khóa luận tốt nghiệp xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại việt nam thực trạng và giải pháp hoàn thiện - Pdf 13



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
***
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
XÂY DỰNG VĂN HOÁ DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Sinh viên thực hiện : Hoàng Ngọc Anh
Lớp : Anh 1
Khóa : 45
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung


I. Khái quát về Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam 29
1. Sự ra đời và phát triển của Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam 29 2. Các yếu tố ảnh hưởng tới Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam 31
2.1. Văn hóa dân tộc 31
2.2. Môi trường kinh doanh 37
II. Thực trạng xây dựng Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam 40
1. Nhận thức về Văn hóa doanh nghiệp của các doanh nghiệp Việt Nam 40
1.1. Nhận thức về khái niệm Văn hóa doanh nghiệp 41
1.2. Nhận thức về vai trò của Văn hóa doanh nghiệp 44
2. Thực trạng xây dựng Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam 47
2.1. Mục đích và triết lý kinh doanh 47
2.2. Trình độ nhận thức của lãnh đạo doanh nghiệp 50
2.3. Tác phong văn hóa của đội ngũ nhân viên 52
2.4. Tình hình tổ chức hoạt động của doanh nghiệp 53
2.5. Các giá trị bề nổi của Văn hóa doanh nghiệp 58
2.6. Hoạt động giao tiếp của doanh nghiệp đối với xã hội 61
3. Đánh giá thực trạng xây dựng Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam 65
3.1. Điểm mạnh 65
3.2. Điểm yếu 66
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI
KỲ HỘI NHẬP 69
I. Bài học kinh nghiệm từ một số mô hình Văn hóa doanh nghiệp thành công
trên thế giới và tại Việt Nam 69
1. Một số doanh nghiệp thành công trong xây dựng Văn hóa doanh nghiệp 69
1.1. Walt Disney 69
1.2. IBM (International Business Machines Corporation) 72
1.3. Tập đoàn Việt Á 74

Tên Trang
Hình 1.1: Các bộ phận cấu thành Văn hóa doanh nghiệp 11
Hình 1.2: Mô hình 11 bước xây dựng Văn hóa doanh nghiệp 23
Bảng 2.1: Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về khái niệm
Văn hóa doanh nghiệp (năm 2003) 41
Bảng 2.2: Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về khái niệm
Văn hóa doanh nghiệp (năm 2006) 43
Bảng 2.3: Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về vai trò của
Văn hóa doanh nghiệp (năm 2003) 45
Bảng 2.4: Nhận thức của các doanh nghiệp Việt Nam về vai trò của
Văn hóa doanh nghiệp (năm 2006) 46
Bảng 2.5: Kết quả khảo sát về mục đích kinh doanh của các
doanh nghiệp Việt Nam 48
Bảng 2.6: Các khó khăn của doanh nghiệp khi xây dựng
và phát triển thương hiệu 60

1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đã hơn ba năm kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150
của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, điều này đã mở ra cho Việt Nam cơ hội
lớn trong việc tiếp cận các thị trường mới, song cũng đem lại những thách thức
không nhỏ bởi lúc này mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp là vô cùng gay gắt.
Đại đa số các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay có quy mô vừa và nhỏ, số doanh
nghiệp được gọi là lớn có lẽ chỉ đếm được trên đầu ngón tay, trong đó những doanh
nghiệp có tầm cỡ quốc tế thì càng hiếm hoi. Vậy điều gì có thể đảm bảo cho sự tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp Việt Nam khi bước ra sân chơi lớn của thế giới?
Hơn bao giờ hết các doanh nghiệp hiểu rằng, muốn phát triển không chỉ cần quan
tâm đến lợi nhuận thể hiện qua kết quả kinh doanh, mà quan trọng hơn là làm thế

Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên, khóa luận được thực hiện dựa
trên phương pháp thu thập, tổng hợp và phân tích tài liệu; quan sát, nhận định và
khái quát bản chất của vấn đề. Dựa trên những thông tin thu thập được, khóa luận
nghiên cứu, nhận xét và xử lý thông tin, từ đó đánh giá vấn đề được nghiên cứu.
4. Phạm vi nghiên cứu
Khóa luận nghiên cứu tổng quát về tình hình xây dựng Văn hóa doanh
nghiệp Việt Nam thời kỳ hội nhập, đồng thời tìm hiểu một số tấm gương thành công
trong xây dựng Văn hóa doanh nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam.
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài lời mở đầu và kết luận, nội dung khóa luận được chia thành 3 chương,
bao gồm:
Chương 1: Tổng quan về Văn hóa doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng xây dựng Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện công tác xây dựng
Văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
3

