được thực hiện bằng cả tiếng việt và tiếng dân tộc đã giúp đồng bảo dân tộc
thiểu số hiểu rõ hơn các chính sách ưu việt của Đảng và Nhà nước ta về bình đẳng
giới.
Các cơ quan thông tấn báo chí đã quan tâm thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới thông
qua việc tổ chức các lớp tập huấn kiến thức giới cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên.
19

Mạng lưới cán bộ truyền thông về bình đẳng giới được duy trì, tiếp tục là kênh thông
tin quan trọng giữa cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới với các cơ quan thông
tấn báo chí. Nhờ có các hoạt động này, các sản phẩm văn hoá, thông tin mang định
kiến giới đã từng bước giảm dần so với trước đây.
2.2.7. Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, lĩnh vực y tế đã có những thay đổi đáng kể và
nhiều chính sách y tế đã được ban hành nhằm tăng cường và củng cố tuyến y tế cơ sở
và đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng cao của người dân. Những chính
sách này đã tạo điều kiện cho mọi người dân cả nam giới và nữ giới, trẻ em trai và trẻ
em gái có thể dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ y tế.
Tuy nhiên, mặc dù chưa có nhiều số liệu thống kê trong lĩnh vực y tế được tách biệt
theo giới tính, thực tiễn vẫn cho thấy có sự chênh lệch đáng kể giữa người giàu và
người nghèo trong sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Vì vậy, trong các gia đình
nghèo, nữ giới ít được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe do khả năng chi tiêu
hạn hẹp và nếu phải cắt giảm thì nữ giới thường lựa chọn cắt giảm chăm sóc y tế của
mình để dành cho các thành viên khác trong gia đình. Bên cạnh đó, còn tồn tại những
vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản, sử dụng và tiếp cận dịch vụ y tế của phụ nữ,
đặc biệt ở vùng sâu và xa. Theo Kết quả giám sát tình hình thực hiện bình đẳng giới và
việc triển khai thi hành Luật Bình đẳng giới của Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc
hội khóa XII ngày 11/05/2009:


85.0
2005
80
2006
75.1
2007
75.0
2008
75.0
2009
69.0
2010
68.0
Nguồn: Niêm giám thống kê y tế qua các năm

Bảng 5. Tỷ lệ phá thai và hút điều hoà kinh nguyệt (%), 2007-2011

2007
2008
2010
201
1

Việt Nam

0,7

1,0

0,79

1,25

0,89

ĐB Sông Hồng

1,3

1,9

1,11

0,98

Bắc Trung bộ và DH miền Trung

0,3

0,4

0,51

0,39

Tây Nguyên

0,1

0,3



Bảng 6. Chăm sóc sức khoẻ sinh sản, 2005- 2009
Nguồn: Bộ Y tế, Niêm giám thống kê y tế, 2006, 2007, 2009 2005
2006
2007
2008

Số lần khám phụ khoa

11 274
694

11 464
896

11 346
545

11 683 971

Số người chữa phụ khoa

4 647 578

5 000 927

4 862 350


98 948

Tỷ lệ (%) nạo, hút thai

34,91

33,40

32,00

29,00
Theo số liệu Điều tra Đánh giá các Mục tiêu Trẻ em và Phụ nữ 2011 của Tổng cục
Thống kê, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc và Quỹ Dân số Liên hợp quốc:
+ Tỷ lệ phụ nữ sinh con trong vòng 2 năm trước thời điểm điều tra được khám
thai
* Ít nhất 1 lần bởi cán bộ chuyên môn y tế: 93,7%
* Ít nhất 4 lần bởi cán bộ y tế: 59,6%
+ Tỷ lệ phụ nữ mang thai được đo huyết áp, xét nghiệm nước tiểu và xét
nghiệm máu trước khi sinh: 42,5%
+ Tỷ lệ phụ nữ sinh con trong vòng 2 năm trước thời điểm điều tra được đỡ đẻ
bởi cán bộ y tế có chuyên môn: 92,9%
+ Tỷ lệ phụ nữ sinh con trong vòng 2 năm trước thời điểm điều tra sinh con tại
cơ sở y tế: 92,4%

Chỉ tiêu 5: tỷ lệ phụ nữ mang thai bị nhiễm HIV/AIDS. Theo báo cáo của ngành y
tế, năm 2006, cả nước có 26,9 nghìn người nhiễm; năm 2007 có 20,7 nghìn người
nhiễm. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ bị lây nhiễm HIV lại có xu hướng tăng lên qua các
năm. Năm 2006, tỷ lệ nữ nhiễm HIV chiếm 20,2%; năm 2007 chiếm 23,5% trong tổng
số người bị nhiễm. Tỷ lệ phụ nữ mang thai trong toàn quốc bị nhiễm HIV lại có xu

giới là người trụ cột, quyết định chính trong gia đình và đóng vai trò chính trong các
quan hệ xã hội bên ngoài gia đình.
Thời gian làm việc của nữ giới thường dài hơn nam giới: Mặc dù, pháp luật quy định
trong gia đình, vợ chồng đều bình đẳng với nhau về mọi mặt, cùng nhau bàn bạc,
quyết định mọi vấn đề chung, cùng chia sẻ mọi công việc cũng như chăm lo cho con
cái, cha mẹ, nhưng trên thực tế, nam giới vẫn được coi là trụ cột gia đình, có quyền
quyết định các vấn đề lớn và là người đại diện ngoài cộng đồng. Còn các công việc

Trích đoạn Giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status