Mô hình tập đoàn kinh tế Việt Nam - Hiện trạng và xu hướng phát triển trong thời gian tới - Pdf 13



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI


KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN KINH TẾ VIỆT NAM - HIỆN
TRẠNG VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG
THỜI GIAN TỚI
Sinh viên thực hiện : Lê Quang Huy
Lớp : Pháp 1
Khóa : 44
Giáo viên hướng dẫn : PGS. TS. Phạm Duy Liên

Hà Nội, 5 - 2009

ĐOÀN, TỔNG CÔNG TY 91 46
1
2.4.2. MỐI QUAN HỆ NỘI BỘ 49
2.4.3. CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH 53
2.4.4. QUAN HỆ GIỮA CHỦ SỞ HỮU NHÀ NƢỚC VỚI CÁC TẬP
ĐOÀN KINH TẾ VÀ VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP. 53
2.5. ĐÁNH GIÁ CHUNG 56
2.5.1. NHỮNG KẾT QUẢ BAN ĐẦU HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
TẬP ĐOÀN KINH TẾ TỪ CÁC TỔNG CÔNG TY 91 56
2.5.2. MỘT SỐ HẠN CHẾ 58
2.5.3. NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ 62
CHƢƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN, NÂNG CAO
VAI TRÒ CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ 65
3.1. QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƢỚNG CHO VIỆC HÌNH THÀNH
TẬP ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỚI 65
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC TẬP
ĐOÀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 68
3.2.1. LỰA CHỌN CON ĐƢỜNG HÌNH THÀNH TẬP ĐOÀN KINH
TẾ 68
3.2.2. XÁC ĐỊNH ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TẬP ĐOÀN KINH TẾ 70
3.2.3. LỰA CHỌN MÔ HÌNH VÀ HOÀN THIỆN CẤU TRÚC NỘI BỘ
71
3.2.4. CƠ CẤU LẠI CÁC TỔNG CÔNG TY ĐƢỢC XÂY DỰNG
THEO MÔ HÌNH TẬP ĐOÀN VÀ TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CÁC TẬP
ĐOÀN ĐANG THÍ ĐIỂM 74
3.2.5. NHÓM GIẢI PHÁP NHẰM TẠO LẬP MÔI TRƢỜNG, ĐIỀU
KIỆN CHO CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN 81

đặc điểm là nền kinh tế thị trƣờng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã chọn cho
mình hƣớng đi là thiết lập các TĐKT của Nhà nƣớc - một dạng đặc biệt của
mô hình TĐKT - thông qua quá trình cải cách toàn diện các doanh nghiệp
Nhà nƣớc (DNNN). Tuy nhiên ngay cả khi các tập đoàn thí điểm đã đi vào
hoạt động, giới nghiên cứu và những ngƣời làm thực tiễn vẫn còn nhiều ý
kiến khác nhau về nhiều nội dung xung quanh mô hình này. Tại kỳ họp thứ
hai, Quốc hội khoá XII (tháng 10/2007), lần đầu tiên Quốc hội lên tiếng về
“phong trào” thành lập TĐKT cho thấy tầm quan trọng cũng nhƣ những khó
khăn, phức tạp của vấn đề này.
Nhƣ vậy hình thành và phát triển các TĐKT ở Việt Nam là yêu cầu
xuất phát từ thực tiễn, đồng thời cả lý luận và thực tiễn đang đặt ra những vấn
đề cần tiếp tục nghiên cứu, giải quyết. Nhằm đem lại một cái nhìn tổng quát
về quá trình hình thành, hiện trạng cũng nhƣ xu hƣớng phát triển mô hình này
ở Việt Nam, em chọn đề tài “ Mô hình tập đoàn kinh tế Việt Nam - Hiện
trạng và xu hƣớng phát triển trong thời gian tới” làm khoá luận tốt nghiệp
của mình.