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
I. Khái niệm Văn hóa doanh nghiệp
1. Khái niệm Văn hóa
Có thể nói những khái niệm như văn hóa gia đình, văn hóa ứng xử, văn hóa
tâm linh hay văn hóa làng được nhắc đến không ít trong cuộc sống hiện nay. Nhắc
đến nhiều nhưng không có nghĩa là người ta hiểu nhiều về Văn hóa, bởi những khái
niệm có phần trừu tượng từ trước đến giờ vẫn luôn là vấn đề tranh luận nóng hổi
trong xã hội. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn rằng, phải tìm hiểu về Văn hóa
trước thì chúng ta mới có thể hiểu thế nào là Văn hóa doanh nghiệp. Lịch sử phát
triển đã chứng minh Văn hoá là yếu tố quan trọng nhất để phân biệt dân tộc này với
dân tộc khác, cá thể này với cá thể khác, nhóm người này với nhóm người khác
Văn hoá khẳng định sự phát triển, thể hiện sức mạnh của xã hội và dân tộc mà nó
đại diện. Vai trò to lớn của Văn hóa đã được ghi nhận khắp nơi trên thế giới. Chẳng

kinh tế.
Các tài liệu nghiên cứu, sách vở, báo chí đã chỉ ra rất nhiều định nghĩa về
Văn hóa, đặc biệt phải kể đến ấn phẩm xuất bản năm 1952 “Văn hóa: Đánh giá một
cách toàn diện về các khái niệm và định nghĩa” được biên soạn bởi Alfred Kroeber
và Clyde Kluckhohn, cuốn sách đã trình bày 164 định nghĩa về Văn hóa. Chắc chắn
rằng đến thời điểm hiện tại, con số ấy hẳn phải lớn hơn nhiều. Vậy định nghĩa nào
về Văn hóa là phổ biến nhất, được thừa nhận nhiều nhất?
Khi nói đến Văn hóa, chắc chắn người ta sẽ nhắc ngay đến định nghĩa ngắn
gọn, xúc tích rất nổi tiếng của Édouard Herriot (1872 – 1957), một chính trị gia lỗi
lạc người Pháp: “Văn hóa là cái còn lại khi ta quên tất cả, là cái còn thiếu khi ta đã
học tất cả”. Như vậy Văn hóa là bản sắc của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc, mỗi quốc
gia không ai có thể dễ dàng quên được.Tuy nhiên định nghĩa này mới chỉ thể hiện
được tầm quan trọng và mức độ bao trùm của Văn hóa mà lại thiếu đi tính cụ thể.
Xét về mức độ cụ thể của Văn hóa thì hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu xã hội
học tán thành định nghĩa về Văn hóa của Tổng giám đốc UNESCO Federico
5

Mayor: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát và sống động mọi mặt
của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng
như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành một hệ thống
các giá trị, truyền thống thẩm mỹ và lối sống mà dựa vào đó từng dân tộc tự khẳng
định bản sắc riêng của mình”
1
.
Văn hóa là một vấn đề vừa trừu tượng vừa hữu hình, vừa có tính vững bền lại
không ngừng thay đổi. Thống nhất quan niệm về Văn hóa sẽ tạo điều kiện dễ dàng
hơn trong việc tiếp cận Văn hóa doanh nghiệp. Qua những tìm hiểu ở trên, có thể
rút ra một khái niệm về Văn hóa như sau: “Văn hóa là toàn bộ các giá trị vật chất
và giá trị tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình tồn tại và phát triển”.
2. Văn hóa, Văn hóa kinh doanh và Văn hóa doanh nghiệp

