Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam sau khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ - Pdf 13



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI CÁC DOANH
NGHIỆP BÁN LẺ TRÊN THỊ TRƯỜNG VIỆT
NAM SAU KHI VIỆT NAM MỞ CỬA THỊ
TRƯỜNG DỊCH VỤ BÁN LẺ

Sinh viên thực hiện : Phạm Thị Kim Ngân
Lớp : Anh 2
Khóa : 44
Giáo viên hướng dẫn : TS. Lê Thị Thu Thủy

Hà Nội, tháng 05/2009

2
đề tài khóa luận tốt nghiệp “Quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ
trên thị trường Việt Nam sau khi Việt Nam mở cửa thị trường dịch vụ bán lẻ”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích khái quát thực trạng các doanh nghiệp bán lẻ trên thị
trường Việt Nam, thực trạng các công cụ quản lý Nhà nước đối với thị trường dịch
vụ bán lẻ, đồng thời làm rõ các cam kết của Việt Nam trong WTO về mở cửa thị
trường dịch vụ phân phối, khóa luận đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ nhằm phù hợp với tình hình phát
triển thị trường và tuân thủ các cam kết WTO.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục đích trên, khóa luận có nhiệm vụ sau:
+ Làm rõ một số vấn đề lý luận về doanh nghiệp bán lẻ, quản lý Nhà nước đối với
doanh nghiệp bán lẻ.
+ Tìm hiểu kinh nghiệm thành công của một số quốc gia trong công tác quản lý
Nhà nước với thị trường dịch vụ bán lẻ
+ Phân tích, đánh giá thực trạng các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam
và tác động của các cam kết WTO đối với thị trường bán lẻ.
+ Phân tích các công cụ quản lý Nhà nước hiện nay đối với các doanh nghiệp trên
thị trường bán lẻ Việt Nam.
+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với doanh
nghiệp bán lẻ.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là công tác quản lý Nhà nước đối với các
doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn ở việc phân tích các công cụ quản lý
Nhà nước, trong đó tập trung vào công cụ hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động
của các doanh nghiệp bán lẻ trên thị trường Việt Nam.


Theo định nghĩa của Philip Kotler:
Bán lẻ là mọi hoạt động nhằm bán hàng hóa hay dịch vụ trực tiếp cho người tiêu
dùng cuối cùng để họ sử dụng cho cá nhân, không mang tính thương mại
1

Bất kỳ một tổ chức nào làm công việc này cũng là một tổ chức bán lẻ, bất kể hàng
hóa hay dịch vụ đó được bán như thế nào (bán trực tiếp, qua bưu điện, qua điện
thoại, hay qua máy bán hàng tự động) và ở đâu (trong cửa hàng, trên đường phố hay
tại nhà người tiêu dùng).
Theo khoản 8, điều 3, Nghị định 23/2007/NĐ-CP ban hành ngày 12/2/2007
của Chính phủ Quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa
và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài tại Việt Nam quy định: Bán lẻ là hoạt động bán hàng hóa trực
tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng.
Trong văn bản giải thích của mình đối với Danh sách phân loại sản phẩm
trung tâm CPC, Ban Thống kê của Liên Hợp Quốc đưa ra định nghĩa các dịch vụ
bán lẻ là “bán hàng hóa cho người tiêu dùng cá nhân hay hộ gia đình bao gồm các
dịch vụ kèm theo việc bán các hàng hóa đó (các dịch vụ bán lẻ)”
2

Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia đưa ra định nghĩa: Bán lẻ bao
gồm việc bán hàng hóa cho cá nhân hoặc hộ gia đình để họ tiêu dùng, tại một địa
điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm cố định mà qua các dịch vụ liên quan
3
. 1
Philip Kotler (2007), Marketing căn bản, NXB Lao động – xã hội, trang 314