4

2. Tình hình nghiên cứu
Đã có nhiều công trình trong và ngoài nƣớc nghiên cứu vấn đề này. Các
công trình nghiên cứu nƣớc ngoài tập trung vào lý giải những nội dung về xây
dựng và phát triển các TĐKT theo dạng đƣa ra các mô hình lý thuyết. Những
tài liệu thực tiễn thƣờng là những bản báo cáo thƣờng niên của các TĐ riêng
lẻ. Hơn nữa, các tác giả thƣờng căn cứ vào thực tiễn các TĐ ở nƣớc họ để
tổng kết luận giải. Điển hình là các công trình sau: cuốn sách Bàn về cải cách
toàn diện DNNN của tác giả Trƣơng Văn Bân (1999), NXB Chính trị Quốc

nhiều khía cạnh với nhiều cách thức tiếp cận nhƣng chƣa có công trình nào hệ
thống đầy đủ về sự hình thành và xu hƣớng phát triển các TĐKT đƣợc nhìn
nhận từ thực trạng hoạt động và sự vận động nội tại phù hợp với điều kiện
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Nhằm góp phần làm rõ một số nội dung lý luận và thực tiễn về TĐKT ,
đánh giá thực trạng hoạt động, các quan hệ nội tại, mối liên kết kinh tế trong
các TCT đƣợc thành lập theo quyết định 91/TTg ngày 7/3/94 của Thủ tƣớng
Chính phủ (gọi tắt là TCT 91); đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp để
góp phần thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển các TĐKT mạnh trên cơ
sở các TCTNN, trong đó trọng tâm là các TCT 91.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
*Đối tƣợng: Đối tƣợng của đề tài đƣợc xác định là những nội dung chủ
yếu liên quan đến sự hình thành, thực trạng và xu hƣớng phát triển các TĐKT
ở Việt Nam, bao gồm: con đƣờng, điều kiện hình thành, mô hình, cơ chế
chính sách, liên kết nội bộ, quan hệ sở hữu một số nội dung đƣợc đề cập
nhằm làm rõ mối quan hệ với những nội dung chủ yếu trong quá trình nghiên
cứu.
*Phạm vi: Phạm vi của đề tài là các TCT 91 (bao gồm cả các tập đoàn
đang thí điểm) trên những nội dung chủ yếu liên quan đến hình thành, thực
trạng và xu hƣớng phát triển trong thời gian tới. Các TCTNN đƣợc thành lập
theo Quyết định 90/TTg (gọi tắt là TCT 90) và các TCT thành lập sau này
đƣợc nghiên cứu, đề cập nhằm đảm bảo tính khoa học, logic của nội dung.
Về thời gian: Tính từ khi có chủ trƣơng hình thành các TĐKT ở Việt
Nam năm 1994, đƣợc đánh dấu bằng sự ra đời của Quyết định 91/TTg của
Chính phủ, trong đó trọng tâm đƣợc giới hạn trong khoảng thời gian từ năm
2001 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
của thầy cô và các bạn cùng quan tâm để đề tài đƣợc hoàn thiện hơn. Cuối
cùng em xin chân thành cảm ơn PGS.TS Phạm Duy Liên đã tận tình hƣớng
dẫn em hoàn thành khóa luận này.

7

CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TẬP ĐOÀN KINH TẾ

1.1. Khái niệm về tập đoàn kinh tế
Mặc dù xuất hiện từ những năm 50 của thế kỉ XX nhƣng khái niệm tập
đoàn kinh tế cho đến nay vẫn là nội dung gây nhiều tranh luận.
Xét từ góc độ pháp lý: Tập đoàn là tên gọi để chỉ một nhóm công ty kết
nối với nhau bằng vốn hay bằng quyền biểu quyết. Mỗi công ty trong tập
đoàn là một pháp nhân độc lập, tức là có quyền đi kiện và bị kiện, có tài sản
để đƣợc thực hiện quyền đó. Tập đoàn không phải là một khái niệm pháp lý vì
trong luật không có khái niệm trách nhiệm tập thể. Giả sử khởi tố một tập
đoàn ra toà thì sẽ không có ai trong nhóm công ty kia đứng ra nhận giấy triệu
tập [3, tr11-12].
Có thể khẳng định TĐKT không phải là thuật ngữ pháp lý mà chỉ là
thuật ngữ dùng để nhận diện một tổ hợp kinh doanh, vì chƣa có doanh nghiệp
nào đăng ký địa vị pháp lý của mình với tƣ cách là một tập đoàn. Hiện nay
cũng chƣa có một nghiên cứu chính thức những doanh nghiệp nào đƣợc coi là
TĐKT, tiêu chí chủ yếu là dựa vào đặc điểm của chúng. Cũng vì thế mà trên
thế giới hiện nay vẫn chƣa có số liệu thống kê hiện có bao nhiêu TĐKT. Bản
thân các nhà kinh tế trong nhiều trƣờng hợp xem xét một công ty có phải
TĐKT hay không cũng còn nhiều ý kiến chƣa thống nhất.
Trong một văn bản chung của Uỷ ban kinh tế và mậu dịch Nhà nƣớc và