hiểu này có phần hạn hẹp, vì mặc dù doanh nghiệp là chủ thể chính của mọi hoạt
động kinh doanh, nhưng kinh doanh cũng là một hoạt động phổ biến, liên quan mật
thiết đến mọi thành viên trong xã hội. Nếu thiếu sự tham gia của các thành viên xã
hội khác, chẳng hạn sự quản lý của Nhà nước, sự hưởng ứng của người tiêu dùng…
thì hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp khó có thể thành công.
Xuất phát từ quan niệm “Kinh doanh là hoạt động liên quan đến mọi thành
viên trong xã hội”, một số nhà nghiên cứu khác lại coi Văn hóa kinh doanh là một
phạm trù ở tầm cỡ quốc gia, do đó Văn hóa doanh nghiệp chỉ là một bộ phận của
Văn hóa kinh doanh. Cách hiểu này ngày càng được chấp nhận rộng rãi trong xã
hội. Theo đó, Văn hóa kinh doanh thể hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc,
nó bao gồm các nhân tố rút ra từ Văn hóa dân tộc, được các thành viên trong xã hội
vận dụng vào hoạt động kinh doanh của mình (thói quen xem ngày giờ tốt của
người Trung Quốc ), và cả những giá trị triết lý mà các thành viên này tạo ra trong
quá trình kinh doanh (chẳng hạn như sự coi trọng thành công ở người Mỹ )
Cách hiểu thứ hai coi Văn hóa kinh doanh và Văn hóa doanh nghiệp là hai
khái niệm tách biệt, giúp chúng ta dễ dàng hơn trong việc tiếp cận Văn hóa doanh
nghiệp. Có thể nói Văn hóa doanh nghiệp là một phạm trù liên quan mật thiết tới
doanh nghiệp và Văn hóa kinh doanh của một nền kinh tế. Hay nói cách khác, Văn
hóa doanh nghiệp chính là sự thể hiện của Văn hóa kinh doanh ở mức độ công ty,
do đó cũng có thể coi nó là một bộ phận của Văn hóa kinh doanh.

7

3. Khái niệm Văn hóa doanh nghiệp
3.1. Văn hóa doanh nghiệp
Một đất nước sẽ không phát triển và dẫn đến suy vong nếu không bảo tồn
được nền văn hóa truyền thống dân tộc. Một gia đình sẽ không thể hạnh phúc và
hưng thịnh nếu không có gia phong - một lĩnh vực thuộc văn hóa gia đình. Cũng
như vậy, một doanh nghiệp sẽ không bảo vệ được sự nghiệp của mình nếu không có
một nền văn hóa đặc thù của ngành nghề gọi là Văn hóa doanh nghiệp.

nhiều các giá trị Văn hóa doanh nghiệp được thể hiện thông qua các nguyên tắc,
quy định có tính chất bắt buộc, nhưng một khi đã được chấp nhận rộng rãi thì chúng
lại trở thành những giá trị, chuẩn mực và nguyên tắc bất thành văn chi phối hành vi
của mọi thành viên trong doanh nghiệp. Khi đó, Văn hóa doanh nghiệp đóng vai trò
như một “hệ điều hành” có tác động điều chỉnh từ các hoạt động thường nhật, sự
phối hợp giữa các cá nhân, các bộ phận cho đến việc hoạch định cơ cấu tổ chức hay
lựa chọn chiến lược hoạt động của mỗi doanh nghiệp.
Cho đến nay chưa có một định nghĩa nào về Văn hóa doanh nghiệp được
chính thức công nhận, nhưng có một định nghĩa khá phổ biến là định nghĩa của
chuyên gia người Mỹ Edgar H. Schein: "Văn hóa doanh nghiệp là tổng thể những
thủ pháp và quy tắc mà các thành viên của doanh nghiệp thu nhận được trong quá
trình giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thống nhất bên trong doanh
nghiệp”
3
. Những quy tắc và thủ pháp này là yếu tố khởi nguồn trong việc các nhân
viên lựa chọn phương thức hành động, phân tích và ra quyết định thích hợp. Các
thành viên của doanh nghiệp không đắn đo suy nghĩ về ý nghĩa của những quy tắc
và thủ pháp ấy, mà coi chúng là đúng đắn ngay từ đầu.
Nói tóm lại, dù được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tại các thời điểm
khác nhau, nhưng có thể thống nhất một định nghĩa về Văn hóa doanh nghiệp như
sau: “Văn hóa doanh nghiệp chính là hệ thống các giá trị, quan niệm và nguyên tắc
hành vi được chia sẻ bên trong doanh nghiệp, chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và
cách thức hành động của các thành viên trong quá trình theo đuổi và thực hiện
những mục tiêu chung, tạo nên bản sắc riêng của mỗi doanh nghiệp”.
3.2. Nguồn gốc của Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp được hình thành từ ba nguồn chính: 3
Nguyễn Hoàng Ánh (2003), Giải pháp xây dựng Văn hóa doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập

nghiệp (kinh nghiệm có được khi xử lý những vấn đề chung bao gồm kinh nghiệm
về giao dịch với khách hàng hay kinh nghiệm khi ứng phó với sự thay đổi ); những
giá trị học hỏi được từ các doanh nghiệp khác (kết quả của quá trình nghiên cứu thị 4
Jim Collins and Jerry I. Porras (1997), Build to last, Curtis Brown Ltd.
10

trường và đối thủ cạnh tranh, của chương trình giao lưu giữa các doanh nghiệp );
các giá trị văn hóa được tiếp nhận trong quá trình giao lưu với nền văn hóa khác
(thông qua việc gửi nhân viên tham dự những khóa đào tạo ở nước ngoài) hay là
những xu hướng và trào lưu xã hội
c. Niềm tin và những giá trị của các thành viên mới và lãnh đạo mới
Không chỉ người sáng lập, nhân viên cũ mà thậm chí các nhân viên mới hay
nhà lãnh đạo mới cũng góp phần hình thành Văn hóa doanh nghiệp. Cấu trúc Văn
hóa doanh nghiệp bao gồm những thực thể hữu hình và những giá trị quan điểm,
nguyên tắc mang tính ổn định tương đối, vì thế bất cứ giá trị mong muốn nào mà
lãnh đạo mới muốn đưa vào đều là nguồn gốc làm nên Văn hóa doanh nghiệp.
3.3. Cấu trúc Văn hóa doanh nghiệp
Có nhiều cách để phân chia Văn hóa doanh nghiệp thành các yếu tố khác
nhau như vật thể, phi vật thể, các giá trị… Nhưng cách phân chia nổi tiếng và được
thừa nhận, áp dụng nhiều nhất là cách của Edgar H. Schein. Có thể dễ dàng bắt gặp
mô hình các lớp Văn hóa doanh nghiệp của ông trong rất nhiều công trình nghiên
cứu về Văn hóa doanh nghiệp. Ông có một cách tiếp cận độc đáo đi từ hiện tượng
đến bản chất của một nền văn hóa, giúp chúng ta có thể hiểu một cách đầy đủ và sâu
sắc những bộ phận cấu thành văn hóa đó. Ông đã chia Văn hóa doanh nghiệp thành
ba lớp, mà dựa vào đó ta có thể vẽ được một sơ đồ lớp cắt như sau.
11


chất của khách hàng và rất nhiều yếu tố khác. Việc tổ chức phòng ban một cách hợp
lý sẽ có ảnh hưởng tích cực tới tinh thần làm việc và trách nhiệm của tập thể cán bộ
công nhân viên đối với công ty.
- Các văn bản ấn định nguyên tắc hoạt động của doanh nghiệp: Tập hợp
các văn bản này có thể là các giấy tờ xác nhận quyền hoạt động kinh doanh, xác
định rõ lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, cũng có thể là văn bản
quy định và điều chỉnh hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp, quy định chế độ lao
động, khen thưởng hoặc kỷ luật đối với mọi thành viên trong công ty.
- Ngôn ngữ, trang phục, xe cộ, chức danh, cách biểu lộ cảm xúc, ứng xử
của đội ngũ nhân viên: Đây là những yếu tố thể hiện một cách trực tiếp tới khách
hàng về nền văn hóa trong nội bộ doanh nghiệp đó. Phong thái ứng xử, cách biểu lộ
cảm xúc của đội ngũ nhân viên đóng vai trò quan trọng trong việc dành cảm tình và
sự gắn bó lâu dài của khách hàng. Các yếu tố khác như ngôn ngữ, trang phục giúp
xây dựng hình tượng về mặt bằng văn hóa chung của doanh nghiệp đó.
- Những huyền thoại về doanh nghiệp: Những câu chuyện huyền thoại về
doanh nghiệp được lưu truyền qua các thế hệ thành viên bằng cách kể lại. Những
13