6. Các cửa hàng bán lẻ do Nhà nước quản lý
7. Cửa hàng của các công ty phúc lợi công cộng
B. Theo loại hình kinh doanh
1. Cửa hàng bách hóa tổng hợp
2. Cửa hàng kinh doanh theo nhóm hàng
3. Cửa hàng chuyên doanh 4
Trương Đình Chiến – GS.PTS Nguyễn Văn Thường (1999), Quản trị hệ thống phân phối sản phẩm, NXB
Thống kê, Trang 50-52.
6
C. Theo mức độ liên kết dọc
1. Không có quan hệ liên kết (Chỉ có chức năng bán lẻ)
2. Liên kết với chức năng bán buôn
3. Liên kết với chức năng sản xuất
D. Theo hình thức pháp lý của tổ chức
1. Cùng một chủ sở hữu
2. Quan hệ thành viên
3. Quan hệ hợp tác
E. Theo phương thức tiếp xúc với khách hàng
1. Cửa hàng bình thường
2. Bán hàng qua thư
3. Bán hàng trực tiếp tại nhà
F. Theo địa điểm
1. Cửa hàng ở thành phố lớn
- Cửa hàng ở trung tâm
- Cửa hàng ở ngoại ô
2. Cửa hàng ở thành phố nhỏ
3. Cửa hàng ở vùng nông thôn

cụ thể hóa hơn nữa các loại hình dịch vụ mà Hiệp định GATS điều chỉnh, WTO đưa
ra danh mục phân loại các dịch vụ theo ngành (Services Sectorial Classification List
– GNS/W/120). Về cơ bản, phân loại dịch vụ của WTO dựa theo CPC (Danh mục
phân loại các sản phẩm chủ yếu - Central Products Classification). WTO phân loại
dịch vụ dựa trên nguồn gốc ngành kinh tế. Toàn bộ lĩnh vực dịch vụ được chia ra 12
ngành. Mỗi ngành dịch vụ lại được chia ra các phân ngành, trong các phân ngành có
liệt lê các hoạt động dịch vụ cụ thể. Việc phân loại dịch vụ theo WTO rất thích hợp
cho việc xúc tiến đàm phán về mở của thị trường dịch vụ quốc tế. GATS điều chỉnh
dịch vụ bán lẻ là một trong các lĩnh vực của dịch vụ phân phối - bao gồm các dịch
8
vụ đại lý ăn hoa hồng, các dịch vụ thương mại bán buôn, dịch vụ bán lẻ, dịch vụ cấp
quyền kinh doanh, các dịch vụ phân phối khác.
1.1.2.2. Vị trí của doanh nghiệp bán lẻ trong hệ thống phân phối
Phân phối là quá trình lưu thông hàng hóa từ nhà chế tạo/sản xuất hay nhập
khẩu tới các nhà phân phối trực tiếp/các đại lý bán hàng; hay các công ty thương
mại, các đối tác thu mua tới tay người tiêu dùng/các khách hàng kinh doanh, nhà
chuyên môn (các trung gian phân phối). Dù hoạt động phân phối có thể do chính
người sản xuất thực hiện hay do các trung gian đảm nhiệm theo yêu cầu của người
sản xuất, nó luôn được coi là chiếc cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Đối với người tiêu dùng, hoạt động phân phối được thể hiện chủ yếu tại các cửa
hàng bán lẻ. Vậy nhà bán lẻ là mắt xích cuối cùng của quá trình biến đổi, vận
chuyển, dự trữ và đưa hàng hóa, dịch vụ đến tay người tiêu dùng. Vị trí đó được thể
hiện trong sơ đồ các kênh phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu thụ
cuối cùng sau đây:
Sơ đồ 1: Các kênh phân phối sản phẩm từ nhà sản xuất cho tới ngƣời tiêu thụ
cuối cùng
5