nƣớc trong giai đoạn hiện nay [30].
Theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì tập đoàn kinh tế đƣợc
xếp là một thành phần trong nhóm công ty, cụ thể nhƣ sau:
"Nhóm công ty là tập hợp các công ty có mối quan hệ gắn bó lâu dài
với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ thị trƣờng và các dịch vụ kinh doanh
khác. Nhóm công ty bao gồm các hình thức: Công ty mẹ - công ty con. Tập
đoàn kinh tế. Các hình thức khác." [24, tr.218]
Nhƣ vậy, mặc dù chƣa có một định nghĩa thống nhất về tập đoàn kinh
tế nhƣng tựu chung lại có thể thấy TĐKT là một hình thức tổ chức chứa đựng
trong nó những pháp nhân độc lập. Theo quy định pháp lý của nhiều quốc gia
và xuất phát từ khái niệm có thể thấy, bản thân TĐKT không có tƣ cách pháp
nhân mà chỉ là một thuật ngữ, một khái niệm dùng để nhận diện một mô hình
kinh doanh chứa đựng trong đó các pháp nhân độc lập có mối quan hệ, liên
kết đa dạng.
Trong các mối quan hệ giữa các thành viên trong tập đoàn, quan hệ sở
hữu đầu tƣ vốn là chủ yếu. Tuy vậy, quan hệ chi phối trong tập đoàn không
9
chỉ giới hạn ở vốn mà còn bao hàm cả công nghệ, thị trƣờng, thƣơng
hiệu Ngoài các quan hệ này, các thành viên còn quan hệ với nhau trên cơ sở
hợp đồng, về thị trƣờng, về khoa học công nghệ Liên kết công ty mẹ - công
ty con (CTM-CTC) trong các tập đoàn là tƣơng đối bởi các quan hệ đầu tƣ
đan xen (đầu tƣ ngang, chéo, ngƣợc) qua đó chúng có thể chi phối lẫn nhau.
Theo nghĩa hẹp, quan niệm về TĐKT có thể là: TĐKT là tổ hợp các pháp
nhân với liên kết vốn là chủ yếu.
1.2. Đặc điểm của tập đoàn kinh tế
Thực tế cho thấy, khái niệm, mô hình của các TĐKT rất đa dạng, do đó
khó có thể lƣợng hoá các tiêu chí của tập đoàn. Để làm rõ mô hình TĐKT, có