huyền thoại đó giúp xây dựng niềm tin trong lòng các thành viên vào sức mạnh của
doanh nghiệp.
- Lễ nghi, lễ kỷ niệm và lễ hội hàng năm: Đây là những hoạt động không
thể thiếu để bồi đắp niềm tin cho mọi người vào sức mạnh của doanh nghiệp. Các lễ
kỷ niệm sẽ làm tôn vinh những giá trị Văn hóa doanh nghiệp. Những sự kiện này
thường được tổ chức công khai và đều đặn hàng năm, có tác dụng nhắc nhở cho các
thành viên về truyền thống của doanh nghiệp.
b. Các giá trị được chấp nhận
Mục đích, chiến lược kinh doanh và triết lý kinh doanh của doanh nghiệp sẽ
định hướng cho mọi kế hoạch và hoạt động của tập thể nhân viên. Đó cũng chính là
những giá trị được tuyên bố rộng rãi ra công chúng và là một bộ phận của những giá
trị Văn hóa doanh nghiệp.

thành viên trong doanh nghiệp theo những mục tiêu cụ thể và chính xác. Ví dụ như
mục tiêu kinh doanh mà doanh nghiệp đề ra năm nay là đạt được doanh số gấp đôi
năm ngoái, khi đó các thành viên trong doanh nghiệp sẽ đề ra chiến lược kinh doanh
cụ thể để đạt được mục tiêu đó. Rồi trong quá trình hoạt động thực tế, trong từng
tình huống cụ thể, mỗi cá nhân trong doanh nghiệp sẽ có những cách đối phó và ứng
xử sao cho phù hợp với chiến lược kinh doanh đã đề ra.
c. Những quan niệm nền tảng
Những quan niệm nền tảng, hay cũng được gọi là giá trị cốt lõi, là tầng sâu
nhất của Văn hóa doanh nghiệp. Giá trị cốt lõi chính là những nguyên lý chủ chốt
và lâu dài, mang tính dẫn đường và bất biến mặc cho điều kiện thị trường có thay
đổi thế nào đi nữa. Đó chính là niềm tin, là nhận thức, là suy nghĩ được hình thành
và tồn tại trong một thời gian dài, trở thành mặc nhiên và ăn sâu vào tiềm thức của
mỗi thành viên; từ đó góp phần điều chỉnh hành vi của tất cả các thành viên trong
doanh nghiệp. Chẳng hạn, Bill Hewlett và David Packard (những nhà sáng lập tập
đoàn HP) có quan điểm tôn trọng cá nhân nhưng điều đó không xuất phát từ bất cứ
sách vở hay học thuyết nào, mà là niềm tin của chính bản thân họ. Hay như William
Procter và James Gamble (tập đoàn P&G) không chỉ xem “chất lượng tuyệt hảo”
đơn thuần là một chiến lược kinh doanh, mà họ coi đó là một tín điều thiêng liêng,
một giá trị cốt lõi trong hơn 150 năm lịch sử công ty.
Giá trị cốt lõi có thể được thể hiện bằng nhiều cách, song chúng luôn đơn
giản, rõ ràng, thẳng thắn và đầy sức mạnh. Ở Wal – Mart, Sam Walton đã nói về giá
trị cốt lõi của công ty mình như sau: “Chúng tôi đặt khách hàng lên trên hết. Nếu
15

bạn không phục vụ khách hàng hoặc hỗ trợ cho những ai phục vụ khách hàng, thì
bạn không phải là người chúng tôi cần”. Một trường hợp khác, James Gamble thì
phát biểu đơn giản và tao nhã về giá trị cốt lõi của công ty P&G là: “Nếu bạn không
làm ra được một sản phẩm có chất lượng tốt, hãy làm lại sản phẩm đó dù vất vả
đến thế nào đi nữa”. Mỗi doanh nghiệp nhìn chung chỉ có vài giá trị cốt lõi, bởi đây
là những giá trị hết sức cơ bản và ít khi thay đổi, giá trị cốt lõi luôn trường tồn qua