Để làm rõ hơn cách phân loại các nhà bán lẻ đã được đề cập ở phần 1 về khái
niệm bán lẻ và doanh nghiệp bán lẻ, người viết xin phân tích cụ thể hơn các phương
thức phân loại cửa hàng bán lẻ và đặc điểm của các loại hình bán lẻ đó:
1.1.3.1. Phân loại theo mức độ cung cấp dịch vụ 6
Philip Kotler (2007), Marketing căn bản, NXB Lao động – xã hội, trang 289
10
Theo số lượng dịch vụ nhà bán lẻ cung cấp, người ta chia thành 4 loại: những
cửa hàng bán lẻ tự phục vụ, những cửa hàng bán lẻ tự do lựa chọn hàng hóa có
người bán hàng để giúp đỡ, cửa hàng bán lẻ phục vụ hạn chế, cửa hàng bán lẻ phục
vụ đầy đủ
Bảng 1: Phân loại loại hình bán lẻ theo chỉ tiêu khối lƣợng dịch vụ cho ngƣời
tiêu dùng

Tự phục vụ
Tự do lựa chọn
Phục vụ hạn chế
Phục vụ đầy đủ
Đặc
điểm
nổi bật
- Số dịch vụ tối
thiểu: Người tiêu
dùng sẵn sàng tự
tìm, so sánh và lựa
chọn hàng hóa
- Giá cả hấp dẫn
- Bán những mặt

thượng
- Bán những mặt
hàng cho nhu cầu
đặc biệt
Ví dụ
- Cửa hàng kem
bán lẻ, cửa hàng
thực phẩm, cửa
hàng hạ giá, cửa
hàng bán qua bưu
điện, máy bán
hàng tự động
Cửa hàng hạ giá,
cửa hàng tạp hóa,
cửa hàng bán qua
bưu điện
Bán hàng lưu
động, cửa hàng
bách hóa, cửa
hàng bán qua điện
thoại, cửa hàng tạp
hóa
Cửa hàng chuyên
doanh, cửa hàng
bách hóa tổng
hợp

1.1.3.2. Phân loại theo chủng loại hàng hóa được bán
Theo nghĩa rộng ra có thể nói về chiều rộng và mức độ phong phú của chủng
loại hàng hóa và dựa vào những đặc điểm đó để phân ra những kiểu cửa hàng chủ

12
hàng rộng nên giá cả thường cao hơn so với giá ở các siêu thị thông thường. Tổ hợp
thương mại vượt cả những siêu thị bách hóa về quy mô và diện tích, bao gồm siêu
thị, cửa hàng hạ giá và kho – cửa hàng bán lẻ. Chủng loại mặt hàng vượt ra ngoài
phạm vi những hàng hóa thông thường, bao gồm cả đồ gỗ, đồ điện gia dụng lớn và
nhỏ, quần áo và rất nhiều các mặt hàng khác. So với mức giá thông thường của các
siêu thị bách hóa, các tổ hợp thương mại áp dụng giá có chiết khấu.
1.1.3.3. Phân loại theo sự quan tâm tương đối về giá cả:
Có thể phân loại các cửa hàng bán lẻ trên cơ sở hình thành giá cả của chúng.
Phần lớn các cửa hàng đều bán hàng theo giá trung bình và mức dịch vụ bình
thường cho người tiêu dùng. Một số cửa hàng bán hàng hóa và dịch vụ chất lượng
cao và theo giá cao hơn. Ta sẽ xem xét các cửa hàng hạ giá, các mô hình sinh ra từ
chúng dưới dạng kho – cửa hàng và cửa hàng giới thiệu sản phẩm bán theo catalog:
- Cửa hàng hạ giá: bán những hàng hóa tiêu chuẩn theo giá thấp hơn bằng cách
giảm định mức lợi nhuận và tăng khối lượng tiêu thụ. Cửa hàng hạ giá thực sự có 5
đặc điểm sau: 1. nó luôn bán hàng theo giá thấp hơn giá thịnh hành ở các cửa hàng
có phụ giá cao và tốc độ quay vòng hàng dự trữ chậm; 2. nó coi trọng hàng hóa có
nhãn hiệu phổ biến trong toàn quốc nên giá thấp hoàn toàn không phải do chất
lượng hàng kém; 3. nó hoạt động theo phương pháp tự phục vụ với những tiện nghi
tối thiểu; 4. Nó thường nằm ở khu vực có mức tiền thuê nhà thấp và thu hút người
mua từ những nơi tương đối xa; 5. ở đó chỉ lắp đặt thiết bị thương mại đơn giản.
- Các kho – cửa hàng: Kho - cửa hàng là một doanh nghiệp thương mại hạ giá với
khối lượng dịch vụ hạn chế và bỏ mọi thứ rườm rà với mục đích là bán một khối
lượng lớn hàng theo giá hạ, thậm chí trưng bày hàng ngay trong thùng chứa. Đối
tượng phục vụ là những người mua phẩm cấp trung bình, quan tâm đến giá hạ và
khả năng nhận được hàng ngay.
- Các cửa hàng giới thiệu sản phẩm bán theo catalog: kết hợp các nguyên tắc bán
hàng theo catalog và những nguyên tắc bán hàng hạ giá để tiêu thụ nhiều chủng loại
hàng hóa có nhãn hiệu bán chạy, thường là với phụ giá cao. Các cửa hàng này xuất
bản những cuốn catalog nhiều màu sắc và có thể lấy ở phòng trưng bày. Trong