phát triển kéo dài theo nhánh (mở rộng đáy hình tháp) nhƣng đảm bảo trật tự
từ trên xuống; (2) Cơ cấu tổ chức phân cấp: Các quan hệ thƣờng đƣợc phân
định và giới hạn theo cấp quản lý nhƣ cấp 1 chỉ quản lý cấp 2, cấp 2 chỉ quản
lý cấp 3, cấp 1 không can thiệp, quản lý cấp 3; (3) Cơ cấu tổ chức mạng lƣới:
Các quan hệ đan xen, ban đầu là một trung tâm, phát triển theo sơ đồ mạng
lƣới, sau đó mỗi nhân tố trong mạng lƣới này có thể phát triển thành một
trung tâm độc lập với đầy đủ các quan hệ nhƣ trong mạng lƣới ban đầu.
Cơ cấu điển hình của một tập đoàn bao gồm: CTM nằm ở trung tâm,
đóng vai trò điều hành chung, có ảnh hƣởng quyết định đến sự tồn tại và phát
triển mỗi tập đoàn. Các thành viên trong tập đoàn gồm 3 loại: Chặt chẽ, lỏng
lẻo và liên kết. Thành viên chặt chẽ là những doanh nghiệp có quan hệ mật
thiết với CTM về vốn, lợi ích, sản xuất kinh doanh ; thành viên bán chặt chẽ
là những doanh nghiệp có quan hệ lợi ích nhất định, tham gia một phần vào
hoạt động sản xuất kinh doanh của tập đoàn; thành viên lỏng lẻo là các doanh
nghiệp có quan hệ hợp đồng ổn định, lâu dài với CTM.
Thứ hai, quan hệ sở hữu hỗn hợp, phức tạp và mang tính xã hội hoá cao:
Tập đoàn kinh tế tồn tại ở nhiều hình thức sở hữu khác nhau: sở hữu
Nhà nƣớc (SHNN), gia đình, cổ phần Nhìn chung, hầu hết các TĐKT trên
thế giới là sở hữu hỗn hợp. Sở hữu hỗn hợp cho phép các TĐKT phát huy khả
năng huy động vốn, linh hoạt trong đầu tƣ, phân tán rủi ro, tăng năng lực cạnh
tranh. Mặc dù trong cơ cấu tập đoàn có nhiều chủ sở hữu nhƣng thƣờng tồn
tại một chủ sở hữu lớn, đóng vai trò CTM, có quyền lực chi phối các công ty
thành viên. Tính chất đa sở hữu của các tập đoàn phản ánh quá trình phát triển
của mô hình kinh doanh này khi mà quy mô sản xuất lớn đòi hỏi lƣợng vốn
khổng lồ. Chế độ cổ phần ra đời khắc phục đƣợc những hạn chế về quy mô
vốn thông qua việc huy động trên thị trƣờng chứng khoán. Ngày nay, sở hữu
nhiều chủ diễn ra theo xu hƣớng tăng số ngƣời có cổ phần trong tập đoàn và
giảm tỷ trọng sở hữu của từng thành viên trên tổng giá trị, do đó tập đoàn
CTM đƣợc đảm bảo bằng phần lợi nhuận thu đƣợc thông qua tỷ lệ vốn góp.
Ngoài ra, các tập đoàn còn có mối liên kết với các doanh nghiệp khác thông
qua vốn góp của CTM với tỷ lệ chƣa đủ mức chi phối (cổ đông thông thƣờng)
12
hoặc tạo những liên kết ngoài vốn với các doanh nghiệp độc lập, tham gia vào
quá trình sản xuất kinh doanh nhƣ gia công sản phẩm, phân phối, đại lý
Thứ tư, vốn, doanh thu, lao động thường có quy mô lớn:
Quy mô của TĐKT có nhiều khác biệt tuỳ thuộc ngành nghề, lĩnh vực
kinh doanh, thời điểm khác nhau và quốc gia khác nhau. Tuy chƣa thống nhất
tiêu chí phân định quy mô vốn, doanh thu, lao động nhƣng nói đến TĐKT là
ám chỉ một tổ hợp kinh doanh có quy mô vốn lớn, thậm chí lớn hơn cả tổng
sản phẩm quốc dân của một quốc gia.
Một điểm đáng lƣu ý khi xác định quy mô vốn của một doanh nghiệp
lớn, của một TĐKT là cơ cấu hợp thành giá trị. Ngoài vốn cố định, vốn lƣu
động, vốn nhân lực còn một bộ phận quan trọng là giá trị thƣơng hiệu; ở một
số tập đoàn, giá trị thƣơng hiệu chiếm trên 50% tổng giá trị thị trƣờng nhƣng
lại không nằm trong sổ sách của tập đoàn. Năm 2005, giá trị thị trƣờng của 5
TĐKT tiêu biểu đạt 1.060,35 tỷ USD, trong đó Coca - Cola có giá trị 105,5 tỷ
USD, Microsoft là 272,46 tỷ USD, IBM là 121,3 tỷ USD, con số này với
General Electric (GE) và Intel lần lƣợt là 391,6 tỷ USD và 169,46 tỷ USD
[17]. Năm 2006, tổng giá trị của Coca - Cola đạt 103 tỷ USD, của Pepsi đạt
105,4 tỷ USD. Giai đoạn 2001 - 2005, doanh thu của PepsiCo tăng 70%, riêng
quý II năm 2006, tập đoàn này tăng trƣởng 13% so với cùng kỳ năm trƣớc và
đạt lợi nhuận ở mức kỷ lục với gần 1,36 tỷ USD [22, tr.3].
Một số đặc điểm dễ nhận thấy của TĐKT là doanh thu lớn. Nhiều tập
đoàn với quy mô kinh doanh toàn cầu, chi nhánh ở hàng trăm quốc gia nên
doanh thu khổng lồ, chẳng hạn tập đoàn Exxon Mobil, doanh thu năm 2006