đồ ăn. Không những vậy, cách bố trí của quán ăn, đồng phục của nhân viên cùng
phong cách phục vụ cũng là nét văn hóa nổi bật của McDonald’s mà người tiêu
dùng không thể nhầm được với các hãng khác. Nhờ những đặc điểm đó, người tiêu
dùng có thể dễ dàng nhận biết thương hiệu McDonald’s và yên tâm với chất lượng
đồ ăn mua tại hãng.
1.2. Điều phối, kiểm soát và định hướng hành vi của các thành viên
Văn hóa doanh nghiệp tạo ra khuôn mẫu ứng xử, được thành viên chấp nhận
và tuân thủ, thể hiện sự hòa đồng bên trong doanh nghiệp nói chung, cũng như việc
ra quyết định trong những trường hợp cụ thể. Khuôn mẫu ứng xử ấy chính là những
chuẩn mực chung, những giá trị giúp biểu dương những hành vi tốt, lên án những
hành vi xấu, từ đó mọi người biết nên làm gì và không làm gì. Hay nói cách khác,
Văn hóa doanh nghiệp được coi là một công cụ điều tiết mềm (luật bất thành văn)
thông qua hệ thống giá trị, các chuẩn mực, truyền thống, tập tục…đã được gây dựng
và thừa nhận trong doanh nghiệp. Trong hoạt động quản lý, văn hóa cũng được coi
là công cụ kiểm soát cực kỳ hiệu quả vì nó tạo nên niềm tin và sự tự giác ở các
thành viên. Một hệ thống kiểm soát nội bộ chỉ có hiệu quả thực sự khi hướng con
người đến sự tự nguyện và tự giác trong hành động của họ. Chính những giá trị văn
hóa phù hợp và được tôn trọng sẽ tạo ra niềm tin và phần nào hạn chế một cách có
hiệu quả hành vi của các thành viên trong doanh nghiệp.
Bên cạnh chức năng kiểm soát hành vi của cá nhân, Văn hóa doanh nghiệp
còn có chức năng định hướng hành vi. Một khi những giá trị, quan niệm, mục tiêu
của tổ chức được các thành viên chấp nhận, họ sẽ hành động và quyết định trên cơ
sở những quan niệm, giá trị của tổ chức đó. Tất cả những quyết định đưa ra đều phải
17

phù hợp với những giả thuyết, nguyên tắc, giá trị của doanh nghiệp. Đây chính là sự
nhất quán trong hành vi mà không cần ban hành các quy định, văn bản hướng dẫn
nào. Văn hóa doanh nghiệp sẽ giúp ban lãnh đạo của tổ chức giảm nhu cầu trong
việc xây dựng các quy tắc định hướng hành vi của người lao động vì tất cả những
giá trị của doanh nghiệp đã ảnh hưởng sâu sắc tới nhận thức của nhân viên.

những doanh nghiệp có môi trường văn hóa mạnh mẽ sẽ nảy sinh sự tự lập đích
thực ở mức độ cao nhất, nghĩa là các nhân viên được khuyến khích đưa ra sáng
kiến, thậm chí cả nhân viên cấp cơ sở.
Chẳng hạn như những khóa học ngắn hạn, những lớp đào tạo do công ty tổ
chức nhằm nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên cũng là tiền đề tốt để xây
dựng một đội ngũ nhân viên lành nghề. Doanh nghiệp cũng có thể khích lệ tinh thần
sáng tạo cho nhân viên bằng cách tạo điều kiện cho họ tiếp cận với máy móc kỹ
thuật, phòng thí nghiệm và nguyên vật liệu… Một ví dụ có thể kể đến là niềm tin
của công ty Hewlette – Packard đặt vào nhân viên, niềm tin ấy được thể hiện trong
chính sách “để ngỏ nguyên vật liệu phòng thí nghiệm” của công ty. Nội dung của
chính sách là: chẳng những người kỹ sư được tự do sử dụng thiết bị ở phòng thí
nghiệm mà còn được khuyến khích đem nó về nhà dùng vào việc riêng của họ.
Quan niệm của công ty khi xây dựng chính sách này là: dù những gì mà các kỹ sư
đang làm với thiết bị có hay không có liên hệ trực tiếp với dự án họ đang tiến hành,
họ vẫn có cơ hội học hỏi thêm – và qua đó củng cố sự cam kết gắn bó của công ty
đối với quá trình đổi mới và sáng chế.
1.6. Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp đúng hướng sẽ đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh
nghiệp bởi nó tạo được sự thống nhất, giảm thiểu sự rủi ro, tăng cường phối hợp và
giám sát, thúc đẩy động cơ làm việc của mọi thành viên, tăng hiệu suất và hiệu quả
của doanh nghiệp. Từ đó nó có thể làm tăng sức cạnh tranh và khả năng thành công
của doanh nghiệp trên thị trường. Điều đó có thể được chứng minh ngay trong thực
tiễn hiện nay, không ít doanh nghiệp cạnh tranh nhau bằng nguồn lực nhân sự, hay
nói cách khác, nhân lực liên quan đến vấn đề sống còn của doanh nghiệp trong cuộc
chạy đua trên thương trường, vì nó tạo ra “năng lực khác biệt” cho doanh nghiệp.
19