14
loại hàng tương tự nhau, có chung một bộ phận thu mua và tiêu thụ và cũng có thể
có hình thức kiến trúc như nhau.
- Các hợp tác xã tiêu thụ: Là công ty bán lẻ thuộc quyền của chính người tiêu dùng,
khi dân cư của một cộng đồng nào đó chung tiền mở cửa hàng riêng của mình, cùng
xác định những nguyên tắc hoạt động cho cửa hàng và bầu các thành viên của ban
quản trị.
- Tổ chức của những người có quyền ưu đãi: là sự liên kết theo hợp đồng giữa
những người chủ sở hữu quyền ưu đãi (nhà sản xuất, người bán sỉ hay tổ chức dịch
vụ) và những người được hưởng quyền ưu đãi (những nhà kinh doanh độc lập, mua
quyền sở hữu một hay một số điểm của hệ thống hoạt động trên cơ sở quyền ưu đãi
đó). Điểm khác biệt cơ bản của tổ chức này so với các liên kết theo hợp đồng khác
(mạng lưới tự nguyện, hợp tác xã bán lẻ) là thường bán một mặt hàng độc đáo, dịch
vụ độc đáo, một phương pháp hoạt động kinh doanh, tên thương mại, uy tín hay
giấy phép của chủ sở hữu quyền ưu đãi.
- Các tập đoàn bán lẻ: hợp nhất một số doanh nghiệp thuộc các hướng khác nhau và
hình thức bán lẻ khác nhau vào một mối với sự nhất thể hóa một phần các chức
năng phân phối và quản lý.
1.1.3.6. Phân loại theo mức độ tập trung cửa hàng:
Nguyên tắc cuối cùng để phân loại các doanh nghiệp bán lẻ là số lượng cửa
hàng. Ngày nay phần lớn các cửa hàng tập trung ở những khu thương mại do quy
định của các cơ quan chính quyền địa phương phân vùng các hoạt động cũng như vì
ý muốn tạo cho người tiêu dùng nhiều khả năng mua sắm tất cả những thứ cần thiết
trong một lần đi. Những cửa hàng tập trung vào một chỗ cũng giải quyết nhiệm vụ
như các siêu thị và các cửa hàng bách hóa tổng hợp, tiết kiệm thời gian và công sức
của người tiêu dùng khi tìm kiếm hàng hóa cần thiết cho mình. Có 4 kiểu tập trung
cơ bản:
- Khu vực kinh doanh trung tâm
- Các trung tâm thương mại khu vực
- Các trung tâm thương mại quận, huyện.