điểm của tập đoàn. Về số lƣợng, theo công bố của Fortune (2006), tập đoàn
FedEx có 212.241 lao động, tập đoàn Intel có 48.655 lao động, tập đoàn
Starbucks có 91.056 lao động [25] hay tập đoàn P&G với nhiều sản phẩm nổi
tiếng ở Việt Nam có trên 100.00 lao động [21, tr.15]. Lực lƣợng lao động của
các tập đoàn không giới hạn trong phạm vi quốc gia, lãnh thổ mà phân bố ở
khắp nơi trên thế giới. Thông thƣờng, các tập đoàn đầu tƣ ở đâu sẽ tuyển dụng
nhân lực ở đó, đồng thời có chính sách thu hút chất xám khắp nơi trên thế
giới. Microsoft, Coca-Cola, PepsiCo là ví dụ tiêu biểu về tính đa sắc tộc, đa
quốc tịch, đa ngôn ngữ, nhiều màu da của đội ngũ lao động và cán bộ quản lý
trong cơ cấu tập đoàn. Về chất lƣợng, mặc dù đội ngũ lao động phân bố khắp
nơi nhƣng nhìn chung, trình độ khá đồng đều thông qua quy trình tuyển dụng
chặt chẽ, đào tạo và đào tạo lại rất chặt chẽ của mỗi tập đoàn. Tính chất quốc
tế hoá lao động là một điểm đáng chú ý trong tất cả các tập đoàn hiện nay.
Đội ngũ cán bộ quản lý trong các tập đoàn là những nhân vật xuất sắc, có ảnh
14
hƣởng to lớn không chỉ đến sự lớn mạnh của bản thân mỗi tập đoàn mà còn
tác động đến nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội.
Thứ năm, các tập đoàn kinh tế đều kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực:
Trƣớc đòi hỏi của thị trƣờng và sự phát triển của nền kinh tế, các loại
hình kinh doanh trong tập đoàn ngày càng trở nên phong phú, đa dạng. Chiến
lƣợc sản phẩm và hƣớng đầu tƣ của tập đoàn cũng dần đƣợc mở rộng. Tập
đoàn kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực nhƣng không tuỳ tiện mà dựa trên mối
quan hệ kinh tế - kỹ thuật giữa các ngành. ở mỗi ngành đều có định hƣớng
ngành chủ đạo, lĩnh vực đầu tƣ mũi nhọn với những sản phẩm đặc trƣng của
tập đoàn. Hiện nay, hầu hết các tập đoàn đều kinh doanh đa ngành nghề, đa
lĩnh vực xoay quanh một hoặc một số ít các công nghệ chủ chốt là để phân tán
rủi ro, mạo hiểm vào các mặt hàng, các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, bảo