Trong khi đó, Văn hóa doanh nghiệp chính là sợi dây gắn kết và thúc đẩy động cơ
làm việc của mọi nhân viên trong tổ chức. Có thể nói, một doanh nghiệp thành công
trong xây dựng Văn hóa doanh nghiệp thì chắc chắn sẽ đủ sức đối đầu và chiến

thắng trên thương trường. Tuy nhiên, đà phát triển của doanh nghiệp có thể bị bẻ
gãy nếu như những giá trị Văn hóa doanh nghiệp không còn phù hợp. Vậy các
doanh nghiệp phải làm thế nào để có một nền Văn hóa vừa gìn giữ được giá trị cốt
lõi, lại vừa vận động không ngừng để luôn thích ứng với môi trường xung quanh?
Hiện nay vẫn còn không ít cấp lãnh đạo, không ít doanh nghiệp và doanh
nhân chưa nhận thức được vai trò, động lực của Văn hoá trong phát triển kinh tế,
thậm chí còn coi xây dựng Văn hoá doanh nghiệp là vấn đề viển vông, nằm ngoài
quá trình sản xuất, kinh doanh. Do vậy, chú ý đến xây dựng và phát huy Văn hoá
doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay vừa là sự cần thiết vừa là đòi
hỏi, đồng thời cũng là sứ mạng thực hiện của mỗi doanh nghiệp Việt Nam. Nhà
nước luôn ủng hộ, công chúng nhân dân cũng luôn luôn ủng hộ những doanh nghiệp
biết gìn giữ và chăm lo xây dựng Văn hoá doanh nghiệp. Diện mạo của những
doanh nghiệp có văn hoá sẽ làm gia tăng hình ảnh đẹp cho đất nước trên con đường
hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới.
IV. Nội dung xây dựng Văn hóa doanh nghiệp
1. Một số quan điểm chủ đạo khi xây dựng Văn hóa doanh nghiệp
Văn hóa doanh nghiệp là nền tảng cho sự phát triển của doanh nghiệp, nó
vừa có tính lịch sử, vừa được duy trì, kế thừa và trường tồn qua nhiều thế hệ thành
viên. Đó là tài sản tinh thần, chất keo kết dính các thành viên lại với nhau. Vì vậy
doanh nghiệp nào biết chú trọng xây dựng Văn hóa doanh nghiệp thì doanh nghiệp
ấy chắc chắn sẽ phát triển bền vững. Trong quá trình xây dựng và phát triển Văn
hóa doanh nghiệp, cần nhận thức rõ ràng về một số quan điểm cơ bản như sau.
Quan điểm 1: Lãnh đạo (nhà sáng lập) doanh nghiệp đóng vai trò quyết định
trong việc xây dựng Văn hóa doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp chỉ có thể được
tạo lập khi người lãnh đạo doanh nghiệp có đủ sức, đủ tài để sáng tạo ra hệ thống
giá trị, xác lập ý nghĩa hoạt động của doanh nghiệp. Họ phải là người khởi xướng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status