nước phải làm những công việc gì để thúc đẩy nền kinh tế quốc dân phát triển. 7
PGS.TS. Nguyễn Cúc (Chủ biên) (2008), Tập bài giảng Quản lý nhà nước về kinh tế, NXB Đại học Kinh tế
quốc dân, trang 31
16
Nhận thức rõ chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là cơ sở khách quan để tổ chức
bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế, từ chức năng mà sắp xếp bộ máy và bố trí biên
chế về con người. Mặt khác chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là những nhiệm
vụ tổng quát mà nhà nước phải thực hiện trong từng thời gian nhất định, do yêu cầu
của nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội và do tình hình, điều kiện cụ thể của từng
giai đoạn lịch sử quy định. Do đó, nhận thức về chức năng quản lý Nhà nước về
kinh tế cũng không cố định mà luôn biến động và phát triển. Tuy nhiên các chức
năng cơ bản, chủ yếu thường ít thay đổi, mà thay đổi thường xuyên là các nhiệm vụ
quản lý nhà nước về kinh tế - các công việc cụ thể hóa chức năng quản lý trong
không gian và thời gian nhất định.
Các chức năng cơ bản của quản lý nhà nước về kinh tế nước ta được phân
loại theo nhiều tiêu thức khác nhau:
1.2.2.1. Các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế theo phương hướng tác động
Đại hội VII của Đảng đã chỉ rõ: “Trên cơ sở bảo đảm quyền tự chủ kinh doanh của
các doanh nghiệp, Nhà nước cần tập trung thực hiện tốt các chức năng quản lý vĩ
mô sau đây:
- Tạo môi trường và điều kiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh
- Dẫn dắt và hỗ trợ những nỗ lực phát triển
- Hoạch định và thực hiện các chính sách xã hội
- Quản lý và kiểm soát việc sử dụng tài sản quốc gia…”
1.2.2.2. Các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế theo giai đoạn tác động
a. Định hướng phát triển kinh tế đất nước:
Định hướng phát triển kinh tế là quyết định trước những nhiệm vụ, những

Chương trình và kế hoạch có quan hệ với nhau và có điểm khác nhau.
Chương trình là một bộ phận của kế hoạch, hay một phương thức vận hành của kế
hoạch để đưa nhiệm vụ kế hoạch vào thực tế cuộc sống. Chương trình đảm bảo phối
hợp một cách đồng bộ các biện pháp liên quan trong việc thực hiện các mục tiêu kế
hoạch đề ra. Chương trình tập trung những nguồn lực hạn hẹp vào giải quyết có
18
hiệu quả những trọng tâm của kế hoạch nhà nước trong từng thời kỳ, để tạo cơ cấu
kinh tế mới.
c. Thiết lập khung khổ pháp luật về kinh tế
Pháp luật về kinh tế theo nghĩa rộng là tổng thể các quy phạm pháp luật do
nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát
sinh trong quá trình tổ chức, quản lý và hoạt động sản xuất – kinh doanh giữa các
doanh nghiệp với nhau và với các đơn vị hữu quan khác.
Luật kinh tế là hành lang an toàn nhất cho các hoạt động kinh tế, đồng thời
xác định địa vị pháp lý cho các tổ chức và các đơn vị kinh tế. Trên cơ sở đó tạo lập
cơ sở pháp lý cho các hoạt động và nhà nước thực hiện sự quản lý của mình với các
hoạt động đó.
d. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các chính sách, các công cụ và các đòn bẩy
kinh tế
Chính sách là tổng thể các phương thức, biện pháp, phương tiện nhất định,
được nhà nước sử dụng, nhằm tác động đến cá nhân, nhóm người, xã hội, để đạt tới
các mục tiêu bộ phận, trong quá trình thực hiện các mục tiêu tổng thể phát triển
kinh tế xã hội như:
- Chính sách tài chính;
- Chính sách tiền tệ - tín dụng;
- Chính sách kinh tế đối ngoại…
đ. Tổ chức và điều hành các hệ thống kinh tế trong nước hoạt động
Với chức năng tổ chức sản xuất, nhà nước phải hình thành các đơn vị kinh tế
theo ngành, theo vùng, theo thành phần kinh tế và theo loại hình sản xuất – kinh
doanh, cũng như các trung tâm khoa học, đào tạo và các đơn vị sự nghiệp, phục vụ