Chính phủ các nƣớc vì nó tạo độc quyền, ngăn cản cạnh tranh.
b. Tập đoàn liên kết giữa các doanh nghiệp không cùng ngành: Đó là
liên kết giữa các công ty trong cùng một dây chuyền công nghệ sản xuất mà ở
đó mỗi công ty đảm nhận một bộ phận hoặc một số công đoạn nào đó. Trong
tập đoàn dạng này sự liên kết đa dạng ở nhiều ngành nghề khác nhau nhƣng
có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Sự liên kết này thƣờng dẫn đến sự phát
triển ngành nghề theo chiều sâu, tạo điều kiện để các tập đoàn củng cố vị thế
cạnh tranh, nâng cao chất lƣợng quản lý, bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp
hữu hiệu hơn. Hiện nay, loại hình tập đoàn này vẫn còn phổ biến với tên gọi
nhƣ Concern, Conglomerate, Chaebol
Các tập đoàn này chỉ phát triển và hoạt động có hiệu quả khi có đủ các
điều kiện cần thiết về môi trƣờng, khoa học-công nghệ và trình độ quản lý,
đặc biệt phải có thị trƣờng chứng khoán phát triển, có hệ thống thông tin toàn
cầu và khả năng xử lý tổng hợp các thông tin về thị trƣờng, đầu tƣ. Do vậy,
các nƣớc mới phát triển chỉ có thể phát triển các tập đoàn chủ yếu ở lĩnh vực
sản xuất về thƣơng mại.
c. Tập đoàn liên kết hỗn hợp: Liên kết giữa các doanh nghiệp không
cùng hoạt động trong một lĩnh vực kinh doanh, không có mối liên hệ với nhau
về quy trình sản xuất hay cung ứng sản phẩm nhằm bổ sung lợi thế cho nhau.
Trên thực tế hiện nay, ngày càng xuất hiện nhiều sự kết hợp của các kiểu liên
kết ngang và dọc, nó bao gồm nhiều thực thể kinh doanh hoạt động trong
nhiều lĩnh vực khác nhau, thậm chí trái ngƣợc nhau. Từ đó hình thành các
kiểu liên kết đa ngành, đa lĩnh vực hết sức phong phú. Ngày nay, một TĐKT
mạnh thƣờng có cơ cấu kinh doanh gồm nhiều ngành nghề, kể cả các ngành
không liên quan với nhau. Có thể thấy mô hình tập đoàn này đang đƣợc ƣa
chuộng và trở thành xu hƣớng chính hiện nay. Cơ cấu của nó thƣờng gồm một
16

chung đƣợc thành lập do một ban quản trị chung điều hành và tất cả các công
ty phải tiêu thụ hàng hoá của họ qua kênh của văn phòng này. Nhƣ vậy các
17
công ty trong Syndicate vẫn giữ nguyên tính độc lập về sản xuất nhƣng hoàn
toàn mất tính độc lập về thƣơng mại. Tính liên kết của dạng tập đoàn này
đƣợc thực hiện ở khâu tiêu thụ sản phẩm.
Ba là, Trust :
Là một hình thức TĐKT không chỉ có liên kết ở khâu tiêu thụ nhƣ
Syndictate mà còn liên kết ở khâu sản xuất. Trust bao gồm nhiều doanh
nghiệp công nghiệp do một ban quản trị thống nhất điều khiển. Khác với
Cartel và Syndicate, các doanh nghiệp thành viên trong Trust đều bị mất
quyền độc lập về sản xuất và thƣơng mại. Các nhà đầu tƣ tham gia trong Trust
đều là các cổ đông .Việc thành lập Trust nhằm chiếm nguồn nguyên liệu và
khu vực đầu tƣ để thu lợi nhuận độc quyền cao. Bốn là, Consortium:
Đây là một trong những hình thức của các tổ chức độc quyền ngân
hàng, đƣợc thành lập nhằm mục đích chia nhau mua trái khoán trong và ngoài
nƣớc hoặc tiến hành công việc buôn bán nào đó. Đứng đầu Consortium
thƣờng là ngân hàng lớn có vai trò điều hành toàn bộ hoạt động của tổ chức
này. Consortium gắn bó rất chặt chẽ với các Concern.
Năm là, Concern:
Đây là hình thức tập đoàn phổ biến nhất hiện nay. Concern không có tƣ
cách pháp nhân, các công ty thành viên trong Concern vẫn giữ nguyên tính
độc lập về mặt pháp lý. Mối quan hệ giữa các công ty thành viên trong
Concern dựa trên cơ sở những thoả thuận về lợi ích chung. Đó là những thoả

độc quyền tăng lên, xu hƣớng thừa tƣ bản trở lên phổ biến, tất yếu hình thành
con đƣờng xuất khẩu tƣ bản ra nƣớc ngoài tìm kiếm lợi nhuân. Việc hợp nhất
các doanh nghiệp đã vƣợt ra ngoài biên giới quốc gia, dẫn đến hình thành các
Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia. Đó là sản phẩm của sự liên minh giữa các
nhà tƣ bản có thế lực nhất, các tập đoàn này có quy mô mang tầm cỡ quốc tế,
có một hệ thống chi nhánh dày đặc ở nƣớc ngoài với mục đích nâng cao tỷ
suất lợi nhuận thông qua bành trƣớng quốc tế.
Sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học - công nghệ, xu hƣớng
toàn cầu hoá ngày càng sâu rộng, tác động của cạnh tranh toàn cầu, mục tiêu
tối đa hoá lợi nhuận là nguyên nhân dẫn đến hình thành các Tập đoàn kinh tế
xuyên quốc gia. Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia đƣợc hiểu là những công ty
hoạt động trong một lĩnh vực sản xuất kinh doanh, trên lãnh thổ nhiều quốc
gia. Do đó, cơ cấu tổ chức gồm hai bộ phận cơ bản đó là “Công ty mẹ” thuộc
sở hữu của các nhà tƣ bản nƣớc có công ty mẹ và một hệ thống các công ty
19
chi nhánh thuộc sở hữu công ty mẹ hoặc hỗn hợp với công ty nƣớc chủ nhà.
“Công ty mẹ” có vai trò là trung tâm phối hợp hoạt động của các công ty chi
nhánh dƣới sự kiểm soát của nó, định hƣớng sự phát triển cho các công ty
này và theo dõi thƣờng xuyên kết quả hoạt động của nó.
Nhìn chung, Tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia đƣợc hình thành và vận
hành theo nhiều cơ chế khác nhau, song dù hình thức nào thì mối quan hệ
giữa công ty mẹ và các công ty chi nhánh là mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau
chủ yếu về tài chính, công nghệ, kĩ thuật. Các thành viên trong Tập đoàn kinh
tế xuyên quốc gia đều là các công ty độc lập có tƣ cách pháp nhân, có lợi ích
riêng, liên kết với nhau nhằm đáp ứng một cách linh hoạt trƣớc sự phát triển
của sản xuất kinh doanh. Các công ty chi nhánh ở nƣớc ngoài dù tồn tại dƣới
hình thức này, hình thức khác, sở hữu 100% vốn nƣớc ngoài, hỗn hợp, hay

TĐKT ra đời thúc đẩy các liên kết kinh tế phát triển lên trình độ, cấp độ và
các hình thức biểu hiện cao hơn.
Trình độ phát triển của kinh tế thị trường: Nền kinh tế thị trƣờng phải
đạt đến một trình độ nhất định, các quy luật cơ bản của thị trƣờng nhƣ cung
cầu, cạnh tranh, giá cả phải đƣợc tôn trọng, các nguồn lực đƣợc phân bổ tối
ƣu dựa trên nguyên tắc thị trƣờng, đảm bảo tính thống nhất, thông suốt của thị
trƣờng trong nƣớc, có sự liên kết chặt chẽ giữa thị trƣờng trong nƣớc và thị
trƣờng quốc tế, từng bƣớc hoàn thiện và đồng bộ hoá các loại thị trƣờng,
trƣớc hết là những thị trƣờng chủ yếu nhƣ vốn, lao động, khoa học công nghệ,
bất động sản Thị trƣờng phát triển đến một mức độ nhất định vừa là điều
kiện hình thành các TĐKT vừa là yếu tố tiền đề để chúng từng bƣớc hoàn
thiện và phát triển.
Hai là, điều kiện từ bản thân các doanh nghiệp:
Với con đƣờng phát triển truyền thống, các doanh nghiệp cần đạt đến
trình độ nhất định về vốn, thị phần, năng lực sản xuất, trình độ quản lý. Khi
đã đạt đến trình độ cần thiết, điều kiện cần thiết để hình thành các TĐKT là
việc thiết lập các liên kết giữa công ty mẹ với doanh nghiệp thành viên. Quá
trình thiết lập liên kết bằng nhiều hình thức khác nhau nhƣng phải đảm bảo
những nguyên tắc nhất định nhƣ tự nguyện, cùng có lợi, Đối với các quốc
gia lựa chọn con đƣờng hình thành TĐKT với sự can thiệp mạnh của chính
phủ, các điều kiện bên trong của mỗi tập đoàn cần đƣợc tính toán kỹ lƣỡng
bao gồm quy mô vốn của công ty mẹ và cả của tập đoàn: trình độ tích tụ tập
trung sản xuất của đối tƣợng lựa chọn, tính chặt chẽ trong các liên kết, số
lƣợng công ty con, tƣ cách pháp nhân của các công ty con Ngoài ra các điều
kiện về năng lực bộ máy quản lý, trình độ quản lý, lĩnh vực kinh doanh mũi
21
nhọn, trình độ khoa học công nghệ cũng là những nội dung quan trọng cần