hoạt động trên toàn bộ lãnh thổ quốc gia và các khu vực phạm vi ảnh hưởng có thể
ở bên ngoài.
Công cụ quản lý Nhà nước chủ yếu là bằng pháp luật. Bên cạnh đó, một công
cụ không kém phần quan trọng đó là sử dụng các chính sách, các đòn bẩy kinh tế
tạo điều kiện cho phát triển kinh tế.
20
1.2.3.1. Pháp luật
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, vận động dưới sự chi phối của
các quy luật kinh tế thị trường trong môi trường cạnh tranh vì mục tiêu lợi nhuận.
Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền, thực hiện sự quản lý của mình đối với xã hội
nói chung và nền kinh tế quốc dân nói riêng, chủ yếu bằng pháp luật và theo pháp
luật.
Chức năng chủ yếu của pháp luật là điều chỉnh, bảo vệ và giáo dục để đảm
bảo và phát triển xã hội theo mục tiêu và phương hướng nhất định. Thông qua việc
thực hiện các chức năng này, pháp luật có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển
dịch nền kinh tế tự cấp, tự túc, khép kín sang nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, mở cửa, được thể hiện ở các mặt cơ bản sau đây:
a) Tạo tiền đề pháp lý vững chắc để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, duy trì sự ổn
định lâu dài của nền kinh tế quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế
bền vững
Điều chỉnh kịp thời và hợp lý các quan hệ kinh tế là điều kiện cần thiết và bắt
buộc để duy trì sự ổn định thường xuyên, lâu dài của nền kinh tế quốc dân, nhằm
thực hiện mục tiêu tăng trường kinh tế liên tục với tốc độ và hiệu quả cao. Muốn
vậy, phải có các hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản áp dụng quy
phạm pháp luật chuẩn xác trong quản lý nhà nước về kinh tế. Nhờ chúng mà tạo
được tiền đề pháp lý vững chắc để điều chỉnh kịp thời và hợp lý các quan hệ kinh tế,
làm cho mọi ngành, mọi lĩnh vực, mọi vùng, mọi địa phương, mọi thành phần kinh
tế và mọi công dân yên tâm huy động các nguồn lực của mình vào sản xuất, kinh
doanh với năng suất, chất lượng và hiệu quả.
b) Tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để thực hiện sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ

hiện phương án hành động trong tương lai. Kế hoạch với tính cách là một công cụ
quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà nước, bản thân là một hệ thống bao gồm nhiều nội
dung hoạt động.
- Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội: là đường lối chung tổng quát và giải pháp
chủ yếu, tổng thể để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong một thời gian dài
22
(ở nước ta thường là 10 năm). Thí dụ: chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã
hội 1991 – 2000 do Đại hội VII của Đảng đề ra; Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội 2001 – 2010 do Đại hội IX của Đảng đề ra.
- Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội: là sự cụ thể hóa một bước chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội, nó là một tập hợp các mục tiêu và sự bố trí, sắp xếp các nguồn
lực tương ứng để thực hiện các mục tiêu theo không gian và thời gian. Nước ta đề ra
quy hoạch đô thị vào năm 1997, sau đó nhiều ngành cũng đề ra quy hoạch phát triển
để nhanh chóng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, ví dụ ngành Hàng hải
Việt Nam dự định đưa ra quy hoạch phát triển đội tàu biển và quy hoạch phát triển
hệ thống cảng biển Việt Nam.
- Kế hoạch trung hạn (kế hoạch 3 năm, kế hoạch 5 năm) là phương tiện chủ yếu để
cụ thể hóa các mục tiêu và các giải pháp đã được lựa chọn trong chiến lược. Kế
hoạch trung hạn mà thường là kế hoạch 5 năm, trong đó có phân bổ chỉ tiêu cho
từng năm, là hình thái chủ yếu của kế hoạch, là định hướng khung cho quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Kế hoạch hàng năm: là sự cụ thể hóa của kế hoạch trung hạn nhằm thực hiện
nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội của kế hoạch trung hạn. Kế hoạch hàng năm
được xây dựng căn cứ vào mục tiêu và định hướng chiến lược, vào phương pháp,
nhiệm vụ của kế hoạch trung hạn và vào kết quả phân tích tình huống.
- Chương trình: được sử dụng rất phổ biến, để xác định một cách đồng bộ các mục
tiêu cần đạt, các bước công việc phải tiến hành, các nguồn lực cần huy động để thực
hiện một ý đồ nào đó. Ví dụ: Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt
khó khăn vùng đồng bào dân tộc miền núi giai đoạn 2006 – 2010.
- Dự án: Tổng thể các hoạt động, các nguồn lực và các chi phí được bố trí chặt chẽ

+ Chính sách an ninh – quốc phòng;
+ Chính sách xóa đói – giảm nghèo;
+ Chính sách bảo vệ môi trường…
Các chính sách là công cụ đặc thù và không thể thiếu được mà Nhà nước sử
dụng để quản lý kinh tế vĩ mô. Chúng có chức năng chung là tạo ra những kích
24
thích đủ lớn cần thiết để biến đường lối, chiến lược của Đảng thành hiện thực, góp
phần thống nhất tư tưởng và hành động của mọi người trong xã hội, đẩy nhanh và
hữu hiệu sự tiến bộ của các hoạt động thuộc mục tiêu bộ phận mà chính sách nhằm
hướng tới và thực hiện các mục tiêu chung của phát triển kinh tế quốc dân.
Trong hệ thống các công cụ quản lý, các chính sách là bộ phận năng động
nhất, có độ nhạy cảm cao trước những biến động trong đời sống kinh tế - xã hội của
đất nước nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc mà xã hội đặt ra. Thực tiễn nước ta
và nhiều nước trên thế giới đều chứng tỏ: phần lớn những thành công trong công
cuộc đổi mới và cải cách kinh tế đểu bắt nguồn từ việc lựa chọn và áp dụng những
chính sách kinh tế thích hợp, có năng suất cao để khai thác tối ưu các lợi thế so sánh
của đất nước về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý, nguồn nhân lực, vốn, công nghệ,
thị trường, kết cấu hạ tầng.

1.2.4. Quản lý Nhà nƣớc đối với hoạt động của doanh nghiệp bán lẻ
Việc quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp bán lẻ là một bộ phận trong
việc quản lý Nhà nước đối với hệ thống phân phối. Mỗi nền kinh tế đều có các hệ
thống phân phối hàng hóa vĩ mô hoạt động rất phức tạp. Nhà nước có vai trò quản
lý vĩ mô phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển các hệ thống phân phối
hàng hóa hiện đại, hoạt động có hiệu quả cao. Nhà nước phải đảm bảo các điều kiện
về môi trường kinh doanh để các hệ thống phân phối hàng hóa hoạt động có hiệu
quả, bảo vệ các dòng chảy hàng hóa hợp pháp, hạn chế những dòng chảy hàng hóa
tiêu cực, bất hợp pháp. Đặc điểm của quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với các hệ
thống phân phối hàng hóa là không can thiệp trực tiếp vào hoạt động phân phối của
các doanh nghiệp và các hệ thống phân phối cụ thể mà chủ yếu là bằng các công cụ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status