TĐKT:
22
- TĐKT được hình thành bằng con đường truyền thống: Thông qua tích
tụ, tập trung vốn, lĩnh vực hoạt động, tăng vốn, mở rộng phạm vi từng bƣớc
chiếm lĩnh thị trƣờng. Nhu cầu liên kết trên nguyên tắc tự nguyện, đảm bảo
lợi ích của mỗi doanh nghiệp trƣớc áp lực cạnh tranh hoặc yêu cầu đầu tƣ lớn
mà bản thân mỗi thành viên đơn lẻ không đủ năng lực thực hiện cũng là nhân
tố thúc đẩy TĐKT ra đời. Nhìn chung TĐKT đƣợc hình thành theo con đƣờng
truyền thống bằng cách thức sau:
(1) Các doanh nghiệp đang hoạt động kết hợp lại với nhau bằng cách
bán cổ phần cho một công ty mới thành lập (thƣờng gọi là công ty nắm vốn).
Công ty này sau khi đã thanh toán cho các doanh nghiệp đã bán cổ phần cho
mình, trở thành công ty nắm giữ phần vốn của từng doanh nghiệp, tham gia
điều hành đối với mỗi doanh nghiệp ở mức độ khác nhau. Công ty nắm vốn
trở thành công ty mẹ, các công ty bán vốn trở thành công ty con, việc góp
vốn, trả tiền thực hiện trên văn bản, do các chủ nhân của các công ty con
quyết định với nhau.
(2) Một doanh nghiệp có quy mô lớn, tiềm lực mạnh về vốn công
nghệ, thực hiện đầu tƣ vốn để thành lập các công ty con nhằm chiếm lĩnh thị
trƣờng, cử ngƣời vào các công ty con để tham gia điều hành theo số vốn của
mình. Cách thức này còn đƣợc gọi là chia tách hoặc là chia nhỏ công ty.
(3) Các cổ đông đầu tƣ thành lập công ty mẹ ban đầu, công ty mẹ
này tiếp tục đầu tƣ các công ty con.
Trong các cách thức hình thành các TĐKT nêu trên, các biện pháp nhƣ
hợp nhất, sáp nhập, thôn tính, mua lại nhằm tăng quy mô, mở rộng ngành
nghề, tăng năng lực cạnh tranh, tìm kiếm thị trƣờng mới đƣợc cả CTM và
các CTC thực hiện đem lại lợi ích cho các bên tham gia.

Nhà nƣớc. Mặc dù tập đoàn là sản phẩm của quá trình hợp tác và cạnh tranh.
Tuy nhiên với vai trò chủ sở hữu, Nhà nƣớc cần tìm kiếm các biện pháp quản
lý hữu hiệu. Nói cách khác Nhà nƣớc phải dùng những biện pháp cụ thể để
bảo toàn và phát triển phần vốn của mình đã đầu tƣ nhằm thực hiện các mục
tiêu đề ra. Nhƣ vậy vấn đề không phải Nhà nƣớc có nên can thiệp vào các
TĐKT thuộc Nhà nƣớc hay không mà ở chỗ Nhà nƣớc can thiệp thế nào? Giai
đoạn, lĩnh vực nào? Đó chính là vấn đề khó có câu trả lời dứt khoát mà phải
tùy thuộc vào từng thời kỳ.
1.5. Vai trò của các tập đoàn kinh tế
Với quyền lực kinh tế và quyền lực phi kinh tế, các TĐKT đang chi
phối sự phát triển của kinh tế thế giới nói chung cũng nhƣ kinh tế mỗi quốc
gia. Có thể khái quát vai trò của chúng trên một số nội dung sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status